Phân tích tình trạng vốn và đề xuất các giải pháp huy động vốn tại Công ty Cổ phần In Hà Nội - Pdf 26

Chuyên đề thực tập Phạm Thị Ngọc_TCDN K11
LỜI CẢM ƠN
Trước tiên em xin gửi lời cảm ơn chân thành tới cô giáo hướng dẫn trực
tiếp Tiến sĩ Nguyễn Thị Bất đã chỉ bảo và hướng dẫn em tận tình trong quá
trình em nghiên cứu và hoàn thành báo cáo.
Qua đây em xin gửi lời cảm ơn tới toàn bộ thầy, cô trong trường đã
trang bị cho em một kiến thức tổng quát suốt quá trình học tại trường để em
có thể hoàn thành bài báo cáo này.
Em xin chân thành cảm ơn ban lãnh đạo cùng toàn thể cán bộ công
nhân viên trong Công ty Cổ phần In Hà Nội, đặc biệt là phòng tài chính kế
toán đã giúp đỡ em tạo điều kiện thuận lợ cho em hoàn thành báo cáo tốt
nghiệp của mình.
Xin chân thành cảm ơn toàn thể các bạn trong lớp và ngoài lớp đã động
viên đóng góp ý kiến xây dựng đề tài.
Sinh viên
Phạm thị ngọc
Giảng viên hướng dẫn: Nguyễn Thị Bất 1
Chuyên đề thực tập Phạm Thị Ngọc_TCDN K11
MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN 1
DANH MỤC BẢNG BIỂU, SƠ ĐỒ 3
LỜI MỞ ĐẦU 4
CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ VỐN VÀ PHƯƠNG PHÁP HUY ĐỘNG VỐN TRONG DOANH NGHIỆP 6
1.2.1. Căn cứ vai trò và đặc điểm chu chuyển giá trị của vốn 7
1.2.2 Căn cứ vào nguồn hình thành 9
1.4.1.Huy động từ vốn chủ sở hữu 13
1.4.2.Huy động nợ 16
1.5.1. Quy mô của doanh nghiệp 19
1.5.2. Lĩnh vực hoạt động của doanh nghiệp 21
1.5.3. Hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp 22
1.5.4. Uy tín của doanh nghiệp 23

Bảng 2: Tổng hợp nguồn vốn theo thời gian
Bảng 3: Bảng cân đối kế toán 3 năm gần đây ( 2008 – 2010 )
Giảng viên hướng dẫn: Nguyễn Thị Bất 3
Chuyên đề thực tập Phạm Thị Ngọc_TCDN K11
LỜI MỞ ĐẦU
Từ khi gia nhập vào tổ chức WTO nền kinh tế nước ta đã có những thay đổi
đáng kể: sự đa dạng hóa về loại kình doanh nghiệp, mặt hàng kinh doanh, xuất xứ,
mẫu mã Tài chính doanh nghiệp ngày càng phát triển và khẳng định vị thế và tầm
quan trọng của nó trong mỗi doanh nghiệp nói riêng cũng như trong nền kinh tế nói
chung. Tuy nhiên mặt hạn chế của việc gia nhập tổ chức WTO đã làm cho các
doanh nghiệp trong nước gặp rất nhiều khó khăn. Cùng với sự khủng hoảng tài
chính Mỹ ào cuối năm 2008 đã làm ảnh hưởng rất nhiều đến các quốc gia trên thế
giới trong đó có nước ta. Dù cho đây không phải là nguyên nhân duy nhất dẫn đến
sự khủng hoảng kinh tế Việt Nam sau đó nhất là thị trường chứng khoán Việt Nam
những năm 2009. 2010 khá ảm đạm, nhưng đối mặt với sức nóng của nền kinh tế
mỗi doanh nghiệp cũng cần phải đưa ra phương hướng chiến lược cho sự phát triển
của mình. Và một trong những yếu tố hàng đầu và cũng là yếu tố đi cùng trong suốt
quãng đường phát triển và tồn tại của doanh nghiệp là vốn thì cần phải được chú ý.
Mỗi doanh nghiệp cần xác định rằng vốn là yếu tố không thể thiếu nếu muốn sản
xuất kinh doanh bất kì một loại sản phẩm, dịch vụ nào. Tuy nhiên, không phải cứ
doanh nghiệp có vốn lớn thì đã mạnh và cừ có ít vốn thì doanh nghiệp đó là yếu.
Quan trọng là doanh nghiệp đó cân đối vốn như thế nào? Sử dụng vốn ra sao? Có
đem lại hiệu quả không? Thiếu vốn thì có thể huy động từ đâu, bằng cách nào và
cách nào là an toàn nhất? Các công ty hay các chi nhánh nước ngoài tại Việt Nam
thường có ưu điểm là vốn lớn và công nghệ hiện đại, đây đều là những yếu tố mà
Giảng viên hướng dẫn: Nguyễn Thị Bất 4
Chuyên đề thực tập Phạm Thị Ngọc_TCDN K11
doanh nghiệp trong nước đang cần nhưng lại thiếu. Điều này khiến cho các doanh
nghiệp trong nước khó cạnh tranh với các doanh nghiệp nước ngoài trong cùng
một nghành nghề. Qua đây cũng là lời cảnh báo cho các doanh nghiệp trong nước

dùng tồn tại trong lưu thông dưới hình thức mua bán trao đổi các vật phẩm
tiêu dùng nên không được gọi là vốn. Những hàng hóa được sử dụng cho
tiêu dùng cá nhân cũng không phải là vốn. Như vậy, chỉ có những đồng tiền
đi vào sản xuất kinh doan h địa diện cho hàng hóa mới là tài sản của nền
kinh tế quốc dân tham gia vào quá tình sản xuất kinh doanh và sản sinh ra
giá trị mới được gọi là vốn. Nói cách khác, vốn được biểu hiện bằng tiền
nhưng phải là tiền vận động với mục đích sinh lời.
Giảng viên hướng dẫn: Nguyễn Thị Bất 6
Chuyên đề thực tập Phạm Thị Ngọc_TCDN K11
Vốn trong hoạt động của doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường hiện
nay không chỉ bao gồm giá trị của tiền nói chung mà vốn ở đây còn bao gồm
cả vật chất như nhà xưởng, máy móc thiết bị, nguyên vật liệu Nếu hiểu
theo nghĩa rộng hơn thì vốn ở đây còn có thể bao gồm cả vốn con người theo
đó thì vai trò của con người ngày càng trở lên quan trọng đặc biệt là khi
chúng ta sắp bước tới nền kinh tế tri thức một nền kinh tế phát triển thì theo
đó chất xám con người là một nguồn vốn vô cùng quan trọng và quý giá
nhiều khi vốn bằng tiền tệ cũng chưa sánh được so với nguồn vốn con
người, vốn tri thức.
Nhưng trong đề tài này thì chỉ đi vào tìm hiểu phân tích về vốn theo
nghĩa hẹp là vốn tiền tệ và vật chất. Vì vậy hiểu theo nghĩa hẹp một cách đơn
giản nhất thì vốn là toàn bộ giá trị của tiền và vật chất được ứng ra ban đầu
và quá trình tiếp theo để phục vụ cho quá trình sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp.
1.2 Phân loại
Với nhứng tiêu thức và mục đích cụ thể thì có các cách phân loại vốn
khác nhau. Có thể căn cứ vào nguồn huy động vốn của doanh nghiệp mà
người ta phân loại vốn của doanh nghiệp thành hai loại vốn chủ sở hữu và
vốn vay. Mỗi tiêu thức, mỗi mục đích khác nhau thì lại có những cách phân
loại phù hợp.
1.2.1. Căn cứ vai trò và đặc điểm chu chuyển giá trị của vốn

được liên tục thì doanh nghiệp phải đầu tư đủ vốn vào các công đoạn khác
Giảng viên hướng dẫn: Nguyễn Thị Bất 8
Chuyên đề thực tập Phạm Thị Ngọc_TCDN K11
nhau của quá trình đó, và việc đầu tư này phải hợp lý, đồng bộ. Nếu doanh
nghiệp không có đủ vốn để đầu tư thì quá trình sản xuất sẽ gặp trở ngại và bị
gián đoạn. Vì vậy, vốn lưu động cũng có vai trò quan trọng đối với quá trình
sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
1.2.2 Căn cứ vào nguồn hình thành
* Nguồn vốn chủ sở hữu
Vốn chủ sở hữu là lượng vốn mà chủ doanh nghiệp bỏ ra trong quá
trình hình thành doanh nghiệp và được tích lũy dần trong quá trình hoạt
động sản xuất kinh doanh mà thuộc quyền sở hữu và sử dụng của doanh
nghiệp. Vốn chủ sở hữu này được dùng để phục vụ cho quá trình sản xuất
kinh doanh của doanh nghiệp. Đây là phần vốn thuộc quyền sở hữu của chủ
sở hữu doanh nghiệp, bao gồm: vốn điều lệ do chủ sở hữu đầu tư, vốn tự bổ
sung từ lợi nhuận và từ các quỹ của doanh nghiệp, vốn từ phát hành cổ phiếu
mới. Nguồn vốn chủ sở hữu liên quan mật thiết tới hình thức sở hữu doanh
nghiệp. Hình thức sở hữu quyết định tính chất và hình thức tạo vốn của
doanh nghiệp.
Doanh nghiệp tư nhân vốn góp ban đầu và lợi nhuận để lại là chủ yếu,
nhất là doanh nghiệp tư nhân nhỏ chưa có điều kiện huy động từ các kênh
khác nên chưa nhiều nguồn vốn.
Doanh nghiệp nhà nước vốn góp ban đầu rất lớn. Trong quá trình hoạt
động nguồn vốn vay của tổ chức tín dụng được huy động là chủ yếu.
Doanh nghiệp cổ phần có ưu thế phát hành cổ phiếu, huy động khối
lượng vốn lớn.
* Nguồn vốn vay
Giảng viên hướng dẫn: Nguyễn Thị Bất 9
Chuyên đề thực tập Phạm Thị Ngọc_TCDN K11
Vốn đi vay là lượng vốn mà doanh nghiệp đi vay từ bên ngoài để phục

cho hoạt động sản xuất kinh doanh. Việc phân loại này giúp nhà quản lý
doanh nghiệp biết được khả năng tự chủ về tài chính của doanh nghiệp, từ
đó có các biên pháp để khai thác và sử dụng có hiệu quả nguồn vốn của
doanh nghiệp.
1.3 Vai trò của vốn đối với các doanh nghiệp
Mỗi doanh nghiệp khi muốn thành lập thì điều kiện đầu tiên là doanh
nghiệp đó phải có một lượng vốn nhất định, lượng vốn đó tối thiểu phải
bằng lượng vốn pháp định (lượng vốn tối thiểu mà pháp luật quy định cho
từng loại hình doanh nghiệp). Vốn có thể được xem là một trong những cơ
sở quan trọng nhất để đảm bảo sự tồn tại tư cách pháp lý của một doanh
nghiệp trước pháp luật. Trong một số lĩnh vực kinh doanh cần vốn pháp định
như kinh doanh về ngân hàng tài chính, chứng khoán, bảo hiểm, kinh doanh
vàng bạc. Có thể nói vốn đối với từng doanh nghiệp là tất quan trọng nó
quyết định đến sự hoạt động suôn sẻ của doanh nghiệp. Mặc dù để doanh
nghiệp có thể hoạt động một cách suôn sẻ thì cần phải có nhiều yếu tố cùng
tham gia vào trong đó vốn là quan trọng, nó được coi như là máu đối với
mỗi doanh nghiệp, vì chỉ khi có vốn doanh nghiệp mới có thể tiến hành hoạt
động sản xuất kinh doanh được. Có vốn thì doanh nghiệp mới có thể ký kết ,
thực hiện các hợp đồng kinh doanh liên kết, có vốn thì doanh nghiệp mới có
thể mua sắm trang thiết bị, thay thế các trang thiết bị cũ, đổi mới công nghệ
sản xuất, trả lương cho công nhân
Bất kỳ một doanh nghiệp nào muốn tăng trưởng và phát triển đều cần
có vốn. Vốn là yếu tố quan trọng hàng đầu trong chiến lược phát triển của
Giảng viên hướng dẫn: Nguyễn Thị Bất 11
Chuyên đề thực tập Phạm Thị Ngọc_TCDN K11
doanh nghiệp, quyết định sự tồn tại và phát triển của từng doanh nghiệp.
Một doanh nghiệp muốn đứng vững trên thị trường thì doanh nghiệp đó phải
có một lượng vốn nhất định, lượng vốn đó không những đảm bảo cho hoạt
động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp diễn ra liên tục mà còn phải
dùng để cải tiến máy móc thiết bị, hiện đại hoá công nghệ. Vì vậy, vấn đề

chiến lược marketing của mình như đầu tư nghiên cứu thị trường, quảng
cáo. Đó là một trong nét mới mà các doanh nghiệp hiện nay bắt đầu chú
trọng để nâng cao khả năng cạnh tranh, góp phần vào sự lớn mạnh của
doanh nghiệp.
Trên đây là một số vai trò cơ bản của vốn đối với các doanh nghiệp
trong hoạt động sản xuất kinh doanh nói chung trong nền kinh tế thị trường.
Nhận thức được vai tò của vốn thì các doanh nghiệp mới có thể sử dụng vốn
một cách có hiệu quả và tiết kiệm hơn.
1.4 Các hình thức huy động vốn
Cơ cấu vốn của mỗi doanh nghiệp khác nhau sẽ khác nhau ở tỉ lệ nhân tố
cấu thành. Mục tiêu cơ cấu vốn có thể thay đổi theo thời gian khi điều kiện
thay đổi, nhưng ỏ tất cả thời điểm nhà quản lý đều cần đưa ra cơ cấu vốn
thích hợp và những quyết định tài trợ phải phù hợp với mục tiêu này. Sử
dụng nhiều nợ hay là tăng cường vốn chủ sở hữu thông qua phát hành trái
phiếu. Đó là câu hỏi mà doanh nghiệp phải trả lời
1.4.1.Huy động từ vốn chủ sở hữu
Đối với mỗi loại hình doanh nghiệp, vốn chủ sở hữu bao gồm các bộ
phận chủ yếu sau:
Giảng viên hướng dẫn: Nguyễn Thị Bất 13
Chuyên đề thực tập Phạm Thị Ngọc_TCDN K11
Vốn góp ban đầu
Lợi nhuận không chia
Tăng vốn bằng cách phát hành cổ phiếu mới
• Vốn góp ban đầu
Khi thành lập doanh nghiệp, các chủ doanh nghiệp cần có một số vốn
nhất định là vốn góp các chủ sở hữu. Khi nói đến nguồn vốn chủ sở hữu ta
cần xem xét hình thức sở hữu doanh nghiệp đó. Hình thức sở hữu sẽ quyết
định tính chất và hình thức tạo vốn của doanh nghiệp. Chẳng hạn đối với
công ty cổ phần, vốn do các cổ đông đóng góp là nguồn vốn chủ yếu. Mỗi cổ
đông chỉ chịu trách nhiệm hữu hạn với phần vốn góp của mình .

giá cổ phiếu tăng liên tục chứng tỏ nhà đầu tư kì vọng lớn đối với doanh
nghiệp, tình hình kinh doanh của doanh nghiệp rất tốt.
Người nắm giữ cổ phiếu gọi là cổ đông. Cổ đông là người sở hữu
công ty và có quyền tham gia kiểm soát điều hành hoạt động của công ty.
Huy động từ cổ phiếu thường có ưu điểm là khối lượng vốn huy
động lớn. Cán bộ công nhân viên công ty khi có cổ phiếu họ sẽ lao động
tích cực hơn vì lợi ích của công ty là lợi ích của họ. Cổ đông có quyền
giám sát họat động của công ty thông qua đại diện là ban kiểm soát vì
vậy hoạt động của công ty sẽ hiệu quả hơn.Tuy vậy ngoài những điều
kiện cần thiết để phát hành cổ phiếu như số vốn điều lệ từ 10 tỷ đồng và
phải kinh doanh hiệu quả có lãi trong 2 năm liên tiếp, khi đã phát hành
cổ phiếu rồi các doanh nghiệp cũng cần phải thận trọng trước sự biến
động giá cả cổ phiếu doanh nghiệp mình.
Giảng viên hướng dẫn: Nguyễn Thị Bất 15
Chuyên đề thực tập Phạm Thị Ngọc_TCDN K11
• Cổ phiếu ưu tiên
Bên cạnh phát hành cổ phiếu thường , các doanh nghiệp có thể phát
hành cổ phiếu ưu tiên. Cổ phiếu ưu tiên có đặc điểm là cổ tức cố định.
Người sở hữu cổ phiếu này có quyền thanh toán lãi trước các cổ đông
thường.Việc chi trả cho cổ đông thường chỉ sau khi đã chi trả hết cho cổ
đông năm giữ cổ phiếu ưu tiên. Những ưu thế của cổ phiếu ưu tiên đó bên
cạnh đó là cổ đông không có quyền biểu quyết trong công ty.
Nhà quản lý doanh nghiệp cần xem xét khi quyết định có huy động
vốn từ cổ tức ưu tiên không đó là thuế. Khác với chi phí lãi vay được khấu
trừ thuế thu nhập công ty,cổ tức lấy từ lợi nhuận sau thuế . Đó là hạn chế của
cổ tức ưu tiên
1.4.2.Huy động nợ
• Vay của tổ chức tín dụng
Các tổ chức tín dụng ngày càng đóng vai trò quan trọng như mạch
máu lưu thông trong nền kinh tế bằng việc dẫn chuyển vốn.Vay vốn ngân

lãi suất huy động lớn tơi 20 % một năm một số doanh nghiệp không dám
vay của các tổ chức tín dụng, tình hình tài chính không tốt dẫn đến đình trệ
sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp lâm vào tình trạng khó khăn nếu không
có nguồn vốn khác.
• Tín dụng thương mại
Bên cạnh nguồn vốn tín dụng ngân hàng , các doanh nghiệp ngày
càng khai thác triệt để nguồn vốn tín dụng thương mại. Nguồn vốn này hình
thành một cách tự nhiên trong quá trình mua bán hàng hoá, dịch vụ. Đối với
Giảng viên hướng dẫn: Nguyễn Thị Bất 17
Chuyên đề thực tập Phạm Thị Ngọc_TCDN K11
doanh nghiệp, tài trợ bằng nguồn tín dụng thương mại là một phương thức
tài trợ rẻ, linh hoạt, hơn nữa, tạo điều kiện mở rộng các quan hệ hợp tác kinh
doanh
• Phát hành trái phiếu
Phát hành trái phiếu là một hình thức vay nợ dài hạn và trung hạn.
Một doanh nghiệp muốn phát hành trái phiếu cần có uy tín vững mạnh để
nhà đầu tư có thể tin tưởng. Trái phiếu bao gồm trái phiếu có lãi suất cố
định, trái phiếu có lãi suất thay đổi, trái phiếu có thể thu hồi và trái phiếu
chuyển đổi
Trái phiếu có lãi suất cố đinh thường được sử dụng nhiều nhất. Tính
hấp dẫn phụ thuộc vào lãi suất của trái phiếu trong mối tương quan với lãi
suất trên thị trường vốn, đặc biệt phải tính đến sự cạnh tranh với trái phiếu
công ty khác và trái phiếu của chính phủ , một loại trái phiếu an toàn cao.
Lãi suất cao hấp dẫn nhà đầu tư nhưng chi phí trả lãi cao. Khi phát hành trái
phiếu này các công ty cần cân nhắc giữa những yếu tố trên. Kì hạn của trái
phiếu là yếu tố quan trọng không chỉ đối với doanh nghiệp mà với cả nhà
đầu tư.Với nhà đầu tư , kì hạn càng dài, rủi ro càng lớn nên lợi tức kì vọng
càng cao
Trái phiếu có lãi suất thay đổi thích hợp trong điều kiện nền kinh tế
không ổn định, lạm phát cao, lãi suất trên thị trường thường xuyên thay đổi.

cho những hoạt động đầu tư của mình nhưng trái lại với các công ty vừa và
nhỏ thì việc vay tín dụng ngân hàng một khối lượng vốn lớn là không dễ
Giảng viên hướng dẫn: Nguyễn Thị Bất 19
Chuyên đề thực tập Phạm Thị Ngọc_TCDN K11
dàng khi mà giá trị tài sản mà công ty có chưa nhiều nên chưa thể tạo được
lòng tin đối với ngân hàng để cho vay.
Một điểm mạnh nữa của những doanh nghiệp có quy mô lớn là doanh
nghiệp có quy mô vốn lớn thì thường hoạt động trong nhiều lĩnh vực, hoạt
động lâu trên thị trường nên c ó được lòng tin của khách hàng và các đối
tác nên họ có thể tiến hành vay tín dụng thương mại từ các đối tác cũng trở
lên dễ dàng. Họ có thể thoả thuận với bên đối tác kể cả bên cung cấp và bên
phân phối cho vay những khoản vay tín dụng thương mại một cách dễ dàng
hơn điều đó sẽ tạo lợi thế cho họ trong việc huy động vốn.
Một doanh nghiệp có quy mô vốn lớn cũng có thuận lợi hơn các công
ty vừa và nhỏ khác trong việc vay vốn từ kênh huy động vốn phát hành cổ
phiếu hay trái phiếu. Vì muốn phát hành cổ phiếu hay trái phiếu ra thị trường
thì điều đầu tiên cần phải đáp ứng được là quy mô vốn của doanh nghiệp
phải đủ lớn để có thể phát hành trái phiếu nhằm đảm bảo khả năng trả nợ của
doanh nghiệp. Khi mà doanh nghiệp có quy mô lớn thì cũng đảm bảo lòng
tin đối với những nhà đầu tư khi mà các công ty lớn định phát hành trái
phiếu, rõ ràng khi phải lựa chọn giữa hai loại trái phiếu thứ nhất là của một
công ty vừa và nhỏ và một bên là của một công ty lớn thì chúng ta thường có
xu hướng chọn trái phiếu của doanh nghiệp có quy mô lớn tất nhiên sự lựa
chọn này còn phụ thuộc vào các yếu tố khác như là uy tín của doanh nghiệp,
hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp, lĩnh vực hoạt động của doanh
nghiệp… Với doanh nghiệp có quy mô vốn lớn thì nguồn quỹ dự phòng mà
công ty có chắc chắn cũng sẽ lớn điều đó thuận lợi cho doanh nghiệp khi
muốn huy động vốn từ nguồn này khi mà doanh nghiệp thiếu vốn họ có thể
tạm thời dùng nguồn vốn của quỹ dự phòng này để bù đắp vào chỗ thiếu và
đến cuối kỳ sẽ hoàn trả vào.

tín dụng thương mại của doanh nghiệp.
1.5.3. Hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Khi mà doanh nghiệp đang hoạt động tốt, hiệu quả sản xuất kinh
doanh cao thì khả năng huy động vốn của doanh nghiệp sẽ thuận lợi hơn rất
nhiều đối với những doanh nghiệp làm ăn đình đốn. Khi mà doanh nghiệp
hoạt động sản xuất kinh doanh đạt hiệu quả điều đó đồng nghĩa với việc
vòng quay của vốn được rút ngắn, vốn không bị ứ đọng làm cho vốn liên tục
được đầu tư tiếp tục làm tăng giá trị đồng vốn. Hiệu quả sản xuất kinh doanh
cũng đồng nghĩa với việc doanh thu và lợi nhuân của công ty sẽ lớn làm cho
phần lợi nhuận để lại của công ty lớn thì sẽ tạo được nhiều tích luỹ hơn cho
doanh nghiệp, tạo lên số lượng vốn chủ sở hữu được gia tăng.
Hiệu quả sản xuất kinh doanh càng cao thì uy tín của doanh nghiệp
càng lớn càng thu hút được nhiều nhà đầu tư quan tâm, chú ý. Từ đó công ty
sẽ dễ dàng hơn khi mà kêu gọi các nhà đầu tư vào doanh nghiệp. Khi hiệu
quả sản xuất kinh doanh cao thì việc đi vay tín dụng ngân hàng và vay tín
dụng thương mại cũng trở lên dễ dàng hơn vì khi sản xuất kinh doanh đạt
hiệu quả cao tạo được lòng tin đối với những nhà cho vay từ đó mà dễ dàng
huy động vốn vào để đầu tư vào những dự án kinh doanh của mình. Trái lại
khi mà sản xuất kinh doanh không đạt hiệu quả, vốn bị ứ đọng không lưu
thông được thì doanh nghiệp khó có khả năng huy động vốn lớn vì không
thu hút được sự quan tâm của những nhà đầu tư, không tạo được niềm tin về
khả năng thanh toán tới những nhà cho vay nên sẽ khó khăn hơn khi đi vay.
Giảng viên hướng dẫn: Nguyễn Thị Bất 22
Chuyên đề thực tập Phạm Thị Ngọc_TCDN K11
1.5.4. Uy tín của doanh nghiệp.
Uy tín của doanh nghiệp cũng là một nhân tố quan trọng ảnh hưởng
tới khả năng huy động vốn của doanh nghiệp. Rõ ràng khi mà doanh nghiệp
có được uy tín trên thị trường tạo được niềm tin đối với khách hàng và đối
tác, các nhà đầu tư thì doanh nghiệp sẽ dễ dàng hơn khi thu hút đầu tư thu
hút vốn. Uy tín của doanh nghiệp nhiều khi còn quan trọng hơn cả hiệu quả

doanh nghiệp phát triển sẽ tạo điều kiện cho các doanh nghiệp dễ dàng tiếp
cận thị trường vốn. Vì rõ ràng dù doanh nghiệp có quy mô vốn lớn hay nhỏ,
hoạt động trong lĩnh vực kinh doanh nào… thì đều hoạt động trong khuôn
khổ cơ chế chính sách của nhà nước vì vậy mà cơ chế chính sách của nhà
nước là yếu tố rất quan trọng giúp cho doanh nghiệp có thể phát triển được
hay không. Mỗi một cơ chế chính sách mà nhà nước đưa ra đều có ảnh
hưởng nhất định tới doanh nghiệp.
Khi mà chính sách đó đưa ra hợp lý, phù hợp với thị trường, phù hợp
với tiến trình phát triển thì sẽ tạo điều kiện cho doanh nghiệp phát triển,
khuyến khích được các doanh nghiệp phát triển. Đặc biệt là những chính
sách về thị trường tài chính và tiền tệ, chính sách về thuế thu nhập doanh
nghiệp… nó sẽ ảnh hưởng rất nhiều tới doanh nghiệp, khi mà chính sách này
phù hợp nó sẽ khuyến khích được doanh nghiệp phát triển, tạo điều kiện
thuận lợi cho doanh nghiệp có thể huy động vốn để đáp ứng nhu cầu phát
triển của doanh nghiệp.
Giảng viên hướng dẫn: Nguyễn Thị Bất 24
Chuyên đề thực tập Phạm Thị Ngọc_TCDN K11
Nhưng khi những chính sách này đưa ra không phù hợp, hạn chế thị
trường, hạn chế khả năng phát triển của doanh nghiệp thì nó sẽ làm cho
doanh nghiệp không thể phát triển được khiến cho khả năng huy động vốn
của doanh nghiệp bị hạn chế, doanh nghiệp không thể phát triển được.
Nói tóm lại có rất nhiều nhân tố ảnh hưởng tới khả năng huy động vốn
của doanh nghiệp. Nó có thể là nhân tố khách quan hay chủ quan nhưng cho
dù nó là từ phía nào thì tuỳ vào từng điều kiện cụ thể mà có tác động khác
nhau tới khả năng huy động vốn của doanh nghiệp, có thể nó tạo thuận lợi
trong lúc này nhưng lại gây khó khăn trong lúc khác vấn đề là doanh nghiệp
phải tìm cách thích nghi với từng điều kiện nhất định, tận dụng những thuận
lợi mà các nhân tố này mang lại vào doanh nghiệp, tuỳ thuộc vào điều kiện
của doanh nghiệp mà có giải pháp huy động vốn cho hiệu quả.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status