Luận văn Ths NGHIÊN CỨU ĐỀ XUẤT CÁC GIẢI PHÁP THI CÔNG HỢP LÝ CÔNG TRÌNH NÂNG CẤP ĐÊ BIỂN KIÊN GIANG - Pdf 22

- 1 -
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦY LỢI

ĐỖ THÚY PHƯƠNG
NGHIÊN CỨU ĐỀ XUẤT CÁC GIẢI PHÁP THI CÔNG
HỢP LÝ CÔNG TRÌNH NÂNG CẤP ĐÊ BIỂN KIÊN
GIANG
(ĐOẠN THUỘC HUYỆN AN BIÊN – AN MINH)
LUẬN VĂN THẠC SĨ KỸ THUẬT
Chuyên ngành : Xây dựng công trình thủy
Mã số : 60 – 58 – 40
Người hướng dẫn khoa học:
PGS.TS: TRỊNH CÔNG VẤN
TP.HCM - 2010
- 2 -
MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 7
1.Tính cấp thiết của đề tài 7
2.Mục đích nghiên cứu của đề tài 8
3.Nhiệm vụ nghiên cứu đề tài 8
4.Phạm vi nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu 8
5.Kết quả dự kiến đạt được 9
CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ ĐÊ BIỂN TRONG NƯỚC 10
VÀ TRÊN THẾ GIỚI 10
1.1.Tổng quan về tình hình xây dựng đê biển 10
1.2.Tình hình xây dựng đê biển trên thế giới 10
1.3.Tình hình xây dựng đê biển tại Việt Nam 17
1.3.1.Đê biển miền Bắc 18
1.3.2.Đê biển Bắc Trung Bộ: 19
1.3.3.Đê biển vùng ven biển Trung Trung Bộ: 21

2.2.3.1.Sự cố xảy ra do thi công 50
2.2.3.2.Sự cố xảy ra do khảo sát địa chất 52
2.2.3.3.Sự cố xảy ra do vấn đề môi trường thi công 52
2.2.3.4.Sự cố liên quan đến thiết kế 52
2.2.4.Kết luận rút ra từ thi công đê biển An Biên – An Minh 53
b.3.Sự cần thiết của đề tài nghiên cứu 53
b.4.Kết luận chương 54
CHƯƠNG III: CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP THI CÔNG
ĐÊ BIỂN TRÊN NỀN ĐẤT YẾU 56
3.1.Phân tích ứng suất của đất nền 56
3.2.Sự thay đổi ứng suất nền trong quá trình đắp đê 59
Hình 3.8 : Các giai đoạn làm việc của đất nền dưới tác dụng của tải trọng 62
3.3.Ứng dụng GeoStudio2004 phân tích ứng suất nền và thân đê 63
3.4.Sức chịu tải của đất nền: 66
3.4.1.Tính theo tải trọng an toàn 67
3.4.2. Tính theo tải trọng giới hạn 68
- 4 -
3.5.Ổn định của đê trên nền đất yếu 69
3.6.Ổn định của mái dốc đê trên nền đất yếu 71
3.7.Các cơ chế phá hoại đê xây dựng trên nền đất yếu 72
3.7.1.Phá hoại, mất ổn định do nền bị lún trồi 72
3.7.2. Phá hoại do nền bị lún trồi và bị đẩy ngang 73
3.7.3.Phá hoại kiểu trượt sâu 74
3.7.4.Ứng dụng phần mềm Geo-Slope 2004 tính ổn định mái đê 75
3.8.Kết luận chương 78
Qua nghiên cứu lý thuyết và thực tế thi công các công trình ở ĐBSCL cho thấy
việc thi công quá nhanh hay chất tải quá lớn so với sức chịu tải của đất nền là
nguyên nhân chính dẫn đến các sự cố phá hủy công trình 78
CHƯƠNG IV: ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP THI CÔNG HỢP LÝ CÔNG TRÌNH
NÂNG CẤP ĐÊ BIỂN AN BIÊN – AN MINH 80

4.3.3.4.Gia cố nền bằng đệm cọc cát 94
Hình 4.9:Mặt cắt ngang đê gia cố nền bằng đệm cọc cát 95
4.3.3.5.Gia cố nền bằng các giải pháp khác 97
4.3.3.6.Phân đê thành nhiều lớp theo chiều cao và đắp cao dần theo từng lớp 99
Hình 4.10: Sơ đồ phân đoạn đắp đê theo chiều cao 100
4.3.4.Nhận xét chung 101
4.4.Phân tích, đề xuất và lựa chọn giải pháp thi công hợp lý với tuyến đê biển
An Biên – An Minh 103
4.4.1.Đặc điểm của vật liệu đất đắp đê 103
4.4.2.Các giải pháp lấy đất để đắp đê 103
4.4.2.1.Trường hợp đào tuyến kênh mới sử dụng đất đào để đắp đê 104
4.4.2.2.Trường hợp nạo vét và đào mở rộng các kênh rạch sẵn có để lấy đất đắp
104
4.4.2.3.Trường hợp khai thác đất ở các bãi vật liệu vận chuyển đến để đắp 105
4.4.3.Thiết bị thi công 106
4.4.4.Giải pháp hợp lý thi công đê biển An Biên – An Minh, Kiên Giang 106
4.4.4.1.Đắp theo phương pháp thông thường, không sử dụng cốt liệu để đắp đê
(trường hợp có thể kéo dài thời gian thi công) 107
- 6 -
4.4.4.2.Đắp theo phương pháp sử dụng cốt liệu vải địa kỹ thuật và xơ dừa để
đắp đê (trường hợp không thể kéo dài thời gian thi công) 109
Hình 4.13: Nhân công trải vải địa kỹ thuật Hình 4.14: Thi công chỗ tiếp giáp giữa 111
2 tấm vải địa 111
111
112
4.4.4.3.Đánh giá ưu nhược điểm của hai giải pháp 115
4.4.5.Trồng cây bảo vệ mái đê 117
4.4.6.Công tác giám sát, nghiệm thu thi công 117
4.5. Kết luận chương 118
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 120

biển An Biên - An Minh và hệ thống bờ bao tương đối khép kín. Tuy nhiên, tháng
11/1997 cơn bão Linda tràn qua các tỉnh phía Nam, đã gây ra thiệt hại to lớn về
người và của đối với các tỉnh ĐBSCL, làm cho hàng loạt tuyến đê tại các địa
phương này bị sạt lở, hư hỏng nặng nề, trong số đó có tuyến đê biển An Biên - An
- 8 -
Minh.
Vì vậy, việc “Nghiên cứu đề xuất các giải pháp thi công hợp lý công trình
nâng cấp đê biển Kiên Giang đoạn thuộc An Biên – An Minh” là một nhu cầu cấp
thiết để ứng phó với bão và những biến đổi về khí hậu góp phần bảo vệ sự phát triển
bền vững cho sản xuất và ổn định đời sống nhân dân, phát triển hệ thống giao thông
đường bộ, an ninh quốc phòng và khai thác tổng hợp vùng ven biển.
2. Mục đích nghiên cứu của đề tài
Nghiên cứu, phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến công tác thi công đê trên
nền đất yếu và đề xuất giải pháp thi công hợp lý công trình nâng cấp đê biển Kiên
Giang, đoạn thuộc An Biên-An Minh nhằm đảm bảo chất lượng công trình và rút
ngắn thời gian xây dựng so với các phương pháp truyền thống đã áp dụng ở khu vực
ĐBSCL.
3. Nhiệm vụ nghiên cứu đề tài
- Nghiên cứu các điều kiện tự nhiên ảnh hưởng trực tiếp đến công tác thi công
nâng cấp đê biển Kiên Giang, đoạn thuộc An Biên-An Minh.
- Phân tích các yếu tố không thuận lợi cho công tác thi công đắp đất trên nền
yếu tại An Biên-An Minh.
- Đề xuất các giải pháp thi công hợp lý nhằm khắc phục các tác nhân tiêu cực
đối với công tác thi công đắp đê trên nền đất yếu.
4. Phạm vi nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu
a. Phạm vi và đối tượng nghiên cứu:
- Nghiên cứu chỉ giới hạn trong phạm vi thi công nâng cấp tuyến đê biển Kiên
Giang, trong đó tập trung vào hoàn cảnh cụ thể tại An Biên-An Minh là nơi tuyến
đê được đắp trên nền đất yếu.
- Đối tượng nghiên cứu là khối đắp thân đê bằng vật liệu địa phương và nền đê

được các quốc gia có biển trên thế giới coi là giải pháp hữu hiệu nhất để phòng,
chống và thích nghi với bão lụt, ngăn chặn kiểm soát sự xâm nhập của nước biển và
mặn vào nội đồng, vừa là phương thức "quai đê lấn biển" mở rộng diện tích đất ở và
canh tác. Tuy nhiên, tùy thuộc vào các đặc điểm tự nhiên, khí hậu, địa hình và trình
độ khoa học kỹ thuật của mỗi quốc gia mà các hệ thống này được phát triển ở
những mức độ khác nhau.
1.2. Tình hình xây dựng đê biển trên thế giới
Tổ hợp đê và các hạng mục khác trong hệ thống công trình phòng chống các
hiểm họa do thiên tai gây ra từ biển được các quốc gia trên thế giới, đặc biệt là các
quốc gia có biển quan tâm. Tuy nhiên, tùy thuộc vào đặc điểm tự nhiên, khí hậu, địa
hình và trình độ phát triển của mỗi quốc gia mà các hệ thống này được phát triển ở
mức độ khác nhau.
a. Hà Lan: Công cuộc xây dựng đê biển được bắt đầu từ hơn 800 năm trước
và vẫn tiếp tục cho đến ngày nay. Là một đất nước có đến 2/3 diện tích thấp hơn
mực nước biển, người Hà Lan bằng mọi giá bảo vệ sự bền vững của hệ thống đê
biển, cuộc đời họ gắn liến với cuộc đấu tranh chống lại ngập lụt do nước biển dâng.
- 11 -
Cũng vì đặc điểm này mà người Hà Lan đã trở thành một trong những chuyên gia
số một về thuỷ lợi và công trình biển với rất nhiều thành tựu đáng khâm phục.
Đê biển được xây dựng sao cho không cho phép nước tràn dưới tác động của
sóng bão; kết cấu của đê được đặc biệt quan tâm và được kiểm soát rất chặt chẽ về
chất lượng trong quá trình xây dựng thông qua một ủy ban riêng thuộc Nhà nước.
Kết cấu thân đê: Đê
thường có cả cơ ngoài và cơ
trong kết hợp giao thông.
Tùy theo mức độ quan trọng
mà kết cấu của đê cũng khác
nhau. Chẳng hạn đê không
trực diện với biển thường là
đê đất với lõi đất hoặc lõi cát

Hà Lan). Bốn đập ngăn
chính, trong đó có 2 cửa khóa, cùng với những đập phụ đã được dựng lên gần các
cửa sông. Điều này làm cho Hà Lan không chỉ nổi tiếng về hoa Tuylip, cối xay gió,
những đôi giày gỗ mà còn nổi tiếng bởi những công trình biển vĩ đại hàng đầu thế
giới. Theo quan điểm của các nhà thiết kế ở Hà Lan, đê biển được coi là công trình
với tần suất thiết kế đặc biệt cao. Với đê thông thường, tần suất thiết kế là 1:1.250;
đê đặc biệt quan trọng - 1:10.000, thậm chí cao hơn nữa.

Hình 1.3: Sử dụng các khối bê tông dị hình trong xây dựng đê biển
b. Mỹ: hệ thống đê biển ở Mỹ đa dạng hơn do địa hình của Mỹ không giống
như Hà Lan. Chính vì vậy, chiến lược phòng chống thiên tai của Mỹ cũng khác dẫn
tới kết cấu của đê điều cũng khác. Ngoài những thành phố quan trọng ven biển thì
dải bờ biển rộng lớn của nước Mỹ là những khu vực không quá đông dân cư, đất lại
rộng nên chiến lược đối với các vùng này là xây dựng cơ sở hạ tầng rất tốt với hệ
thống đường giao thông rộng, nhiều làn, nhiều kiểu để khi xảy ra thiên tai, thảm họa
- 13 -
thì sơ tán ra khỏi vùng nguy hiểm được nhanh chóng. Kết cấu đê biển ở đây không
quá kiên cố như của Hà Lan. Xu thế “tự nhiên” tác động ít nhất tới môi trường cũng
là quan điểm phát triển của Mỹ.
c. Nhật Bản: có hệ thống đê biển khá đặc biệt. Là quốc gia có bốn mặt là biển,
thường xuyên xảy ra động đất và sóng thần đe dọa trực tiếp đến sự ổn định của hệ
thống đê điều. Nên người Nhật đặc biệt quan tâm tới đê cửa sông và đê biển, mặc
dầu đất đai ở đây phần lớn cao hơn mực nước biển. Đê cũng là một công trình đa
mục tiêu, trong đó vấn đề giao thông được ưu tiên hàng đầu, chính vì vậy đê biển
của Nhật cũng rất chỉnh thể. Công trình điển hình phải kể đến tuyến đê biển bảo vệ
đảo nhân tạo Kansai tại thành phố Osaka. Tuyến đê này có chiều dài 13km (dọc
theo chu vi sân bay), cao 30m, tùy theo từng đoạn chiều rộng của đê nằm trong
khoảng 250 đến 300m. Nền đê là lớp đất sét được gia cố bằng các cọc cát; thân đê
bao gồm 3 lớp cát và đá xếp. Phần trên của đê được xây bức tường bằng bê tông
toàn khối, phần mái phía biển được bảo vệ bằng khối đá lớn hình chữ nhật và có bố

không chỉ giúp tăng an toàn cho đê mà còn là chiến lược phát triển du lịch biển, vì
vậy người ta quan tâm tới giải pháp mềm như nuôi bãi, trồng cây ngập mặn, v.v
Các đội tàu hút cát hoạt động thường xuyên làm rộng các bãi tắm, tạo thêm cảnh
quan; dải đất ven biển được trồng cây chắn sóng, bài toán bảo vệ môi trường sinh
thái biển luôn được đặt ra trong các nghiên cứu phát triển.
Song song với chiến lược xây dựng đê biển là vấn đề tìm ra các phương pháp
tính toán, xây dựng các mô hình toán, mô hình vật lý để mô phỏng chính xác các
dạng tải trọng tác động, xác định nguyên nhân và cơ chế phá hoại đê, kè biển từ đó
tìm ra các giải pháp xây dựng, giải pháp công trình phù hợp với điều kiện cụ thể
từng vùng - luôn được các nhà khoa học không ngừng nghiên cứu và hoàn thiện.
Bên cạnh đó, việc ứng dụng công nghệ mới, vật liệu mới để sử dụng vào xây
dựng các công trình bảo vệ bờ biển được các nước phát triển như Nga, Mỹ, Nhật,
- 16 -
Pháp, Hà Lan…rất coi trọng nhằm nâng cao hiệu quả công trình, rút ngắn thời gian
thi công và giảm chi phí xây dựng. Một số công nghệ và vật liệu mới sử dụng cho
công trình bảo vệ bờ cửa sông, ven biển, hải đảo đã và đang được ứng dụng rộng rãi
trên thế giới phải kể đến là:
• Vải địa kỹ thuật (Geotextile) được dùng rộng rãi trong xây dựng các ngành
khác nhau, giao thông, xây dựng nhà, công trình thuỷ lợi
• Khối phủ mái nghiêng: Tetrapod, Dolos tròn & bát giác, khối vuông chữ H,
Seabes… được dùng cho các công trình bảo vệ bờ biển, hải đảo ở các nước Mỹ,
Nhật bản, Hàn Quốc …Đây là các khối dị hình có độ ổn định cao, có khả năng phá
sóng, giảm chiều cao sóng.
• Công nghệ bảo vệ bờ bằng thảm đá, rọ đá lõi thép bọc PVC, hay lưới hoàn
toàn bằng sợi tổng hợp được dùng ở nhiều nước trên thế giới trong các công trình
bảo vệ bờ sông, bờ biển, taluy chống sạt lở đồi núi, đường giao thông v.v
• Công nghệ bảo vệ bờ bằng thảm bê tông FS của Úc được ứng dụng rộng rãi
nhiều nước trên thế giới trong các lĩnh vực như: công tác hộ đê, phòng lũ, bảo vệ bờ
sông, bờ biển và hải đảo, đường hầm Thảm FS chịu lực kéo lớn, tính ổn định tốt,
chống lão hóa, chịu mặn, chịu chua, có khả năng chống và triệt tiêu sóng, chống

diện tích bờ
biển ở khu vực các tỉnh lưu vực sông Mêkông sẽ chịu tác động của những trận lũ ở
mức độ khó có thể dự đoán được (nguồn ICEM). Tất cả những thiệt hại dự báo nêu
trên, chúng ta đều có thể giảm nhẹ được nếu có hệ thống đê biển, đê cửa sông vững
chắc, với quy mô, kích thước công trình đủ lớn, đủ sức chống chịu và thích nghi với
thiên tai từ biển.
Để bảo vệ những vùng thấp ven biển và giảm nhẹ thiệt hại do thiên tai từ biển
đổ vào, ngay từ đầu thế kỷ 15, ông cha ta đã xây dựng hệ thống đê biển (đầu tiên là
vùng đồng bằng Bắc bộ) và nó không ngừng được bổ sung, nâng cấp qua các thời
kỳ dựng nước và giữ nước. Đê chủ yếu được xây dựng bằng đất, vật liệu lấy tại chỗ
và người địa phương tự đắp bằng những phương pháp thủ công. Hệ thống đê hình
- 18 -
thành là kết quả của quá trình đấu tranh với thiên nhiên, mở đất của ông cha chúng
ta. Chính vì vậy, đê không thành tuyến mà là các đoạn nằm giữa các cửa sông. Có
địa phương chỉ trong vòng 1 thế kỷ đã có nhiều lần đê phát triển ra ngoài, mà cho
đến hiện nay vẫn tồn tại các tuyến đó như đê huyện Tiên Lãng, Vĩnh Bảo (Hải
Phòng); đê Thái Thụy, Tiền Hải (Thái Bình), đê Kim Sơn (Ninh Bình) v.v
1.3.1. Đê biển miền Bắc
Có quy mô lớn nhất cả nước tập trung chủ yếu ở các tỉnh Hải Phòng, Thái
Bình và Nam Định và được phân cấp như sau:
Đê trực tiếp với biển như đê Yên Hưng (Quảng Ninh); Cát Hải, đê Tràng
Cát, Đê biển 1,2,3 thuộc Hải Phòng; Đê 6,7,8 thuộc Thái Bình và đê Giao Thủy,
Hải Hậu, Nghĩa Hưng (Nam Định). Mặc dù là đê trực tiếp với biển, nhưng chủ yếu
chỉ có một độ dốc mái m = 2÷3 phía biển; m = 1,5 ÷ 2,5 phía trong đồng.
Về kết cấu: Lõi đê chủ yếu là đất lấy ở khu vực lân cận, thành phần không
đồng nhất, độ ẩm cao, khó đầm nén nên thường có nhiều lỗ hổng trong thân đê.
Ngoài cùng là lớp đất sét bảo vệ có độ dày chỉ từ 0,3 ÷ 0,5 m. Trong những năm
gần đây với sự trợ giúp của các tổ chức quốc tế PAM 5325, một lớp vải địa kỹ thuật
Hình 1.7: Bản đồ dự báo các vùng ảnh hưởng nước biển dâng
ở Đồng bằng Sông Cửu Long (Nguồn: ICEM)

khoảng 200km gây khó khăn trong việc duy tu bảo dưỡng, đặc biệt trong những trận
bão gây sạt lở hay vỡ đê.
- Lõi đê phần lớn là đất cát, phần gia cố bằng lớp đất sét bọc ngoài không đủ
dày, không đảm bảo các chỉ tiêu cơ lý, nên chỉ cần một hư hỏng cục bộ sẽ dẫn tới
hậu quả phá hỏng cả một đoạn lớn. Thực tế cho thấy khi gặp bão nước tràn đê bị vỡ
nhiều đoạn.
- Mặt đê mới được gia cố cứng hoá một phần nên mùa mưa bão mặt đê thường
bị sạt lở, lầy lội nhiều đoạn không thể đi lại được.
- Mái phía biển nhiều nơi chưa được bảo vệ, vẫn thường xuyên có nguy cơ sạt
lở đe dọa đến an toàn của đê, đặc biệt trong mùa mưa bão.
- Mái phía đồng cũng chưa được bảo vệ, nhiều đoạn bị xói, sạt khi mưa lớn
hoặc sóng tràn qua.
- Dải cây chắn sóng đê biển tuy đã được quan tâm bảo vệ, nhưng do đất ở khu
vực có độ phì kém, cây khó phát triển, thêm vào đó ý thức bảo vệ của người dân địa
phương chưa tốt dẫn tới hiệu quả bảo vệ của lớp đệm bãi trước chưa cao trong khi
bãi biển ở một số đoạn vẫn có xu hướng bị bào mòn, hạ thấp gây sạt lở chân kè, đe
dọa đến an toàn của đê biển.
- Hệ thống cống dưới đê rất nhiều về số lượng, hầu hết đã được xây dựng từ
vài chục năm trước đây với kết cấu tạm bợ và đang bị xuống cấp nghiêm trọng. Cần
có quy hoạch lại, sữa chữa và xây dựng mới để đảm bảo an toàn cho đê, phù hợp
với quy hoạch chung về phát triển sản xuất.
- 21 -
Hình 1.10: Tuyến đê biển Hậu Lộc
1.3.3. Đê biển vùng ven biển Trung Trung Bộ:
Vùng ven biển Trung Trung Bộ tính từ Quảng Bình đến Quảng Ngãi, nằm
kẹp giữa các cửa sông mà lưu vực chủ yếu nằm trọn trong lãnh thổ nước ta. Đất liền
được bảo vệ bởi hệ thống đê có quy mô nhỏ xung quanh các cửa sông và một phần
bờ biển. Phần lớn dải bờ biển được bảo vệ bởi các đụn cát, có nơi cao tới 30 ÷ 50m
như ở Quảng Bình, Quảng Trị. Các tuyến đê khu vực này được đắp bằng đất pha
cát, một số tuyến nằm sâu so với cửa sông và đầm phá có thân đê là đất sét pha cát,

các tỉnh Nam Trung bộ phần lớn được hình thành sau năm 1975. Hệ thống đê biển,
đê cửa sông ở khu vực này thường ngắn và bị chia cắt bởi các cửa sông, đầm phá,
dãy núi hoặc đồi cát Hiện nay toàn bộ miền Nam Trung Bộ có: 18 tuyến đê biển
với chiều dài 101,8km; 31 tuyến đê cửa sông với chiều dài 131,35 km; 19 tuyến kè
với chiều dài 23,26 km.
Các tồn tại chính của đê biển Nam Trung Bộ:
- Hầu hết các tuyến đê có bề rộng mặt B < 4,0 m gây khó khăn cho việc bảo
dưỡng cũng như cứu hộ đê nhất là trong mùa bão.
- Cao trình đỉnh đê các tuyến đê không đồng bộ và hầu hết chưa ngăn được
sóng do bão tràn qua.
1.3.5. Đê biển Nam Bộ
Hệ thống đê ở ĐBSCL được hình thành từ rất sớm.
- 23 -
Nhiệm vụ đê: ngăn mặn, ngăn triều cường, phòng chống thiên tai, bảo vệ sản
xuất, hạ tầng cơ sở, tài sản và tính mạng của nhân dân.
Có thể nói các tuyến đê biển, đê cửa sông, đê bao chống lũ là lá chắn bảo vệ
an toàn cho nhân dân vùng ven biển, vùng lũ, một số tuyến đê cũng là tuyến phòng
thủ trong an ninh quốc phòng.
Các tuyến đê được xây dựng trước năm 1975, có quy mô nhỏ, qua quá trình
chống chọi với thiên nhiên, ảnh hưởng triều của biển, đê cũng được tu bổ bồi đắp đê
ổn định dần.
Các tuyến đê xây dựng sau năm 1975:
Hệ thống đê Gò Công (xây dựng từ 1976 ÷ 1985) có chiều dài 21,22 km, cao
trình +3,5m, bề rộng mặt đê từ 4÷5m. Đây là tuyến đê kiên cố nhất Nam Bộ, với
diện tích đất bảo vệ 65.000ha
Hệ thống đê Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng (xây dựng từ 1994÷1995) có chiều
dài 43km, cao trình +2,8m, mặt đê rộng 4m, xây dựng hệ thống cống dưới đê vừa
và nhỏ từ 1 đến 2 cửa, mỗi cửa 1,8m, có thể đánh giá là hệ thống đê cống ngăn mặn
tương đối kiên cố và đồng bộ được thử thách qua trận bão lịch sử vào tháng 11/1997
sau đó đã được nâng cấp.

biển mở mang diện tích đất, tạo tiền đề cho các khu đô thị mới, các khu du lịch ra
đời. Nhiều tuyến đê kết hợp giao thông ven biển góp phần quan trọng cho việc phát
triển kinh tế xã hội, phát triển kinh tế biển và bảo đảm an ninh quốc phòng cho khu
vực.
- Tuy nhiên, hầu hết các tuyến đê đều có đặc điểm: được xây dựng qua nhiều
thời kỳ, với nhiều chủ đầu tư, không có quy hoạch tổng thể, vì thế không thống nhất
về tuyến, về chỉ tiêu kỹ thuật, hầu như chưa đề cập tới nhu cầu lợi dụng tổng hợp,
thiếu tầm nhìn để phát triển cho tương lai lâu dài. Nhiều tuyến đê biển, đê cửa sông
hiện chưa có đủ khả năng phòng chống thiên tai, trước nước dâng do gió bão, triều
cường. Các tuyến đê biển, đê cửa sông chưa khép kín, nhiều đoạn đê còn thiếu cầu,
cống hoặc có nhiều nhưng hầu như hư hỏng nặng, do đó chưa chủ động trong tiêu
úng, tiêu phèn, hạn chế hiệu quả ngăn mặn, giữ ngọt, chưa đáp ứng yêu cầu nuôi
trồng thủy sản, chưa đảm bảo yêu cầu kết hợp giao thông ven biển, chưa đáp ứng
được yêu cầu chuyển đổi sản xuất cho một số vùng.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status