Thực trạng và giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu cà phê ở Việt Nam - Pdf 26

MỤC LỤC
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 48
DANH MỤC BẢNG, BIỂU
Bảng 1: Một số thị trường nhập khẩu cà phê chính của nước ta từ giai đoạn 06/07
đến 09/10 Error: Reference source not found
Bảng 2: Thị trường chủ chốt xuất khẩu cà phê thô của Việt Nam, nửa đầu niên vụ
2009/2010 và niên vụ 2010/2011 Error: Reference source not found
Bảng 3: Diện tích và sản lượng cà phê Việt Nam từ năm 1995 đến năm 2011. Error:
Reference source not found
Bảng 4: Các loại sản phẩm cà phê Việt Nam xuất khẩu, niên vụ 2008/09 – 2010/11
Error: Reference source not found
Bảng 5: Giá xuất khẩu trung bình của Cà phê thô Việt Nam, Niên vụ 2009/10 -2010/11 27
Bảng 6: Kim ngạch xuất khẩu cà phê của Việt Nam sang Hoa Kỳ Error: Reference
source not found
Biểu đồ 1: Diện tích, sản lượng cà phê Việt Nam qua thời kỳ 1995-2011 Error:
Reference source not found
Biểu đồ 2: Tình hình xuất khẩu cà phê của nước ta từ năm 1991 đến năm 2009
Error: Reference source not found
Biểu đồ 3: Mối quan hệ giữa giá cà phê ở thị trường trong nước và thị trường
quốc tế Error: Reference source not found
Biểu đồ 4: Giá xuất khẩu cà phê trung bình của Việt Nam từ mùa vụ 1990/91 đến
mùa vụ 2010/11 25
Biểu đồ5: Các nước nhập khẩu cà phê lớn nhất của Việt Nam mùa vụ 2010/11 (đơn
vị: tấn) Error: Reference source not found
LỜI MỞ ĐẦU
Việt Nam là một nước gió mùa nhiệt đới, có khí hậu nóng ẩm quanh năm, có
một vùng đất đỏ bazan thuận lợi cho việc trồng các loại cây công nghiệp ngắn ngày,
có giá trị xuất khẩu cao. Cà phê là một trong những loại cây trồng đó, hiện nay ở
Việt Nam, cà phê là mặt hàng nông sản có giá trị xuất khẩu lớn thứ hai sau gạo.
Thực tế đã cho thấy, trong xu thế hội nhập toàn cầu hóa nền kinh tế thế giới thì xuất
khẩu cà phê đóng một vai trò quan trọng, không những là kênh huy động nhập khẩu

- Thị trường rộng lớn, tách biệt, thông qua thông lệ quốc tế và các quy tắc
chung của các tổ chức thương mại trên thế giới. Vì vậy mà cần phải đầu tư cho công
tác nghiên cứu thị trường, tìm hiểu pháp luật và các điều kiện liên quan tới việc trao
đổi buôn bán hàng hóa dịch vụ của quốc gia mà chúng ta đã đang và sẽ có quan hệ
hợp tác, làm ăn.
- Khi xuất khẩu hàng hóa phải chú ý đến vấn đề thuộc về phong tục tập quán
thói quen, nề nếp sống…của nước nhập khẩu để đảm bảo hang hóa xuất khẩu có thể
mang lại lợi nhuận như ta mong muốn. Đây là một điều tất yếu quan trọng trong
định hướng xuất khẩu được đề ra trong quá trình nghiên cứu thị trường để xác định
nhu cầu của khách hang tiến tới xác định sản phẩm dịch vụ xuất khẩu.
- Xuất khẩu là cơ sở để tăng sản xuất trong nước để không những phục vụ
nhu cầu trong nước mà còn phục vụ nhu cầu các nước khác, kích thích đầu tư nâng
cao chất lượng chủng loại sản phẩm cho XH.
- Xuất khẩu cho phép các quốc gia trên thế giới khai thác triệt để lợi thế so
sánh của mình.
Đối với nước ta, xuất khẩu hàng hóa còn đóng vai trò quan trọng sau :
- Xuất khẩu tạo nguồn vốn chủ yếu cho nhập khẩu, thu hút ngoại tệ phục vụ
2
quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa .
- Xuất khẩu đóng ghóp vào việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thúc đẩy sản
xuất phát triển.
+ Xuất khẩu tạo điều kiện cho các ngành khác phát triển thuận lợi.Ví dụ như
sự phát triển của các ngành chế biến lương thực xuất khẩu kéo theo sự phát triển
của các ngành công nghiệp chế tạo ra thiết bị phục vụ nó, phát triển nông nghiệp
cung cấp các nguyên liệu đầu vào cho các ngành công nghiệp chế biến đó.
+ Xuất khẩu tạo điều kiện tiền đề kinh tế, kỹ thuật cải tạo và nâng cao năng
lực sản xuất trong nước.
+ Thông qua xuất khẩu, hàng hoá của chúng ta sẽ tham gia vào cuộc cạnh
tranh trên thị trường thế giới về giá cả và chất lượng. Cuộc cạnh tranh này đồi hỏi
chúng ta phải tổ chức lại sản xuất, hoàn thiện cơ cấu sản xuất, luôn thích nghi với

nước khác. Đó là lợi thế về tự nhiên, về đất đai, khí hậu, nguồn nước …tận dụng
nguồn lao động dồi dào. Vị trí địa lí của đất nước thuận lợi cho việc trao đổi buôn
bán hàng hóa, các cảng biển thuận tiện cho việc lưu thông đườg thủy,thuận tiện cho
việc chuyên chở, giao dịch hàng hóa. Chính vì vậy mà chúng ta cần có những chính
sách để khai thác triệt để lợi thế này trong cả quá trình sản xuất, chế biến và tiêu thụ
cà phê, tạo những điều kiện thuận lợi cho xuất khẩu cà phê.
- Xuất khẩu cà phê còn tạo cơ hội để ta tranh thủ tận dụng cơ hội trên thị
trường thế giới.
+ Xuất khẩu cà phê chính là tận dụng cơ hội trên thị trường thế giới theo xu
hướng chuyên môn hóa và phân công lao động xã hội sâu sắc trên thế giới đúng
theo tư tưởng của các học thuyết về lợi thế tuyệt đối của Adam Smith và lợi thế so
sánh của David Ricardo là khi tham gia thương mại quốc tế, tất cả các nước đều có
lợi khi tận dụng ưu thế về phân công lao động quốc tế.
+ Xuất khẩu cà phê để tranh thủ các ưu đãi về thuế quan của các tổ chức
thương mại mà Việt Nam cũng là một thành viên tạo khả năng thu hút được nhiều
lợi nhuận hơn cùng những ưu đãi về điền kiện xuât khẩu.
4
II. Cơ hội và thách thức đối với xuất khẩu cà phê của Việt Nam
Một trong những mốc quan trọng đánh dấu tiến trình hội nhập của nền kinh tế
nước ta với bạn bè quốc tế là sự kiện Việt Nam chính thức trở thành thành viên thứ
150 của tổ chức Thương Mại Thế Giới WTO vào văm 2006. Sự kiện này có tác
động to lớn trong hoạt động xuất khẩu hàng hóa nói chung và cà phê nói riêng.Việc
gia nhập WTO bao hàm trong đó cả cơ hội lẫn thách thức đối với xuất khẩu cà phê
của Việt Nam.
1. Cơ hội đối với xuất khẩu cà phê của Việt Nam
1.1 Mở rộng thị trường xuất khẩu, tạo ra một không gian lớn tăng hiệu quả
kinh doanh
Bản chất của việc hình thành các tổ chức khu vực quốc tế và rộng hơn là xu
thế khu vực hóa toàn cầu là để giải quyết vấn đề thị trường. Do đó thực chất của
một trong những mục tiêu của việc gia nhập WTO giúp cho các doanh nghiệp tham

Việt Nam tiếp tục tranh thủ được nguồn tài chính tín dụng từ cộng đồng các
nhà tài trợ quốc tế, các định chế tài chính tín dụng quốc tế, các tổ chức và các chính
phủ nước ngoài kể cả nguồn vốn viện trợ phát triển chính thức ODA và các nguồn
vay khác.
1.3. Tiếp thu khoa học công nghệ, kỹ năng quản lí và kinh doanh ghóp phần đào
tạo đội ngũ cán bộ quản lí và cán bộ kinh doanh năng động sáng tạo.
Khi mở cửa nền kinh tế các luồng vốn đầu tư KHCN, nguồn nhân lực trong
nước có cơ hội giao lưu, tham gia vào sự phân công lao động toàn cầu. Hầu hết các
công ty, dự án nước ngoài đầu tư vào Việt Nam hầu như đều có các kỹ năng quản lý
tổ chức nhân sự, kinh doanh rất chuyên nghiệp và khoa học, các khâu trong quá
trình tổ chức sản xuất thực hiện một các chính xác và nghiêm túc điều này làm cho
năng suất lao động tăng lên dẫn đến một tất yếu là lợi nhuận sẽ tăng. Các doanh
nghiệp, tập đoàn ở Việt Nam chỉ tiếp thu khoa học công nghệ từ nước ngoài thôi thì
chưa đủ chúng ta cần phải đầu tư hơn nữa về công tác đào tạo về các kỹ năng quản
lý cũng như kinh doanh thì mới có thể nghĩ đến chuyện cạnh tranh song phẳng với
các sản phẩm từ các nước châu Âu cũng như các nước trên thế giới. Ví dụ trong lĩnh
6
vực Nông Nghiệp, thông qua các dự án với người nước ngoài hoặc do người nước
ngoài đầu tư, các đối tác VN không chỉ tiếp nhận KHKT sản xuất mà còn tiếp nhận
những kinh nghiệm quản lí tiên tiến, hiện đại. Đội ngũ quản lí, đội ngũ công nhân
kỹ thuật được rèn luyện nâng cao năng suất, chất lượng nông sản hàng hóa và khả
năng cạnh tranh của nông sản Việt Nam.
1.4. Khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp được nâng cao
Gia nhập WTO, Việt Nam phải áp dụng chính sách mở cửa thị trường cho
các mặt hàng nông sản nhiều hơn, chính sách minh bạch và bình đẳng hơn, các
chính sách trợ cấp hoặc hỗ trợ cho nông nghiệp không phù hợp với WTO cũng dần
bị loại bỏ. Dẫn đến một quy luật tất yếu các doanh nghiệp Việt Nam, nhất là các
doanh nghiệp nhà nước không thể ỷ lại vào sự hỗ trợ của nhà nước nữa. Các doanh
nghiệp muốn tồn tại và phát triển phải chấp nhận cạnh tranh. Áp lực này buộc các
doanh nghiệp VN phải tự vươn lên nâng cao khả năng cạnh tranh của sản phẩm và

những biến động tại Sở giao dịch hàng hóa ở London (UFFE). Mức chênh lệch giữa
giá cà phê Việt Nam và giá UFFE khoảng từ 150 USD đến 200USD chủ yếu do dư
thừa tạm thời nguồn cung cà phê ở Việt Nam và do chênh lệch giữa giá FOB Việt
Nam và giá CIF London. Hơn 90% sản lượng cà phê được xuất khẩu chủ yếu là
dưới dạng cà phê nhân, cà phê rang và cà phê rang xay chủ yếu tiêu thụ trong nước.
Theo biểu cam kết thuế suất hàng nông sản cà phê thì :
+ Cà phê nhân, thuế suất cam kết tại thời điểm gia nhập là 20% và thuế suất
cam kết cắt giảm xuống còn 15%, thời hạn thực hiện là đến năm 2010. Như vậy đối
với mặt hàng cà phê nhân thì thực sự ko hề có biến động lớn vì nước ta là nước xuất
khẩu chủ lực mặt hàng này. Việc gia tăng nhập khẩu cà phê các loại cào Việt Nam
là rất ít, trừ một số loại cà phê có chất lượng cao, phục vụ cho khách sạn nhà hàng.
+ Cà phê thành phẩm bao gồm: cà phê rang chưa xay, cà phê rang đã xay chưa
khử và đã khử chất cafein. Thuế suất cam kết tại thời điểm gia nhập là 40% và thuế
suất cắt giảm xuống còn 30% thời hạn thực hiện năm 2011. Như vậy đối với mặt
hàng cà phê đã qua chế biến thì việc cạnh tranh trên thị trường là hết sức gay gắt.
Hiện nay, các doanh nghiệp cà phê trong nước cũng đã và đang phải cạnh tranh với
8
nhiều doanh nghiệp từ các quốc gia khác nhau trong lĩnh vực chế biến và kinh
doanh xuất khâu cà phê. Ước tính sơ bộ có khoảng gần 100 doanh nghiệp tham gia
xuất khẩu cà phê thuộc mọi thành phần kinh tế. Hầu hết các tập đoàn công ty kinh
doanh cà phê lớn trên thế giới đều đã có mặt tại Việt Nam và thực hiện kinh doanh
qua văn phòng đại diện hoặc công ty con với 100% vốn nước ngoài. Các doanh
nghiệp nước ngoài với ưu thế lớn về vốn và công nghệ nên đầu tư xây dựng những
khi chế biến cà phê nhân xuất khẩu chất lượng cao hoàn chỉnh và đồng bộ. Chính vì
vậy, các công ty liên doanh, công ty 100% vốn nước ngoài đang tăng tỉ trọng trong
tổng số xuất khẩu và phê của Việt Nam, ước tính hiện nay vào khoảng 15-20% phần
lớn là cà phê nhân chất lượng cao có giá trị gia tăng lớn. Trong thời gian tới, tỉ trọng
này sẽ tăng lên nhanh do họ có ưu thế vượt trội về vốn trình đọ năng lực quản lí,
kinh nghiệm, thị trường và mạng lưới khách hàng lớn. Lúc đó các doanh nghiệp làm
ăn ko hiệu quả, không cạnh tranh được sẽ bị giải thể, phá sản hay trở thành đại lí

các loại sâu bệnh phát triển rất nhanh đặc biệt là vào mùa mưa, đặc biệt lượng cà
phê của nước ta chủ yếu sản xuất ở Tây Nguyên – lượng mưa hàng năm là rất lớn.
Bên cạnh đó hạn hán cũng có ảnh hưởng rất lớn đến sản lượng cà phê từng năm. Sự
tác động này ảnh hưởng tới sản lượng và chất lượng cà phê xuất khẩu của nước ta
ngay từ khâu sản xuất đến khâu thu gom chế biến, thực hiện quá trình xuất khẩu.
Một ví dụ điển hình là mùa khô năm 2006, hàng ngàn ha cà phê trồng ở vùng Tây
nguyên đã bị thiếu nước tưới, thậm chí còn bị cháy cho nhiệt độ quá cao và thời tiết
hanh khô.
1.2. Các yếu tố thuộc về chủ trương chính sách của nhà nước:
Các chính sách của nhà nước có tác động lớn tới hoạt động sản xuất cũng như
trong quá trình xuất khẩu cà phê.
Trước khi gia nhập WTO, trong giai đoạn 1999-2001, VN trợ cấp dưới hình
thức thưởng xuất khẩu đối với 7 mặt hàng nông sản trong đó có cà phê. Hỗ trợ lãi
suất mua tạm trữ xuất khẩu đối với cà phê.Nhưng đến giai đoạn 2003-2005, những
hỗ trợ đó đã bị loại bỏ dần. Ngoài ra qua khảo sát của dự án hỗ trợ kĩ thuật nâng cao
năng lực thể chế giúp Việt Nam gia nhập WTO cho thấy, giá trị trợ cấp cao nhất
10
dành cho hai nhóm hàng là cà phê và gạo. Tuy nhiên, có thể thấy trợ cấp của nhà
nước còn ít và còn có khả năng để điều chỉnh một cách hợp lí có lợi cho sản xuất.
Sau khi gia nhập WTO, tổ chức này yêu cầu việc trợ cấp phải có chương trình
cụ thể, tiêu chí rõ ràng.WTO cũng quy định hỗ trợ trực tiếp cho nông dân nhưng
nhà nước thương hỗ trợ thông qua doanh nghiệp nên nông dân chỉ là người được
hưởng lợi gián tiếp. Vì vậy, nhà nước chuyển số tiền trợ cấp xuát khẩu và trợ cấp
nội địa hóa trước đây sang phát triển thủy lợi, kiện toàn giao thông, nâng cao chất
lượng giống cây trồng, phát triển công nghệ sau thu hoạch, xây dựng các kho đệm
để dự trữ cà phê cho bà con nông dân, tránh để họ phải bán ồ ạt khi vào vụ…
Ngoài ra nhà nước còn áp dụng chính sách hỗ trợ tín dụng (mà ưu điểm của
nó là lãi suất thấp) đối với các doanh nghiệp xuất khẩu, trong đó có hình thức
cho vay ngắn hạn và bảo lãnh thực hiện hợp đồng xuất khẩu. Chính sách tín dụng
này là sự ưu đãi của nhà nước nhằm hỗ trợ các doanh nghiệp, tổ chức kinh tế và

2. Các nhân tố thuộc về cầu của thị trường cà phê thế giới
Trước năm 1986, nước ta thực hiện chính sách kinh tế kế hoạch hóa tập trung,
quan hệ ngoại giao và thương mại chủ yếu với các nước XHCN nên thị trường xuất
khẩu bị hạn chế. Sau khi chuyển sang thời kì đổi mới, xây dựng nền kinh tế nhiều
thành phần, mở rộng quan hệ với tất cả các nước trên thế giới trên cơ sở hai bên
cùng có lợi thì thị trường nhập khẩu của VN ngày càng tăng. Năm 1995, nước ta là
thành viên chính thức của ASEAN; năm 1998, tham gia APEC; năm 2001, đạt được
hiệp định thương mại song phương với Hoa Kì và đặc biệt năm 2006, VN trở thành
thành viên chính thức thứ 150 của WTO, chính sự hợp tác song phương đa phương
tốt đẹp đó đã mở rộng thị trường xuất khẩu cho VN.
Thị trường nhập khẩu cà phê của nước ta đã mở rộng ngoài những thị trường
chủ yếu như EU trong đó đặc biệt là Anh, Đức, Pháp…thị trường Hoa Kì…sang thị
trường đầy tiềm năng là Maroc. Ngày nay ngay cả những nước xuất khẩu cà phê lớn
trên Thế Giới cũng đã xem xét đén việc nhập khẩu cà phê của Việt Nam như Braxin
hay Comlombia…(do giá thành cà phê của VN rẻ hơn nhiều so với các nước xuát
12
khẩu cà phê khác). Tuy nhiên các nước này cũng là những đối thủ cạnh tranh lớn của
xuất khẩu cà phê VN, và VN vẫn phải chia sẻ thị trường cà phê với các đối thủ đó.
Bảng 1: Một số thị trường nhập khẩu cà phê chính của nước ta từ giai đoạn
06/07 đến 09/10
TT
Thị
trường
2006/2007 2007/2008 2008/2009
2009/2010
(Tháng 10 –
tháng 3)
Khối
lượng
(nghì

Nha
100 159.715 100 221.092 88 154.426 34 46.077
4 Italy 79 130.174 80 171.176 83 163.948 34 47.265
5 Bỉ 20 33.562 61 144.529 44 87.251 25 34.428
6 Nhật Bản 35 57.532 44 99.789 50 86.768 25 38.935
7
Hàn
Quốc
40 59.849 44 90.875 39 72.551 15 20.977
8 Pháp 44 72.589 37 79.558 37 66.545 7 9.633
9 Algeria 24 43.948 28 69.386 29 56.667 12 16.900
10 Anh 40 55.922 29 53.587 25 45.698 19 24.640
11 Nga 26 43.711 23 51.237 20 38.221 15 19.620
12 Malaysia 26 42.490 21 45.778 20 34.754 9 12.787
13
Trung
Quốc
16 24.227 14 28.730 16 29.457 9 12.496
14 Indonesia 45 68.370 3 6.371 4 5.569 19 25.725
15 Philippin 17 27.590 10 19.996 13 19.660 9 11.198
16 Thụy Sĩ 10 16.857 10 23.149 9 18.047 18 23.245
Tổng 964 1.537.445 836 1.795.849 799 1.415.064 405 576.389
Nguồn: Global Trade Atlas; Vicofa và Tổng cục Thống kê Việt Nam
Bảng 2: Thị trường chủ chốt xuất khẩu cà phê thô của Việt Nam, nửa đầu niên
vụ 2009/2010 và niên vụ 2010/2011
13
STT
Thị trường
XK
Niên vụ 2009/2010

Đức
81 116.008 74 151.440 -9% 31%
3
Bỉ
25 34.428 74 143.267 196% 316%
4
Ý
34 47.265 57 109.283 68% 131%
5
Tây Ban Nha
34 46.077 42 81.150 24% 76%
6
Hà Lan
9 12.938 25 48.803 178% 277%
7
Nhật Bản
25 38.935 22 51.133 -12% 31%
8
Hàn Quốc
15 20.977 18 32.699 20% 56%
9
Singapore
3 4.254 16 30.472 433% 616%
10
Thuỵ Sĩ
18 23.245 15 30.475 -17% 31%
11
Vương Quốc
Anh
19 24.640 15 30.955 -21% 26%

cà phê của Việt Nam.
Trong đó, Hoa Kỳ là thị trường chính xuất khẩu cà phê của Việt Nam với kim
ngạch trong tháng là 27,8 triệu USD, với 11,3 nghìn tấn, tăng 294,62% về lượng và
tăng 156,94% về trị giá so với tháng liền kề trước đó. Tính chung 11 tháng năm
2011 Việt Nam đã xuất khẩu 115,4 nghìn tấn, trị giá 284,8 triệu USD.
Đứng thứ hai là thị trường Đức, chiếm 10% lượng xuất cà phê của cả nước,
tương đương với 111 nghìn tấn, trị giá 244,7 triệu USD. Tính riêng tháng 11 đã xuất
khẩu 11,7 nghìn tấn cà phê sang Đức, trị giá 23,7 triệu USD, tăng 579,16% về
lượng và tăng 584,94% về trị giá so với tháng 10. Chủng loại cà phê xuất khẩu sang
Đức trong tháng 11 là cà phê Arabica, Robusta… với phương thức thanh toán theo
giá FOB.
Trong năm 2011, giá cà phê trên thị trường thế giới biến động tăng liên tục
trong giai đoạn 4 tháng đầu năm và đạt đỉnh ở mức 247,63 US cents/lb vào ngày
3/5, tăng 25,1% so với mức giá đạt được hồi đầu năm.
Tuy nhiên, kể từ sau mức đỉnh cao này, giá cà phê thế giới đã liên tục điều
chỉnh giảm do tác động của các thông tin tích cực về sản lượng của các quốc gia sản
xuất cà phê lớn nhất thế giới là Braxin, Việt Nam…
Bên cạnh đó, những lo ngại về ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng kinh tế thế
giới vẫn còn tiếp diễn và việc đồng USD tăng giá so với đồng Euro làm cho giá cà
phê tính theo đồng USD trở nên đắt đỏ hơn.
Chỉ số giá cà phê tổng hợp theo ngày của ICO xuống mức thấp nhất là 183,28
US cents/lb trong ngày 16/12, giảm tới 26% so với mức giá cao nhất mà thị trường
đã đạt được trong ngày 3/5. Ngày 22/12, chỉ số giá tổng hợp của ICO đang đứng ở
mức 185,55 US cents/lb, giảm 6,3% so với mức giá đạt được hồi đầu năm 2011.
Về sản xuất, theo dự báo của Tổ chức Cà phê quốc tế ICO, sản lượng cà phê
15
Việt Nam trong niên vụ 2011/12 sẽ chỉ đạt 18,5 triệu bao (tương đương 1,11 triệu
tấn), giảm 5% so với sản lượng của niên vụ trước.
Trong khi đó, Bộ Nông nghiệp Mỹ đưa ra dự báo lạc quan hơn về mức sản
lượng cà phê của nước ta trong niên vụ 2011/12 với mức 20,6 triệu bao (tương

Dự thảo "Quy hoạch phát triển ngành cà phê Việt Nam đến năm 2020, tầm
nhìn 2030” đang được hoàn thiện, trong đó có các mục tiêu giữ ổn định diện tích
trồng 500.000 héc ta như hiện nay nhưng nâng dần kim ngạch xuất khẩu lên 2,4 tỉ
đô la Mỹ hàng năm.
Hiện nay, do giá cà phê, hồ tiêu tăng cao nên nhiều hộ dân ở các tỉnh Tây
Nguyên đã ồ ạt mở rộng diện tích trồng cà phê, hồ tiêu không theo quy hoạch,
kế hoạch. Chỉ riêng mùa mưa năm 2011, người dân ở các tỉnh Tây Nguyên đã trồng
mới thêm hàng chục ngàn hécta cà phê, đưa tổng diện tích cà phê toàn vùng tăng lên
trên 498.365ha, tăng trên 16.000ha; và diện tích tiêu tăng lên gần 20.000ha, tăng
4.000ha so với năm 2010. Các tỉnh Đắk Lắk, Lâm Đồng tăng nhanh diện tích cà phê
nhất. Trong khi đó, theo quy hoạch của ngành cà phê Việt Nam, để phát triển cà phê
bền vững, đến năm 2015, các tỉnh Tây Nguyên, diện tích cà phê giảm xuống còn
470.000ha và đến năm 2020 tiếp tục giảm chỉ còn 459.500ha.
1.2. Về năng suất và sản lượng cà phê
Cách đây 25 năm, một phần tư thế kỉ, vấn đề phát triển cây cà phê được đặt ra
với những bước khởi đầu rầm rộ, chủ yếu là tại địa bàn hai tỉnh Đăklăk và Gia lai
17
Kontum ở Tây Nguyên. Vào thời gian này cả nước mới có không đầy 20 ngàn ha
phát triển kém, năng suất thấp, với sản lượng chỉ khoảng 4.000-5.000 tấn. Đến nay
năm 2000 cả nước đã có 500.000ha cà phê hầu hết sinh trưởng khỏe, năng suất cao,
tổng sản lượng đạt 80 vạn tấn.
Ta có thể thấy sự phát triển rất nhanh của cà phê Việt Nam trong các niên vụ
gần đây qua diễn biến
Bảng 3: Diện tích và sản lượng cà phê Việt Nam từ năm 1995 đến năm 2011
Năm
Tổng diện tích
(ha)
Năng suất
(tạ/ ha)
Tổng sản lượng

Viện là nơi thực hiện nhiều đề tài nghiên cứu khoa học và ứng dụng thực
nghiệm, chọn lọc những giống cà phê có năng suất cao, chất lượng tốt, kháng bệnh
tốt phục vụ cho phát triển sản xuất bền vững. Từ công tác nghiên cứu và thực
nghiệm, một số giống cà phê có những đặc điểm ưu tú đã được trồng, các giống
kém hiệu quả đang được loại bỏ và cải tạo bằng dòng vô tính, nâng cao hiệu quả
kinh tế. Nhờ vậy, trong những năm gần đây, sản lượng cà phê của Việt Nam đã tăng
nhanh, chất lượng được nâng cao và tăng sức cạnh tranh trên trường quốc tế. Trong
chương trình thu thập loại cây theo hướng cải thiện kích cỡ hạt cà phê thương
phẩm, nâng cao chất lượng, Viện đã khảo sát các tập đoàn giống, thí nghiệm so
sánh dòng vô tính, thí nghiệm khu vực hoá để đánh giá tính thích ứng. Đến nay,
Viện đã chọn được 5 dòng vô tính thích ứng đáp ứng về yêu cầu chất lượng sản
19
phẩm phục vụ xuất khẩu.
Ngoài việc chọn giống cà phê vối, trong thời gian qua, Viện đã lai tạo, chọn
lọc giống cà phê chè Catymor. Trong đó có việc lai tạo giữa giống cà phê Catymor
với các loại cà phê chè có nguồn gốc hoang dại từ Êtyôpia (Bắc Phi) với mục đích
kết hợp được các đặc điểm thấp cây, tán nhỏ, cho năng suất cao, khả năng thích ứng
tốt, kháng được bệnh rỉ sắt, cho hạt to và phẩm chất cao hơn hẳn giống Catymor.
Các loại cây giống lai đã được Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn cho khu
vực hoá từ năm 2000.
2. Thực trạng thu mua và chế biến cà phê xuất khẩu của Việt Nam
Cả nước hiện có các đơn vị trực tiếp xuất khẩu cà phê bao gồm các đơn vị
thành viên của các Tổng công ty có thu gom xuất khẩu, trong đó nhóm 10 doanh
nghiệp xuất khẩu hàng đầu như : Vinacafe, 2/9Đaklăk, Intymex, Atlantyc, Xí
nghiệp tổng hợp Hà Nội tại thành phố HCM, Thái Hòa, Tín Nghĩa Đồng Nai…
Mặc dù cà phê Việt Nam có khối lượg xuất khẩu lớn, trong đó chủ yếu là cà
phê Robusta nhưng chất lượng cà phê xuất khẩu còn chưa đồng đều, đặc biệt là số
lượng cà phê xuất khẩu bị thải loại còn chiếm tỉ lện cao (80%) trong tổng số cà phê
xuất khẩu bị thải loại của thế giới. Một trong những nguyên nhân ảnh hưởng đến
chất lượng cà phê nhân xuất khẩu như kĩ thuật trồng trọt và thu hái chưa tốt, tình

Cà phê là một trong những mặt hàng nông sản xuất khẩu chủ lực của Việt Nam.
Theo số liệu TCHQ, 11 tháng năm 2011, cả nước đã xuất khẩu 1,1 triệu tấn cà
phê, thu về 2,4 tỷ USD, tăng 4,4% về lượng và tăng 55,6% về trị giá so với cùng kỳ
năm trước, đạt 91,7% kế hoạch năm. Tính riêng tháng 11, Việt Nam đã xuất khẩu
71,5 nghìn tấn, trị giá 152,5 triệu USD, tăng 123,06% về lượng và tăng 110,47% về
trị giá so với tháng trước đó.
21
Biểu đồ 2: Tình hình xuất khẩu cà phê của nước ta từ năm 1991 đến năm 2009
Nguồn: Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn
Mặc dù hàng năm kim ngạch xuất khẩu cà phê chiếm không lớn trong tổng
kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam (năm 2001 là 2,6%, năm 2002 là 2,0%, năm
2003 là 2,54%, năm 2007 là 10%), nhưng việc xuất khẩu cà phê vẫn có vai trò rất
quan trọng đối với nền kinh tế Việt Nam, nó vừa cho phép tận dụng lợi thế của nền
kinh tế vừa tạo ra lực lượng ngoại tệ phục vụ cho quá trình công nghiệp hoá hiện
đại hoá ở Việt Nam. Tỷ lệ cà phê xuất khẩu chiếm 90% sản lượng cà phê gieo trồng
của cả nước. Tuy nhiên kim ngạch xuất khẩu còn chiếm tỷ lệ rất khiêm tốn trong
tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam (hàng năm chỉ chiếm dưới 10%). Mặt
khác, cà phê xuất khẩu của Việt Nam chủ yếu là cà phê Rubusta (cà phê vối), sản
lượng xuất khẩu tăng với tốc độ cao. So với lượng cà phê vối trên thị trường thế
giới, Việt Nam chiếm tỷ trọng ngày càng lớn, trở thành nước đứng đầu về sản xuất
và xuất khẩu loại cà phê này. Nếu như trước năm 2005 cà phê là mặt hàng có kim
ngạch xuất khẩu lớn thứ 9, chiếm 2,3% tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước và
lớn thứ 3 thế giới với thị phần trên 4% sau Braxin
22
( 17%) và Comlombia (10%) thì đến nay Việt Nam đã vươn lên đứng thứ 2 thế
giới chỉ sau Braxin.
Lượng cà phê xuất khẩu trong tháng 11/2011 là 70,7 nghìn tấn, trị giá đạt 150
triệu USD, tăng 122,1% về lượng và tăng 108,9% về trị giá so với tháng trước. Tính
đến hết 11 tháng/2011, lượng cà phê xuất khẩu của nước ta đạt gần 1,1 triệu tấn, trị
giá đạt 2,43 tỷ USD, tăng 4,4% về lượng và tăng 55,5% về trị giá so với 11


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status