A. ĐẶT VẤN ĐỀ
Từ xưa đến nay, dư luận xã hội luôn là một vấn đề chiếm vị trí quan trọng trong
việc điều chỉnh các mối quan hệ xã hội. Nó đã xuất hiện từ lâu trong lịch sử, hình
thành, tồn tại và phát triển cùng với quá trình vận động, phát triển của bản thân xã
hội loài người. Dư luận xã hội có sự tác động đối với lĩnh vực pháp luật, nhưng
đồng thời pháp luật cũng có sự tác động trở lại với dư luận xã hội. Nhất là trong
tình hình hiện nay, tính dân chủ, bình đẳng của con người ngày càng được nâng
cao và coi trọng, nên các vấn đề dư luận xã hội cũng ngày càng trở nên phức tạp.
Việc nghiên cứu về vấn đề này đã trở nên hết sức cần thiết để có thể hiểu và hoàn
thiện thêm về nó. Vì vậy em xin đi sâu tìm hiểu vấn đề: “Phân tích các yếu tố ảnh
hưởng đến sự hình thành dư luận xã hội? Cho ví dụ minh họa ở từng yếu tố? Ý
nghĩa của nghiên cứu dư luận xã hội đối với lĩnh vực pháp luật”.
B. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
I. Khái quát chung về dư luận xã hội
1. Định nghĩa
Trên các sách, báo, tạp chí có khá nhiều định nghĩa về dư luận xã hội được nêu
ra, nhưng chung quy lại, ta có thể định nghĩa như sau:
Dư luận xã hội là tập hợp các ý kiến, thái độ có tính chất phán xét, đánh giá của
các nhóm xã hội hay của xã hội nói chung trước những vấn đề mang tính thời sự,
có liên quan tới lợi ích chung, thu hút được sự quan tâm của nhiều người và được
thể hiện trong các nhận định hoặc hành động thực tiễn của họ.
2. Đặc điểm của dư luận xã hội.
1
Chủ thể của dư luận xã hội không phải là các cá nhân mà là toàn thể xã hội, là
quần chúng nhân dân, các tổ chức của xã hội. Vì thế, lập trường giai cấp được xem
là cơ sở để xác định chủ thể của dư luận xã hội. Bản thân dư luận xã hội phản ánh
rõ nét vị thế xã hội trong mối tương tác giữa các cá nhân, với các nhóm xã hội xuất
phát từ lợi ích và tương quan xã hội giữa người này với người khác.
Thông thường, khi nghiên cứu về dư luận xã hội, chúng ta thấy nổi lên các đặc
điểm sau:
- Dư luận xã hội là tập hợp những ý kiến, quan điểm, thái độ mang tính chất
đồng thời phụ thuộc và ý nghĩa của các sự việc, hiện tượng đó đối với các nhu cầu,
lợi ích về vật chất, tinh thần của cộng đồng người mang dư luận. Khuynh hướng
chung trong các ý kiến đánh giá và thái độ của công chúng là sự bày tỏ tán thành,
ủng hộ đối với các sự việc, sự kiện phù hợp với các nhu cầu, lợi ích của mình và
lên tiếng phê phán hay phản đối những sự việc, sự kiện đi ngược lại, xâm hại tới
lợi ích của họ. Trong thực tế xã hội, có những sự việc sự kiện xảy ra ban đầu chỉ
ảnh hưởng tới lợi ích của nhóm xã hội nhất định, nhưng sự phát triển tiếp theo đã
cho thấy sự liên quan của chúng tới lợi ích của các nhóm xã hội khác. Trong bối
cảnh đó, các nhóm xã hội sẽ bước vào cuộc trao đổi ý kiến, thảo luận tại các thời
điểm khác nhau. Bên cạnh đó, những sự kiện, hiện tượng có ảnh hưởng mạnh mẽ,
trực tiếp đến đại đa số người dân như dịch bệnh, thiên tai, đồng tiền mất giá sẽ
tạo ra các luồng dư luận xã hội nhanh chóng chỉ trong tời gian ngắn. Như vậy,
muốn nghiên cứu, tìm hiểu nguồn gốc phát sinh dư luận xã hội thì phải xuất phát từ
chính bản thân các sự việc, hiện tượng xảy ra trong thực tế xã hội với quy mô,
cường độ và tính chất của chúng
3
Ví dụ như: Trường hợp giá xăng dầu tăng nhanh trong những ngày gần đây. Xăng
dầu cung cấp nhiên liệu cho giao thông vận tải, các ngành công nghiệp, cho sinh
hoạt thường ngày của con người… Tăng giá xăng dầu kéo theo sự tăng giá của
nhiều loại mặt hàng khác, nhưng tiền lương không có sự tăng tương ứng và đồng
nhất, gây nhiều khó khăn cho đời sống của người dân. Việc xăng dầu tăng giá ảnh
hưởng lớn đến đời sống của hầu hết đại đa số người dân, nên nó nhanh chóng tạo
thành làn sóng dự luân lớn, chiếm được sự quan tâm của nhiều người.
2. Hệ tư tưởng, trình độ học vấn, kiến thức, hiểu biết, kinh nghiệm thực tế xã
hội của con người
Sự hình thành dư luận xã hội phụ thuộc vào hệ tư tưởng, trình độ học vấn,
kiến thức, hiểu biết, kinh nghiệm thực tế xã hội của các cá nhân, các nhóm xã hội
trong xã hội. Nói cách khác là mức độ chuẩn bị của cộng đồng người để tiếp nhận
các sự việc, sự kiện, hiện tượng cần thiết. Nếu thông tin không đầy đủ thì dẫn đến
khả năng tranh luận kéo dài, không hình thành dư luận xã hội. Hệ tư tưởng, trình
cơ bản cho sự phát triển của hệ thống truyền thông đại chúng. Trên phương
diện này, hệ thống truyền thông đại chúng ở đất nước ta đã có những bước
tiến nổi bật trong những năm đổi mới. các chương trình phát thanh, truyền
hình, xuất bản phẩm trở nên đa dạng, phong phú hơn, cập nhật hơn với các
thông tin về đời sống chính trị, kinh tế, văn hóa, chính trị của đất nước; sự
phản ánh của các thông tin cũng chân thực và khách quan hơn.
- Các phương tiện thông tin đại chúng là diễn đàn ngôn luận công khai : ngày
nay, trình độ dân trí của người dân được nâng cao. Các tầng lớp nhân dân
5
cũng ngày càng tham gia rộng rãi hơn vào đời sống chính trị xã hội của đất
nước. Trong bối cảnh đó, các phương tiện thông tin đại chúng có trách
nhiệm truyền tải thông tin về các ý kiến phán xét, đánh giá, thái độ của công
chúng đối với các sự kiện, hiện tượng, diễn ra trong đời sống xã hội. bằng
cách này, công chúng sẽ có được cơ hội tham gia ngày càng tích cực và có
trách nhiệm hơn vào quá trình chuẩn bị, thực hiện và giám sát và đánh giá
các chủ trương, chính sách của đảng và Nhà nước cũng như các hoạt động
cụ thể, thường xuyên của các tổ chức chính quyền.
- Các phương tiện thông tin đại chúng điều chỉnh, định hướng sự phát triển
của dư luận xã hội: hệ thống truyền thông đại chúng phải dành phần thích
đáng cho việc đăng tải các thông tin được kiểm chứng và mang tính định
hướng xây dựng. Đặc biệt, khi các sự việc, sự kiện diễn ra có tầm quan trọng
và liên quan đến lợi ích của đất nước, của dân tộc, đụng chạm đến các giá trị
chuẩn mực của xã hội cơ bản, khi đó định hướng thông tin phải phản ánh
được quan điểm của Đàng và Nhà nước, ý kiến chính thức của cơ quan chức
năng và phản ánh được sự phán xét, đánh giá chung của xã hội
Ví dụ: Trước đây chủ yếu là báo in nhưng ngày nay báo mạng phát triển mạnh mẽ.
Sự phát triển nhanh chóng của các trang báo mạng đã nhanh chóng đưa thông tin
đến người dân. Họ có nhiều cơ hội hơn để kịp thời nắm bắt thông tin, bày tỏ quan
điểm cá nhân trên các diễn đàn. Vì thế dư luận xã hội nhanh chóng được tạo ra và
lan truyền với tốc độ chóng mặt.
7
dụng, khi nó thường biểu hiện dưới dạng hình thức biểu tượng, hò vè, tiếu lâm,
châm biếm.
Ví dụ: Trong cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước, dưới chế độ Mĩ- Diệm, người
dân Việt Nam không có tự do dân chủ, cũng như không được phép tham gia, bàn
bạc, hay thảo luận những vấn đề mang tính chính trị cũng như trong đời sống văn
hóa. Người dân bị gò bó, ép buộc trong khuôn khổ pháp luật không có tự do dân
chủ nên việc hình thành dư luận rất khó khăn, thường người dân chỉ tạo ra những
câu hò vè, châm biếm về chế độ Mĩ- Diệm. Nhưng khi đất nước thống nhất, người
dân được tự do bàn bạc, thảo luận, được trực tiếp đi bỏ phiếu bầu ra cơ quan lãnh
đạo đất nước thuộc các cấp ngành từ trung ương đến dịa phương, được trực tiếp
bày tỏ ý kiến, nguyện vọng, yêu cầu, nêu ra các ý kiến về chế độ chính trị về văn
hóa và các nhu cầu thiết yếu khác. Lúc này, xã hội có nhiều dư luận khách quan
hơn.
6. Các phong tục tập quán, hệ thống các giá trị, chuẩn mực xã hội đang hiện
hành trong xã hội
Các phong tục tập quán, hệ thống các giá trị, chuẩn mực xã hội đang hiện
hành trong xã hội trong chừng mực nhất định tác động tới sự hình thành dư luận xã
hội. về cơ bản, các phong tục tập quán, các giá trị, chuẩn mực xã hội hiện hành, tạo
ra những khuôn mẫu tư duy, khuôn mẫu hành động làm cơ sở cho việc phán xét,
đánh giá, khác nhau về cùng vấn đề. Điều này thể hiện rõ nét qua sự nhìn nhận
khác nhau giữa các thế hệ đối với những biểu hiện của lối sống hiện đại như cách
ăn mặc, các sản phẩm ca nhạc và phim ảnh, cách sinh hoạt, vui chơi, giải trí
Ví dụ: Về vấn đề sống thử trước hôn nhân, dư luận xã hội xung quanh vấn đề này
khá phức tạp. Nhiều người không đồng tình với vấn đề này bởi cho rằng nó đi
ngược lại phong tục tập quán, thuần phong mĩ tục, quan niệm về trinh tiết của
8
người con gái và những hệ quả khôn lường “hậu sống thử”. Tuy nhiên, cũng không
ít người lại có quan điểm ngược lại, ủng hộ vấn đề này vì cho rằng nó giải quyết
được nhiều vấn đề rất thiết thực như bù đắp tình cảm, giải quyết vấn đề về tài
phản ánh thông qua dư luận xã hội. Nếu dư luận xã hội đồng tình, ủng hộ họat
động đó thì sẽ có thể thực hiện một cách dễ dàng. Nhưng ngược lại, nếu dư luận
không ủng hộ thì sẽ gây rất nhiều trở ngại, khó khăn. Việc cần thiết khi tổ chức
thực hiện pháp luật đó là cần phải chú ý đến dư luận xã hội, tùy theo tình hình phản
ứng mà có những động thái cho phù hợp.
Trong hoạt động xét xử của toà án hay hoạt động truy cứu trách nhiệm pháp
lý của các cơ quan, nhà chức trách có thẩm quyền luôn gây được sự chú ý của dư
luận xã hội, nhất là các vụ án dân sự, hôn nhân gia đình, rồi những vụ tham
nhũng Dư luận (quần chúng) thường quan tâm xem việc xử lý của các cơ quan có
thẩm quyền có nghiêm minh, công bằng, hay còn có sự bao che nương nhẹ
Tuỳ theo tính chất, tầm quan trọng của vấn đề, tuỳ theo phản ứng của dư
luận và kết quả nó mang lại hay hậu quả mà nó có thể gây ra, sẽ làm thay đổi cách
ứng xử trong việc thực hiện pháp luật khác nhau. Nếu dư luận đi sai vấn đề, truyền
bá tư tưởng, hoạt động sai trái thì việc thực hiện pháp luật cũng không còn nữa.
Thay vào đó là những vi phạm pháp luật, và ngược lại. Chính lẽ đó mà việc thấy
được, hiểu được dư luận trong tư tưởng của mỗi người luôn phải được chú trọng,
quan tâm một cách đầy đủ về cả thông tin lẫn sự hiểu biết.
10
4. Trong việc bảo vệ pháp luật.
Đối với những mối quan hệ pháp luật quan trọng, mang tính chất quốc gia
như nền kinh tế, chính trị, chủ quyền lãnh thổ… nếu bị xâm phạm thì ngay lập tức,
dư luận xã hội sẽ lên tiếng mạnh mẽ nhằm bảo vệ các mối quan hệ pháp luật một
cách chính đáng, thể hiện ý chí, quyền tự chủ của một dân tộc.
Ví dụ điển hình nhất là tình hình tranh chấp quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của
Việt Nam và Trung Quốc. Khi tình hình giữa 2 nước trong việc tranh chấp trở nên
căng thẳng, dư luận Việt Nam luôn đóng vai trò quan trọng trong việc khẳng định
chủ quyền của Việt nam đối với 2 quần đảo này.
5. Trong việc giáo dục ý thức pháp luật.
Dư luận xã hội luôn hỗ trợ cùng pháp luật trong việc điều chỉnh hành vi của
con người, duy trì trật tự trong toàn xã hội cũng như trong mỗi cộng đồng. Dư luận