LỜI NÓI ĐẦU:
Trong điều kiện nền kinh tế thị trường Việt Nam hội nhập ngày càng
sâu rộng với kinh tế quốc tế thì các giao dịch dân sự, thương mại được xem
như một công cụ hữu hiệu giúp các chủ thể tìm kiếm được lợi ích của mình.
Một nền kinh tế năng động luôn chứa đựng những yếu tố rủi ro và việc nhận
biết chúng, khắc phục và ngăn chặn những rủi ro ngay từ chính những giao
dịch được kí kết là một cách làm khôn ngoan và chủ động mà các nhà làm
luật đã dự phòng thông qua việc thiết kế qui định pháp luật về các biện pháp
bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự. Và một trong những hoạt động tích cực
và hiệu quả nhất của con người nhằm hướng tới mục đích đó là việc tham
gia vào các loại giao dịch khác nhau, trong đó có giao dịch dân sự. Giao dịch
dân sự là một trong những phương thức hữu hiệu cho cá nhân, pháp nhân, hộ
gia đình, tổ hợp tác xác lập và thực hiện các quyền nghĩa vụ dân sự nhằm
thỏa mãn các nhu cầu trong sinh hoạt, tiêu dùng, và trong sản xuất kinh
doanh. Giao dịch dân sự càng có ý nghĩa qua trọng trong điều kiện của nền
kinh tế thị trường định hướng XHCN ở nước ta trong giai đoạn hiện nay.
Thực tế cho thấy giao dịch dân sự vi phạm sự tự nguyện của chủ thể vẫn là
vấn đề phức tạp, gây ra nhiều vướng mắc. Việc nắm vững và hiểu rõ một số
vấn đề về giao dịch dân sự vi phạm sự tự nguyện của chủ thể có ý nghĩa rất
quan trọng với mỗi người trong xã hội hiện nay.
GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ:
I. Giao dịch dân sự và giao dịch dân sự vi phạm sự tự nguyện của chủ
thể:
1, Giao dịch dân sự:
Theo Điều 121 BLDS 2005 :“Giao dịch dân sự là hành vi pháp lý đơn
phương hoặc hợp đồng của cá nhân, pháp nhân hoặc của các chủ thể khác
nhằm làm phát sinh, thay đổi hoặc làm chấm dưt quyền và nghĩa vụ dân sự”
Hợp đồng dân sự là giao dịch trong đó thể hiện ý chí của hai hay nhiều
bên nhằm làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự. Hợp
đồng dân sự là loại giao dịch dân sự phổ biến nhất trong đời sống hằng ngày.
Thông thường hợp đồng có hai bên tham gia trong đó thể hiện sự thống nhất
được hành vi của mình.
Nguyên tắc tự do, tự nguyện cam kết, thỏa thuận là một nguyên tắc cơ
bản trong giao dịch dân sự. Điểm c khoản 1 Điều 122 BLDS 2005 quy định:
Chủ thể của giao dịch dân sự có thể là cá nhân, pháp nhân, tổ hợp tác, hộ gia
đình nhưng trực tiếp tham gia giao dịch bao giờ cũng là con người cụ thể.
Dù với tư cách cá nhân hay với tư cách đại diện cho pháp nhân, tổ hợp tác,
hộ gia đình thì người tham gia giao dịch dân sự cũng phải hoàn toàn tự
nguyện.
2
Tự nguyện được hiểu là sự phù hợp, thống nhất giữa mong muốn bên
trong với sự bày tỏ mong muốn đó ra bên ngoài bằng một hình thức nhất
định. Ý chí của chủ thể phải là ý chí đích thực, tức là nguyện vọng, mong
muốn chủ quan bên trong của chủ thể không bị tác động bởi bất cứ yếu tố
khách quan hay chủ quan nào khác dẫn tới việc chủ thể đó không nhận thức
hoặc kiểm soát được ý chí của mình. Giữa ý chí đích thực của chủ thể (bên
trong) với sự biểu hiện ý chí (sự biểu hiện ra bên ngoài) phải có sự thống
nhất. Nếu không có sự thống nhất ý chí thì chủ thể không có sự tự nguyện.
2. Giao dịch dân sự vi phạm sự tự nguyện của chủ thể:
Giao dịch dân sự vi phạm sự tự nguyện của chủ thể là giao dịch vi
phạm sự thống nhất giữa mong muốn bên trong với sự bày tỏ, thể hiện mong
muốn đó ra bên ngoài. Vi phạm sự tự nguyện trong giao dịch dân sự có thể
là hành vi vô ý hoặc cố ý thực hiện hoặc không thực hiện đúng những cam
kết, thỏa thuận, điều kiện mà một bên đưa ra và được bên kia chấp nhận.
Trong những trường hợp một người không muốn tham gia một giao
dịch nhưng họ buộc phải tham gia giao dịch đó hoặc muốn tham gia giao
dịch này nhưng buộc phải chấp nhận một nội dung khác vì những lý do nhất
định làm cho họ không xử sự khác được thì giao dịch đó sẽ bị coi là vi phạm
sự tự nguyện của chủ thể.
• Giao dịch dân sự vô hiệu do vi phạm sự tự nguyện của chủ thể:
Vô hiệu theo nghĩa thông thường là “không có hiệu lực, không có hiệu
+) Giao dịch dân sự vô hiệu do giả tạo theo quy định của pháp luật:
Điều 129 BLDS 2005 quy định: “Khi các bên xác lập giao dịch dân
sự một cách giả tạo nhằm che giấu một giao dịch khác thì giao dịch giả tạo
vô hiệu, còn giao dich bị che dấu vẫn có hiệu lực, trừ trường hợp giao dịch
đó cũng vô hiệu theo quy định của Bộ luật này. Trong trường hợp giao dịch
giả tạo nhằm trốn tránh nghĩa vụ với người thứ ba thì giao dịch đó vô hiệu”
Trên cơ sở xác định mục đích của việc xác lập giao dịch giả tạo, Điều
129 BLDS 2005 đã phân chia giao dịch dân sự được xác lập do giả tạo thành
hai trường hợp:
+) Giao dịch dân sự được xác lập với mục đích nhằm che giấu một giao dịch
khác:
Như vậy, ít nhất trong trường hợp này có hai giao dịch song song
tồn tại đó là giao dịch đích thực (bên trong) và giao dịch giả tạo (giao dịch
che dấu, thể hiện ra bên ngoài).
Giao dịch giả tạo để nhằm che giấu giao dịch khác luôn luôn vô hiệu,
còn giao dich đích thực (giao dịch bên trong) vẫn có hiệu lực pháp lý. Tuy
nhiên, nếu giao dịch đích thực cũng vi phạm vào các điều kiện có hiệu lực
của giao dịch dân sự thì có thể vô hiệu.
Vụ án cụ thể: A là thành viên của 1 Công ty TNHH có 3 thành viên
A,B,C. Năm 2002 vì cần vay tiền Ngân hàng nên A đồng ý cho công ty
4
mượn tài sản là 1.1992m2 đất để thế chấp vay. A,B,C đã lập 1 biên bản giả
có nội dung: công ty uỷ quyền cho A mua đất chứ không phải đất của A.
Nhưng biên bản này không được Ngân hàng chấp nhận vì thế họ đã phải làm
thủ tục bảo lãnh cho công ty vay tiền Ngân hàng bằng quyền sử dụng đất của
A. Tháng 4/2005 A xin rút khỏi Công ty và Công ty chỉ còn 2 thành viên B
và C. Đến tháng 6/2005 Công ty trả hết nợ, lấy các giấy tờ bảo lãnh tại ngân
hàng, nhưng không trả lại giấy tờ đất cho A mà lại tiến hành khởi kiện đòi A
phải giao đất cho công ty. Căn cứ kiện là biên bản giả lập ban đầu mà A sơ
suất không huỷ sau khi Ngân hàng không chấp nhận. Vậy, A có thể làm gì
yêu cầu Ngân hàng cung cấp các tài liệu gồm: hồ sơ vay vốn ban đầu (có sử
dụng biên bản giả) và hồ sơ vay vốn lần thứ hai (có giấy tờ của ông cam kết
bảo lãnh cho công ty vay tiền bằng tài sản của ông là quyền sử dụng
1.992m2 đất). Các chứng cứ này sẽ giúp ông chứng minh quyền sở hữu của
ông đối với diện tích 1.992m2.
(căn cứ theo phần tư vấn pháp luật của báo Kinh tế và đô thị )
- Giao dịch dân sự được xác lập với mục đích nhằm trốn tránh nghĩa vụ với
người thứ ba:
Trong trường hợp này, giao dịch dân sự được xác lập có sự tự nguyện
khi thể hiện ý chí, tuy nhiên sự thể hiện ý chí này lại nhằm mục đích trốn
tránh nghĩa vụ với một chủ thể khác. Thông thường, việc trốn tránh nghĩa vụ
với người thứ ba thường thể hiện ở hai trường hợp:
+ Bản thân chủ thể tham gia giao dịch đã tồn tại một nghĩa vụ với
một chủ thể khác, do đó để trốn tránh nghĩa vụ này, chủ thể đã xác giao dịch
giả tạo.
+ Khi tham gia giao dịch, chủ thể có thể phải thực hiện một nghĩa
vụ nhất định đối với Nhà nước nhưng chủ thể đã xác lập giao dịch với sự giả
tạo.
Giao dịch dân sự vô hiệu do giả tạo là giao dịch dân sự vô hiệu tuyệt
đối (đương nhiên vô hiệu), hay nói cách khác, giao dịch dân sự vô hiệu do
giả tạo là giao dịch dân sự không bị hạn chế về thời hiệu yêu cầu tòa án
tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu (Khoản 2 Điều 136 BLDS 2005).
3.2 Giao dịch dân sự được xác lập bởi sự nhầm lẫn:
- Khái niệm nhầm lẫn trong giao dịch dân sự:
Theo nghĩa thông thường, nhầm lẫn được hiểu là hành vi thực hiện
hoặc nhận thức không đúng với ý định của người thực hiện hành vi hay nhận
thức. Trong khoa học pháp lý, nhầm lẫn được hiểu là sự thể hiện không
chính xác ý muốn đích thực của một bên hoặc các bên trong giao dịch dân
sự. Hay nói theo cách khác, ở đó không có sự thống nhất giữa ý muốn thật
và ý chí bày tỏ ra bên ngoài của chủ thể. Bên cạnh đó, cũng có cách hiểu cho
Vụ án cụ thể: Công ty TNHH dịch vụ thương mại sản xuất Việt Á
Châu (bên mua) đã kiện Công ty TNHH Connell Bros (bên bán) để đòi bồi
thường thiệt hại do việc hàng hóa do Công ty TNHH Connell Bros cung cấp
không đạt yêu cầu về chất lượng. Cụ thể như sau: Ngày 7/7/2003, Công ty
TNHH dịch vụ thương mại sản xuất Việt Á Châu (Công ty Việt Á Châu) ký
hợp đồng số 241/03-VU mua của Công ty TNHH Connell Bros (Công ty
Connell Bros) sản phẩm Myflame 84527E, số lượng 16.080 kg (67 thùng
ống), đơn giá 2,9 USD/kg CIF HCMC, trị giá hợp đồng 46.632 USD, xuất
xứ hàng hóa: Vương quốc Anh. Sau đó, ngày 11/7/2003 các bên lại ký tiếp
7
hợp đồng số 243/03-VU mua 10.080 kg sản phẩm trên, trị giá 29.232 USD
và 5.987,472 kg sản phẩm Performax TF 1133, trị giá 20.357,40 USD. Điều
khoản chất lượng của hai hợp đồng này chỉ ghi “theo Bản đặc điểm kỹ
thuật” (same as Specifications).
Sau khi ký hợp đồng mua hàng với Công ty Connell Bros, bên mua đã
ký hợp đồng số 086/07-2003-VG-GCDI ngày 18/7/2003 gia công cán phủ
chất chống cháy lên vải Poly-oxford cho Xí nghiệp may Bình Thạnh thuộc
Công ty cổ phần sản xuất kinh doanh xuất nhập khẩu Bình Thạnh –
GILIMEX. Ngày 19/8/2003, bên mua đã giao lô hàng thành phẩm cho Xí
nghiệp may Bình Thạnh. Đến giữa tháng 9/2003, Xí nghiệp Bình Thạnh phát
hiện ra số hàng gia công không đạt yêu cầu do loại chất Myfame 84527E nói
trên: vải được gia công ra không khô, dẻo dính, bong tróc. Vì thế, Xí nghiệp
Bình Thạnh đã từ chối thanh toán tiền gia công cho bên mua.
Vụ kiện được xử sơ thẩm lần đầu tiên vào ngày 28/9/2004 và đã trải
qua bốn phiên xét xử với những kết luận khác nhau qua mỗi lần xét xử. Lần
xét xử sơ thẩm thứ nhất vào ngày 28/9/2004, Tòa án nhân dân TP. Hồ Chí
Minh đã bác yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn (Công ty Việt Á Châu) đòi
bị đơn bồi thường thiệt hại do hàng hóa cung cấp không đúng chất lượng và
chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn (Công ty Connell Bros) về yêu cầu
thanh toán tiền hàng còn thiếu của nguyên đơn đối với bị đơn