SKKN Sử dụng thí nghiệm để dạy học một số bài về chất lớp 11 nâng cao theo hướng tích cực ở trường trung học phổ thông. - Pdf 26


1
SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HOÁ
TRƯỜNG THPT YÊN ĐỊNH 3
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
SỬ DỤNG THÍ NGHIỆM ĐỂ DẠY HỌC MỘT SỐ BÀI VỀ CHẤT
LỚP 11 NÂNG CAO THEO HƯỚNG TÍCH CỰC Ở
TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG

Người thực hiện: Lưu Thị Thu Quyên
Chức vụ: Giáo viên
SKKN môn: Hóa học

THANH HOÁ NĂM 2013

MỤC LỤC
15
TÀI LIỆU THAM KHẢO 15
TÀI LIỆU THAM KHẢO 15
2

A. ĐẶT VẤN ĐỀ
1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Một trong những nhiệm vụ quan trọng nhất hiện nay của dạy học nói chung
và dạy học hóa học nói riêng là nghiên cứu và xây dựng nội dung việc giảng dạy
trong trường phổ thông sao cho thích hợp với những yêu cầu của khoa học và nhất
là đạt được mục tiêu giáo dục thế hệ trẻ thành những người thừa kế xây dựng Chủ
nghĩa xã hội vừa “hồng” vừa “chuyên”. Nghị quyết Trung ương 2 khóa VIII cũng
đã chỉ rõ: “Đổi mới phương pháp dạy học – đào tạo, khắc phục lối truyền thụ một
chiều, rèn luyện thành nếp tư duy sáng tạo cho người học, từng bước áp dụng
phương pháp tiên tiến và phương tiện hiện đại vào dạy học, đảm bảo điều kiện và

- Tiến hành các thí nghiệm có liên quan.
- Điều tra hiệu quả của phương pháp qua phiếu điều tra, qua chất lượng học tập của
học sinh.
4. PHẠM VI ĐỀ TÀI:
Đề tài nghiên cứu về vấn đề sử dụng thí nghiệm Hóa học để dạy học Hóa học
theo hướng dạy học tích cực trong phạm vi dạy học các bài dạy về chất lớp 11nâng
cao ở trường THPT .
B. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
1. LÝ LUẬN VỀ PHƯƠNG PHÁP
1.1. Vì sao cần sử dụng thí nghiệm trong giờ học bài học về chất ở môn Hóa
học
Để đáp ứng được phương pháp “Sử dụng thí nghiệm hoá học để dạy học hoá
học theo hướng dạy học tích cực” thì phải nói đến vị trí, vai trò của thí nghiệm hoá
học trong dạy học hoá học. Vì phương pháp thí nghiệm hoá học là phương pháp
dạy học mang tính đặc thù của khoa học hoá học – khoa học thực nghiệm. Thí
nghiệm hoá học được sử dụng theo đúng mục đích sẽ là nguồn học sinh khai thác,
tìm tòi phát hiện kiến thức, giúp phát huy tính tích cực, chủ động sáng tạo, phát huy
năng lực nhận thức và tư duy khoa học hoá học.
2

Thí nghiệm hóa học là một yếu tố đặc trưng trong hoạt động dạy học, là dạng
phương tiện trực quan chủ yếu, giữ vai trò cơ bản trong việc thực hiện các nhiệm
vụ dạy học hóa học ở trường phổ thông. Qua thí nghiệm hóa học, những kiến thức
lý thuyết về hóa học trở thành hiện thực.
Thí nghiệm hoá học được sử dụng theo những cách khác nhau để giúp học
sinh thu thập và xử lý thông tin nhằm hình thành khái niệm, tính chất chung và tính
chất của các chất vô cơ, hữu cơ cụ thể.
1.2. Thực trạng sử dụng thí nghiệm Hóa học trong bài dạy về chất ở trường
THPT
Đổi mới chương trình giáo dục phổ thông, mà trọng tâm là đổi mới phương

- Thí nghiệm do tự tay giáo viên biểu diễn trước học sinh gọi là thí nghiệm
biểu diễn của giáo viên.
- Thí nghiệm do học sinh tự làm gọi là thí nghiệm của học sinh, được chia làm
hai loại:
+ Thí nghiệm của học sinh trong khi học bài mới ở trên lớp để nghiên cứu
sâu hơn nội dung một bài học.
+ Thí nghiệm thực hành ở lớp học cũng do học sinh tự lamfnhuwng để ôn
tập củng cố kiến thức đã học và rèn luyện kỹ năng kỹ xảo làm thí nghiệm.
Ngoài các hình thức trên được dùng trong nội khóa còn có những thí nghiệm
ngoại khóa như các thí nghiệm vui dùng trong các buổi hội vui về hóa học.
Các mức độ của việc sử dụng thí nghiệm
Mức 1(ít tích cực): Giáo viên hoặc 1 học sinh thực hiện thí nghiệm biểu diễn
– học sinh quan sát hiện tượng nhưng chỉ để chứng minh có phản ứng xảy ra hoặc
một tính chất, một quy luật mà giáo viên đã nêu. ra.
Mức 2 (tích cực): Học sinh nghiên cứu thí nghiệm do giáo viên biểu diễn:
+ Học sinh nắm được mục đích của thí nghiệm
+ Quan sát mô tả hiện tượng
+ Giải thích hiện tượng
+ Học sinh rút ra kết luận
Mức 3 (Rất tích cực): Nhóm học sinh trực tiếp thực hiện, nghiên cứu thí
nghiệm.
+ Học sinh nắm mục đích thí nghiệm
4

+ Học sinh làm thí nghiệm.
+ Học sinh quan sát mô tả hiện tượng
+ Giải thích hiện tượng
+ Rút ra kết luận.
Việc sử dụng có hiệu quả thí nghiệm cần chú ý đến nội dung, vị trí bài dạy
trong chương trình, tính phức tạp của dụng cụ và độc hại của hoá chất, kĩ năng thí

sức học sinh, buộc học sinh phải huy động những phần kiến thức đã biết có liên
quan, so sánh, liên hệ, khái quát hóa… chúng để tìm cách giải quyết vấn đề. Nhờ
đó hình thành động cơ, hứng thú học tập, nhu cầu giải quyết vấn đề của học sinh.
Đồng thời trong quá trình xây dựng các giả thuyết các hoạt động tư duy của học
sinh được thúc đẩy, khả năng suy luận, trí tưởng tượng của học sinh được kích
thích, từ đó phát triển trí tuệ của học sinh.
Từ những nội dung trên, đặt ra yêu cầu đối với người dạy và người học khi sử
dụng thí nghiệm theo phương pháp nghiên cứu là:
Hoạt động của giáo viên Hoạt động của học sinh
-
GV chọn thí nghiệm bảo đảm:
+ Đạt mục tiêu của bài học
+ Dễ thành công
+ An toàn
- Biết được mục đích của thí nghiệm
và cách tiến hành thí nghiệm
-
GV hướng dẫn HS tiến hành thí
nghiệm
-
GV cần có hướng sử dụng thí
nghiệm một cách đúng đắn: hướng
dẫn HS quan sát sau thí nghiệm, nêu
hiện tượng, giải thích và rút ra kết
luận (có thể có phiếu học tập để
hướng dẫn HS tiến hành và khai
thác hết hiện tượng thí nghiệm).
- Học sinh phái nắm vững những
kiến thức có liên qua đã được học để đặt
ra các giả thuyết và lập kế hoạch giải

của amoniac.
Hoạt động của giáo viên Hoạt động của học sinh
-
- Nêu vấn đề: NH
3
có tan
trong nước không? Tan như thế nào
? NH
3
tan trong nước tạo thành
dung dịch có tính chất gì?
-
-
-
-
Huy động phần kiến thức có liên
quan: NH
3
là một chất phân cực,
nước là một dung môi phân cực,
chất phân cực dễ tan trong dung
môi phân cực.
-
Kế hoạch nghiên cứu: Thử tính tan
của NH
3
trong nước có hòa tan
trong dung dịch Phênolphtalein dựa
vào mô hình trong sách giáo khoa.
7

(3): nước phun lên nhanh chóng, dung
dịch không đổi màu.
(4): nước phun lên nhanh chóng, dung
dịch có màu hồng.
-
Quan sát hiện tượng khẳng định giả
thuyết (4) đúng, từ đó giải thích,
hoàn thành phiếu học tập số1: nước
phun rất mạnh vào lọ. Nguyên nhân
là do khí NH
3
tan rất nhiều trong
nước, làm giảm áp suất trong lọ,
nước phun vào lọ để cân bằng áp
suất. Dung dịch trong lọ có màu
hồng nên dung dịch amoniac có
tính kiềm.
Phiếu học tập số 1:
Thí nghiệm Cách tiến hành Hiện tượng Giải thích Kết luận
b. Ví dụ 2: Sử dụng thí nghiệm tính bazơ của NH
3
.
Hoạt động của giáo viên Hoạt động của học sinh
- Nêu vấn đề: Cấu trúc của
-
Huy động phần kiến thức có liên
8

NH3 khác với các dung dịch NaOH,
KOH Vậy NH3 thể hiện tính bazo

Phiếu học tập số 2:
Thí nghiệm Cách tiến hành Hiện tượng Giải thích Kết luận
c. Ví dụ 3: Nghiên cứu thí nghiệm tính ôxi hóa của axit HNO
3
.
Hoạt động của giáo viên Hoạt động của học sinh
- Nêu vấn đề: Tại sao axit
nitơric có tính ôxi hóa? tính ôxi hóa
của axit nitơric được biểu hiện như
thế nào?
- Giáo viên xác nhận: sản
phẩm của axit nitơric rất phong phú
có thể làm: NH
4
NO
3
, N
2
, N
2
O, NO,
NO
2
.
-
Huy động phần kiến thức có liên
quan:
+ Các số oxi hóa của nitơ: -3, 0, +1,
+2, +3, +4, +5.Trong phân tử HNO
3

ôxi hóa mạnh, tác dụng được với hầu
hết kim loại, một số phi kim và hợp
chất có tính khử. Khả năng ôxi hóa
của axit nitơric phụ thuộc vào nồng
độ của axit và độ hoạt động của chất
phản ứng với axit và nhiệt độ.
-
Các giả thuyết:
(1): Cu không phản ứng với HNO
3
.
S không phản ứng với HNO
3
FeO + HNO
3
→ Fe(NO
3
)
2
+ H
2
O.
(2): Cu phản ứng với HNO
3
dù loãng
hay đặc có thể tạo thành các sản phẩm
như: NH
4
NO
3

3
)
2
+ 2NO
2
+
2H
2
O
3Cu + 8HNO3(l) → 3Cu(NO
3
)
2
+
2NO + 4H
2
O
S + 6HNO
3
đ → H
2
SO
4
+ 6NO
2
+
2H
2
O
3FeO + 10HNO

Cu(NO
3
)
2
.
-
Các giả thuyết:
(1) 2NaNO
3
→ 2NaNO
2
+ O
2
Cu(NO
3
)
2
→ Cu(NO
2
)
2
+ O
2
(2) 4NaNO
3
→ 2Na
2
O+ 4NO
2
+ 2O

phân hủy, sản phẩm của phản ứng
tùy thộc vào bản chất của cation kim
loại tạo muối:
+ Muối nitrat của kim loại hoạt động
mạnh (trước Mg) phân hủy thanh
muối nitrit và ôxi.
+ Muối nitrat của kim loại hoạt động
(từ Mg đến Cu) phân hủy thành ôxit
kim loại, NO
2
, ôxi.
+Muối nitrat của kim loại kém hoạt
động (sau Cu) nhiệt phân thành kim
loại, NO
2
và oxi.
(4) 2NaNO
3
→ 2NaNO
2
+ O
2
2Cu(NO
3
)
2
→ 2CuO + 4NO
2
+ O
2

- Làm thí nghiệm: Giáo viên thực
-
Huy động phần kiến thức có liên
quan:
+ Độ tan của muối phốt phát: muối
Ag
3
PO
4
không tan có màu vàng.
- Kế hoạch nghiên cứu: dùng thí
12

hiện thí nghiệm giữa Na
3
PO
4
với
AgNO
3
sau đó nhỏ vào giọt dung
dịch HNO
3
vào ống nghiệm
- Kết luận: thuốc thử để nhận
biết Ion PO
4
3-
trong dung dịch muối
phốt phát là dung dịch AgNO

→ H
3
PO
4
+ 3AgNO
3
Phiếu học tập số 5:
Thí nghiệm Cách tiến hành Hiện tượng Giải thích Kết luận
C. KẾT LUẬN – KIẾN NGHỊ
1. Kết quả nghiên cứu.
Tôi đã tiến hành kiểm tra mức độ tiếp thu kiến thức và mức độ ghi nhớ kiến
thức của học sinh 2 lớp đối chứng và thực nghiệm để so sánh.
Kết quả cụ thể:
Kết quả thực
nghiệm
Điểm
3-4
Điểm
5-6
Điểm
7-8
Điểm
9-10
SL % SL % SL % SL %
Lớp thực
nghiệm C
1
1 2,5 12 27 25 57 6 13,5
Lớp đối
chứng C

Do thời gian không nhiều dựa trên ý kiến chủ quan của bản thân nên việc
nghiên cứu còn chưa sâu, và còn nhiều thiếu sót. Mặc dù còn nhiều hạn chế, song
tôi hi vọng ít nhiều cũng là đóng góp nhỏ, góp phần nâng cao chất lượng dạy và
học môn Hóa học ở trường trung học phổ thông.
Tôi mong nhận được sự góp ý, phê bình của các cộng sự, nhà chuyên môn
và các thầy cô giáo.
Xin chân trọng cảm ơn!
Xác nhận của thủ trưởng đơn vị: Tôi xin cam đoan SKKN này là do tôi
viết, không sao chép của người khác.
Người viết

14

Lưu Thị Thu Quyên

TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Sách giáo khoa Hóa học 11 Nâng cao – Lê Xuân Trọng (Tổng Chủ biên)
NXB Giáo dục
2. Sách giáo viên Hóa học 11 Nâng cao – Lê Xuân Trọng (Tổng Chủ biên)
NXB Giáo dục
3. Lý luận dạy học hóa học –Nguyễn Ngọc Quang (Tổng Chủ biên) NXB Giáo
dục- Hà Nội
4. Thí nghiệm thực hành lý luận dạy học hóa học – Nguyễn Văn Dậu – Thái Lữ
. Trường Đại Học Vinh.
5. Tài liệu bồi dưỡng giáo viên thực hiện chương trình sách giái khoa 11- Vụ
giáo duc trung học NXB Giáo dục
15


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status