Giải pháp tối ưu mô hình Quản lý dự án Trung tâm triển lãm và Quảng trường xanh – tỉnh Đồng nai - Pdf 26

TIỂU LUẬN

ĐỀ TÀI:
GIẢI PHÁP TỐI ƯU MÔ HÌNH QLDA
“Trung tâm thông tin triển lãm và quảng trường xanh
Tỉnh Đồng Nai”

(Rất mong nhận được ý kiến đóng góp của tất cả các bạn)
Biên Hòa tháng 09/2009
MỤC LỤC
Trang
Phân I: Lời nói đầu
Phần II: Giới thiệu tình huống
I/ Những đối tượng liên quan đến tình huống.
A. Những đối tượng liên quan.
B. Giới thiệu sơ lược dự án.
1. Vị trí, địa điểm, Quy mô dự án
2. Tính chất, mục tiêu dự án
3. Nội dung thiết kế cơ sở, lập dự án đầu tư
4. Các yêu cầu thiết kế và chỉ tiêu KTKT chủ yếu
5. Chủ đầu tư
6. Đơn vị QLDA
7. Nguồn vốn lập dự án
8. Thời gian lập dự án
9. Đơn vị tư vấn LDA
II. Căn cứ để thiết lập tình huống.
1. Giới thiệu sơ lược về chủ đầu tư.
2. Giới thiệu sơ lược về đơn vị QLDA.
3. Căn cứ để thiết lập tình huống.
4. Tình huống xảy ra đối với đơn vị QLDA
Phần III. Phân tích tình huống

Tài liệu tham khảoPHẦN I.
LỜI NÓI ĐẦU
hực hiện Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng về
công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ công chức và nhằm tiêu chuẩn hóa
cán bộ, công chức nhà nước theo chức danh, UBND Tỉnh Đồng Nai đã
triển khai xây dựng đề án phát triển nguồn nhân lực phục vụ kinh tế xã
hội tỉnh Đồng Nai giai đoạn 2006 – 2010, tầm nhìn đến 2020;
Triển khai kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng cán bộ công chức của UBND tỉnh Đồng
Nai năm 2009, Sở nội vụ tỉnh Đồng Nai và Học viện hành chính (Thuộc Học viện chính
trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh) đã tổ chức lớp Quản lý Nhà nước chương trình
chuyên viên chính tại Trung tâm giáo dục thường xuyên tỉnh Đồng Nai.
Qua thời gian học tập nghiêm túc, lớp học đã được các giảng viên, các thầy, cô
giáo Học viện Hành chính tận tình giảng dạy, truyền đạt 03 khối kiến thức lớn:
+ Nhà nước và pháp luật.
+ Hành chính Nhà nước và công nghệ hành chính.
+ Quản lý Nhà nước đối với ngành, lĩnh vực.
Những kiến thức thu nhận được qua quá trình học tập là vô cùng bổ ích và thiết
thực, tạo điều kiện nâng cao nhận thức, thay đổi những kỹ năng để thực thi công vụ của
cán bộ công chức. Vận dụng tốt kiến thức đã được học vào thực tiễn sẽ góp phần hoàn
thiện bộ máy quản lý Nhà nước, nâng cao năng lực, hiệu quả quản lý Nhà nước trong lĩnh
vực công tác của bản thân.
Vận dụng kiến thức đã được thầy cô truyền đạt, kết hợp với những nhu cầu đòi hỏi
bức xúc, những tình huống trong công tác quản lý đã và đang xảy ra tại đơn vị cần phải
giải quyết, học viên mạnh dạn nghiên cứu đề tài:
“Giải pháp tối ưu mô hình Quản lý dự án: Trung tâm triển lãm và Quảng
trường xanh – tỉnh Đồng nai”.
Dự án đầu tư “Trung tâm thông tin triển lãm và Quảng trường xanh – tỉnh Đồng

“Giải pháp tối ưu mô hình Quản lý dự án: Trung tâm triển lãm và Quảng trường
xanh – tỉnh Đồng nai”.
Đề tài giải quyết tình huống xuất phát từ một Quyết định hành chính cá biệt đối
với một công trình nhưng phạm vi nghiên cứu liên quan nhiều lĩnh vực, nhiều ngành
nghề khác nhau, trong lúc thời gian tiếp xúc, nghiên cứu hồ sơ còn rất ít, trình độ và kinh
nghiệm của bản thân còn có hạn. Do đó những ghi nhận, đánh giá trong tiểu luận này chỉ
là ý kiến cá nhân, còn mang tính sơ lược, chủ quan vì vậy khó tránh khỏi những sai sót
nhất định. Kính mong các thầy giáo, cô giáo và các bạn đọc góp ý chân thành để đề tài
thêm hoàn thiện và vận hành có hiệu quả cao trong thực tiễn.

PHẦN II.
GIỚI THIỆU TÌNH HUỐNG.
I. NHỮNG ĐỐI TƯỢNG LIÊN QUAN ĐẾN TÌNH HUỐNG:
A. CÁC ĐỐI TƯỢNG LIÊN QUAN:
Ngày 15/12/2008 Uỷ ban nhân dân tỉnh Đồng Nai có Quyết định số 4281/QĐ-UBND
về việc giới thiệu địa điểm cho Sở Công Thương Đồng Nai lập dự án đầu tư Trung tâm
thông tin triển lãm và Quảng trường xanh tại phường Thống Nhất, thành phố Biên Hoà.
Trong đó:
1. Giao Sở Công thương làm chủ đầu tư dự án.
 Lập nhiệm vụ thiết kế.
 Lập dự án đầu tư.
 Lựa chọn hình thức QLDA.
+ Lựa chọn hình thức QLDA.(Giải quyết tình huống)
+ Tổ chức lựa chọn đơn vị tư vấn QLDA.
+ Ra Quyết định giao nhiệm vụ QLDA.
• Trung tâm tư vấn công nghiệp tổ chức thực hiện tư vấn QLDA.
- Lựa chọn giải pháp tổ chức QLDA.(Chọn Giải pháp tình huống)
- Quyết định thành lập ban QLDA
- Triển khai các công tác chuẩn bị khác….
• Các đơn vị liên quan phối hợp hỗ trợ ….

- Tính chất, quy mô, cơ cấu phân khu chức năng sử dụng đất, tổ chức không gian quy
hoạch kiến trúc cảnh quan, hệ thống hạ tầng kỹ thuật tuân thủ theo định hướng phát triển
chung của thành phố Biên Hòa.
- Tạo cơ sở pháp lý cho việc tiến hành triển khai xây dựng, quản lý xây dựng và đầu
tư xây dựng.
3/. Nội dung Thiết kế cơ sở, lập dự án đầu tư:
- Khảo sát địa hình, khảo sát địa chất phục vụ lập dự án đầu tư.
- Nghiên cứu đánh giá các điều kiện tự nhiên, hiện trạng, lựa chọn giải pháp quy
hoạch và thiết kế kiến trúc thích hợp nhất, lựa chọn mô hình khu trung tâm triển lãm và
khu hội nghị hiện đại, hài hòa với quy hoạch đô thị của TP. Biên Hòa.
- Xác định các chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật chủ yếu về hạ tầng xã hội và hạ tầng kỹ thuật
của khu vực thiết kế.
- Thiết kế, quy hoạch tổng mặt bằng sử dụng đất, xác định chỉ tiêu cho từng lô đất về
diện tích sử dụng đất, mật độ xây dựng, tầng cao công trình
- Thiết kế cơ sở hệ thống hạ tầng kỹ thuật:
+ Thiết kế san nền.
+ Thiết kế mạng lưới đường giao thông nội bộ, lộ giới, chỉ giới đường đỏ và chỉ
giới xây dựng đối với hệ thống công trình ngầm.
+ Xác định nhu cầu và nguồn cấp nước, thiết kế mạng lưới đường ống cấp nước
và các thông số kỹ thuật cần thiết.
+ Thiết kế hệ thống thoát nước mưa, nước thải.
+ Thiết kế hệ thống cấp điện, trạm phân phối, mạng lưới đường dây trung thế, hạ
thế và chiếu sáng đô thị.
+ Thiết kế hệ thống bưu chính viễn thông.
+ Thiết kế cảnh quan, hệ thống cây xanh, quảng trường xanh…
- Thuyết minh tổng hợp, khái toán vốn đầu tư công trình trong đó bao gồm: Chi phí
xây dựng, Chi phí thiết bị, Chi phí QLDA, Chi phí chuẩn bị đầu tư; Chi phí khác; Chi phí
bồi thường giải tỏa, Dự phòng phí ….v…v.
- Đánh giá tác động môi trường đô thị và đề xuất biện pháp để giảm thiểu ảnh hưởng
xấu đến môi trường đô thị.

Sở Công Thương là cơ quan chuyên môn thuộc Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố
trực thuộc trung ương (sau đây gọi chung là Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh) có chức năng
tham mưu, giúp Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh thực hiện chức năng quản lý nhà nước về công
thương, bao gồm: cơ khí; luyện kim; điện; năng lượng mới; năng lượng tái tạo; dầu khí
(nếu có); hóa chất; vật liệu nổ công nghiệp; công nghiệp khai thác mỏ và chế biến khoáng
sản; công nghiệp tiêu dùng; công nghiệp thực phẩm; công nghiệp chế biến khác; lưu
thông hàng hoá trên địa bàn tỉnh; xuất khẩu; nhập khẩu; thương mại biên giới (nếu có);
quản lý thị trường; quản lý cạnh tranh; xúc tiến thương mại; kiểm soát độc quyền; chống
bán phá giá; chống trợ cấp, bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng; thương mại điện tử; dịch
vụ thương mại; hội nhập kinh tế; quản lý cụm, điểm công nghiệp trên địa bàn; các hoạt
động khuyến công; các dịch vụ công thuộc phạm vi quản lý của Sở.
Sở Công Thương có tư cách pháp nhân, có con dấu và tài khoản riêng; chịu sự chỉ
đạo, quản lý về tổ chức, biên chế và công tác của Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh, đồng thời
chịu sự chỉ đạo, kiểm tra, hướng dẫn chuyên môn, nghiệp vụ của Bộ Công Thương.
1.2 Vai trò, trách nhiệm Chủ đầu tư trong giải quyết tình huống:
+ Thay mặt UBND tỉnh làm chủ đầu tư dự án.
+ Triển khai thực hiện dự án theo luật định “Chủ đầu tư thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn
kể từ giai đoạn chuẩn bị dự án, thực hiện dự án đến khi nghiệm thu bàn giao đưa công
trình vào khai thác sử dụng bảo đảm tính hiệu quả, tính khả thi của dự án và tuân thủ các
quy định của pháp luật” (NĐ 12 CP).
2. Giới thiệu sơ lược về Chức năng, nhiệm vụ của đơn vị QLDA:
2.1. Quá trình hình thành và phát triển:
Trung Tâm tư vấn Công nghiệp Đồng Nai là đơn vị sự nghiệp có thu trực thuộc
Sở Công Thương Đồng Nai. Tiền thân của Trung tâm Tư vấn Công nghiệp Đồng Nai là
Ban QLDA chuyên ngành điện, được thành lập năm 1998 là đơn vị hành chính sự nghiệp
có thu tự trang trãi: lấy thu bù chi, có tích lũy để đầu tư mở rộng dịch vụ, Nhà nước
không giao chỉ tiêu biên chế hưởng lương ngân sách Nhà nước. Năm 2001 theo công văn
số 1802/QĐ.CT.UBT ngày 8/6/2001 của Chủ tịch UBND tỉnh Đồng Nai về việc: “Đổi
tên Ban QLDA chuyên ngành điện thành Trung tâm Tư vấn Công nghiệp Đồng Nai”
Sau hơn 10 năm hình thành và phát triển, được sự hỗ trợ tích cực, quan tâm của

được uỷ quyền.” (NĐ 12 CP).
2.4 Cơ cấu tổ chức của Trung tâm
(Bản vẽ sơ đồ tổ chức)
Cơ cấu tổ chức bộ máy của Đơn vị được xây dựng theo mô hình trực tuyến chức
năng, mỗi phòng có một nhiệm vụ riêng, có mối liên hệ hợp tác chặt chẽ với nhau và
thích ứng được với từng tình hình biến đổi của thị trường, đáp ứng được với xu thế phát
triển nhanh của nền kinh tế hiện nay.
3. Căn cứ để thiết lập tình huống:
Triển khai thực hiện Quy hoạch phát ngành Thương mại tỉnh Đồng Nai đến năm
2010 và định hướng phát triển đến năm 2020, theo Quyết định số 4390/QĐ-UBND ngày
14/12/2007 của UBND tỉnh Đồng Nai.
Ngày 15/12/2008 Uỷ ban nhân dân tỉnh Đồng Nai có Quyết định số 4281/QĐ-
UBND về việc giới thiệu địa điểm cho Sở Công Thương Đồng Nai lập dự án đầu tư
Trung tâm thông tin triển lãm và Quảng trường xanh tại phường Thống Nhất, thành phố
Biên Hoà. Trong đó giao Sở Công thương làm chủ đầu tư dự án.
Tại điều Điều 33: Các hình thức quản lý dự án của Nghị định 12/2009/NĐ CP ngày
12/02/2009 Về Quản lý dự án đầu tư xây dưng công trình nêu rỏ:
1. Người quyết định đầu tư quyết định hình thức quản lý dự án theo quy định tại
khoản 2 Điều 45 của Luật Xây dựng.
a) Chủ đầu tư xây dựng công trình thuê tổ chức tư vấn quản lý dự án đầu tư xây
dựng công trình;
b) Chủ đầu tư xây dựng công trình trực tiếp quản lý dự án đầu tư xây dựng công
trình”.
2. Trường hợp chủ đầu tư trực tiếp quản lý dự án thì chủ đầu tư thành lập Ban
Quản lý dự án để giúp chủ đầu tư làm đầu mối quản lý dự án.
Ban Quản lý dự án phải có năng lực tổ chức thực hiện nhiệm vụ quản lý dự án theo
yêu cầu của chủ đầu tư.
Ban Quản lý dự án có thể thuê tư vấn quản lý, giám sát một số phần việc mà Ban
Quản lý dự án không có đủ điều kiện, năng lực để thực hiện nhưng phải được sự đồng ý
của chủ đầu tư.

Để triển khai dự án đạt hiệu quả, đảm bảo chất lượng, hoàn thành đúng tiến độ với
chi phí hợp lý nhất, tình huống đặt ra cho đơn vị tư vấn QLDA là phải thực hiện: “Giải
pháp lựa chọn mô hình tối ưu để Quản lý dự án đầu tư: Trung tâm triển lãm và
Quảng trường xanh – tỉnh Đồng nai”.

PHẦN III.
PHÂN TÍCH TÌNH HUỐNG.
Để xử lý tình huống một cách khách quan và đảm bảo tính khoa học, có logrich cần
đi sâu nghiên cứu một số quan điểm về Đầu tư; Dự án đầu tư; Thế nào là QLDA đầu tư
….
I. Khái niệm về dự án và quản lý dự án đầu tư.
1. Khái niệm dự án.
Dự án là một lĩnh vực hoạt động đặc thù, một nhiệm vụ cụ thể cần phải được thực
hiện với phương pháp riêng, nguồn lực riêng và theo một kế hoạch tiến độ nhằm tạo ra
một thực thể mới.
Như vậy theo định nghĩa này thì:
+ Dự án không chỉ là một ý định phác thảo mà có tính cụ thể và mục tiêu xác định.
+ Dự án không phải là một nghiên cứu trừu tượng mà phải cấu trúc nên một thực thể mới.
Trên phương diện quản lý, có thể định nghĩa dự án như sau: Dự án là những nỗ lực có
thời hạn nhằm tạo ra một sản phẩm hoặc dịch vụ duy nhất.
Định nghĩa này nhấn mạnh hai đặc tính:
+ Nỗ lực tạm thời (hay có thời hạn). Nghĩa là, mọi dự án đầu tư đều có điểm bắt
đầu và điểm kết thúc xác định. Dự án kết thúc khi mục tiêu của dự án đã đạt được hoặc
khi xác định rõ ràng mục tiêu của dự án không thể đạt được và dự án bị loại bỏ.
+ Sản phẩm hoặc dịch vụ duy nhất. Sản phẩm hoặc dịch vụ duy nhất là sản phẩm
hoặc dịch vụ khác biệt so với những sản phẩm tương tự đã có hoặc dự án khác.
Dù định nghĩa khác nhau nhưng có thể rút ra một số đặc trưng cơ bản của khái
niệm dự án như sau:
 Dự án có mục đích, mục tiêu rõ ràng. Mỗi dự án thể hiện một hoặc một nhóm
nhiệm vụ cần được thực hiện với một bộ kết quả xác định nhằm thoả mãn một nhu cầu

(Chuẩn bị đầu tư), giai đoạn đầu tư (Thực hiện đầu tư) và giai đoạn vận hành các kết quả
đầu tư (Sản xuất kinh doanh). Mỗi giai đoạn lại được chia làm nhiều bước.
Các bước công việc, các nội dung nghiên cứu ở các giai đoạn được tiến hành tuần
tự nhưng không biệt lập mà đan xen gối đầu cho nhau, bổ sung cho nhau nhằm nâng cao
dần mức độ chính xác của các kết quả nghiên cứu và tạo thuận lợi cho việc tiến hành
nghiên cứu ở các bước kế tiếp.
Trên cơ sở chu kỳ một dự án đầu tư chúng ta có thể đưa ra một số nhận xét cơ
bản sau đây:
 Trong 3 giai đoạn trên đây, giai đoạn chuẩn bị đầu tư (tiền đầu tư) tạo tiền đề và
quyết định sự thành công hay thất bại ở 2 giai đoạn sau, đặc biệt là đối với giai đoạn vận
hành kết quả đầu tư. Do đó, đối với giai đoạn chuẩn bị đầu tư, vấn đề chất lượng, vấn đề
chính xác của các kết quả nghiên cứu, tính toán và dự đoán là quan trọng nhất. Trong quá
trình soạn thảo dự án phải dành đủ thời gian và chi phí theo đòi hỏi của các nghiên cưú.
Tổng chi phí cho giai đoạn chuẩn bị đầu tư chiếm từ 0,5 đến 15% vốn đầu tư của dự án.
Làm tốt công tác chuẩn bị đầu tư sẽ tạo tiền đề cho việc sử dụng tốt 85 đến 99,5% vốn
đầu tư của dự án ở giai đoạn thực hiện đầu tư (đúng tiến độ, không phải phá đi làm lại,
tránh được những chi phí không cần thiết khác ) Điều này cũng tạo cơ sở cho quá trình
hoạt động của dự án được thuận lợi, nhanh chóng thu hồi vốn đầu tư và có lãi (đối với
các dự án sản xuất kinh doanh), nhanh chóng phát huy hết năng lực phục vụ dự kiến.
 Trong giai đoạn thứ 2, vấn đề thời gian là quan trọng hơn cả ở giai đoạn này 85
đến 99,5% vốn đầu tư của dự án được chi ra nằm khê đọng trong suốt những năm thực
hiện đầu tư. Đây là những năm vốn không sinh lời. Thời gian thực hiện đầu tư càng kéo
dài, vốn ứ đọng càng nhiều, tổn thất càng lớn. Đến lượt mình, thời gian thực hiện đầu tư
lại phụ thuộc nhiều vào chất lượng công tác chuẩn bị đầu tư, vào việc quản lý quá trình
thực hiện đầu tư, quản lý việc thực hiện những hoạt động khác có liên quan trực tiếp đến
các kết quả của quá trình thực hiện đầu tư đã được xem xét trong dự án đầu tư.
 Giai đoạn 3: vận hành các kết quả của giai đoạn thực hiện đầu tư (giai đoạn sản
xuất kinh doanh dịch vụ) nhằm đạt được các mục tiêu của dự án. Nếu các kết quả do giai
đoạn thực hiện đầu tư tạo ra đảm bảo tính đồng bộ, giá thành thấp, chất lượng tốt, đúng
tiến độ, tại địa điểm thích hợp, với quy mô tối ưu thì hiệu quả trong hoạt động của các kết

Mục tiêu cơ bản của các dự án thể hiện ở chỗ các công việc phải được hoàn thành
theo yêu cầu và bảo đảm chất lượng, trong phạm vi chi phí được duyệt, đúng thời gian
và giữ cho phạm vi dự án không thay đổi. Về mặt toán học, bốn vấn đề này liên quan
với nhau theo công thức sau:
C= f ( P, T, S ).
Trong đó :
C : Chi phí.
P : Hoàn thành công việc ( kết quả )
T : Yếu tố thời gian.
S : Phạm vi dự án.
Phương trình cho thấy, chi phí là một hàm của các yếu tố: hoàn thành công việc,
thời gian và phạm vi dự án. Nói chung chi phí của dự án tăng lên nếu chất lượng hoàn
thiện công việc tốt hơn, thời gian kéo dài thêm và phạm vi dự án được mở rộng.
Ba yếu tố cơ bản: Thời gian, chi phí và hoàn thiện công việc là những mục tiêu cơ
bản của quản lý dự án và giữa chúng lại có quan hệ chặt chẽ với nhau. Không đơn thuần
chỉ là hoàn thành kết quả mà thời gian cũng như chi phí để đạt kết quả đó đều là những
yếu tố không kém phần quan trọng. Tuy mối quan hệ giữa 3 mục tiêu có thể khác nhau
giữa các dự án, giữa các thời kì đối với cùng một dự án, nhưng nói chung đạt được kết
quả tốt đối với mục tiêu này phải “hi sinh” một hoặc hai mục tiêu kia. Do vậy, trong quá
trình quản lý dự án các nhà quản lý hi vọng đạt được sự kết hợp tốt nhất giữa các mục
tiêu quản lý dự án.
2. ý nghĩa của quản lý dự án
a) Thông qua quản lý dự án có thể tránh được những sai sót trong những công trình
lớn, phức tạp.
Cùng với sự phát triển của khoa học kỹ thuật và không ngừng nâng cao đời sống
nhân dân, nhu cầu xây dựng các dự án công trình quy mô lớn, phức tạp cũng ngày càng
nhiều. Ví dụ, công trình xây dựng các doanh nghiệp lớn, các công trình thủy lợi, các trạm
điện và các công trình phục vụ ngành hàng không. Cho dù là nhà đầu tư hay người tiếp
quản dự án đều khó gánh vác được những tổn thất to lớn do sai lầm trong quản lý gây ra.
Thông qua việc áp dụng phương pháp quản lý dự án khoa học hiện đại giúp việc thực

dự án với khách hàng và nhà cung cấp đầu vào cho dự án.
 Tăng cường sự hợp tác giữa các thành viên và chỉ rõ trách nhiệm của các thành
viên tham gia dự án.
 Tạo điều kiện phát hiện sớm những khó khăn vướng mắc nảy sinh và điều chỉnh
kịp thời trước những thay đổi hoặc điều kiện không dự đoán được. Tạo điều kiện cho việc
đàm phán trực tiếp giữa các bên liên quan để giải quyết những bất đồng.
 Tạo ra sản phẩm và dịch vụ có chất lượng cao hơn.
4. Nội dung của quản lý dự án.
4.1. Quản lý vĩ mô và vi mô đối với dự án.
* Quản lý vĩ mô đối với hoạt động dự án.
 Quản lý vĩ mô hay quản lý nhà nước đối với dự án bao gồm tổng thể các biện
pháp vĩ mô tác động đến các yếu tố của quá trình hình thành, hoạt động và kết thúc dự án.
 Trong quá trình triển khai thực hiện dự án, nhà nước mà đại diện là các cơ quan
quản lý nhà nước về kinh tế luôn theo dõi chặt chẽ, định hướng và chi phối hoạt động của
dự án nhằm đảm bảo cho dự án đóng góp tích cực vào việc phát triển kinh tế – xã hội.
Những công cụ quản lý vĩ mô chính của nhà nước để quản lý dự án bao gồm các chính
sách, kế hoạch, quy hoạch như chính sách về tài chính tiền tệ, tỷ giá, lãi suất, chính sách
đầu tư, chính sách thuế, hệ thống luật pháp, những quy định về chế độ kế toán, thống kê,
bảo hiểm, tiền lương
* Quản lý vi mô đối với hoạt động dự án.
 Quản lý dự án ở tầm vi mô là quá trình quản lý các hoạt động cụ thể của dự án.
Nó bao gồm nhiều khâu công việc như lập kế hoạch, điều phối, kiểm soát các hoạt động
dự án. Quản lý dự án bao gồm hàng loạt vấn đề như: Quản lý thời gian, chi phí, nguồn
vốn đầu tư, rủi ro, quản lý hoạt động mua bán Quá trình quản lý được thực hiện trong
suốt các giai đoạn từ chuẩn bị đầu tư, thực hiện đầu tư đến giai đoạn vận hành kết quả
của dự án.Trong từng giai đoạn, tuy đối tượng quản lý cụ thể có khác nhau nhưng đều
phải gắn với 3 mục tiêu cơ bản của hoạt động quản lý dự án là: thời gian, chi phí và kết
quả hoàn thành.
4.2. Lĩnh vực quản lý dự án.
Theo đối tượng quản lý, quản lý dự án gồm 9 lĩnh vực chính cần được xem xét,

Quản lý hợp đồng và hoạt động mua bán của dự án là quá trình lựa chọn, thương
lượng, quản lý các hợp đồng và điều hành việc mua bán nguyên vật liệu, trang thiết bị,
dịch vụ, cần thiết cho dự án. Quá trình quản lý này giải quyết vấn đề: bằng cách nào dự
án nhận được hàng hoá và dịch vụ cần thiết của các tổ chức bên ngoài cung cấp cho dự
án, tiến độ cung, chất lượng cung như thế nào?
i. Lập kế hoạch tổng quan.
Lập kế hoạch tổng quan cho dự án là quá trình tổ chức dự án theo một trình tự
logic, xác định những công việc cần làm, nguồn lực thực hiện và thời gian làm những
công việc đó nhằm hoàn thành tốt mục tiêu đã xác định của dự án. Kế hoạch dự án là việc
chi tiết hoá các mục tiêu dự án thành những công việc cụ thể và hoạch định một chương
trình để thực hiện các công việc đó nhằm đảm bảo các lĩnh vực quản lý khác nhau của dự
án đã được kết hợp một cách chính xác và đầy đủ.
Kế hoạch dự án bao gồm nhiều loại kế hoạch như: kế hoạch tổng thể về dự án, kế
hoạch tiến độ, kế hoạch ngân sách, kế hoạch phân phối nguồn lực
4.3. Quản lý theo chu kỳ của dự án.
Dự án là một thực thể thống nhất, thời gian thực hiện dài và có độ bất định nhất
định nên các tổ chức, đơn vị thường chia dự án thành một số giai đoạn để quản lý thực
hiện. Mỗi giai đoạn được đánh dấu bởi việc thực hiện một hoặc nhiều công việc. Tổng
hợp các giai đoạn này được gọi là chu kỳ dự án. Chu kỳ dự án xác định điểm bắt đầu,
điểm kết thúc và thời hạn thực hiện dự án. Chu kỳ dự án xác định những công việc nào sẽ
được thực hiện trong từng pha và ai sẽ tham gia thực hiện. Nó cũng chỉ ra những công
việc còn lại nào ở giai đoạn cuối sẽ thuộc và không thuộc phạm vi dự án. Thông qua chu
kỳ dự án có thể nhận thấy một số đặc điểm: Thứ nhất, mức chi phí và yêu cầu nhân lực
thường là thấp khi bắt đầu dự án, tăng cao hơn vào thời kỳ phát triển, nhưng giảm nhanh
chóng khi dự án bước vào giai đoạn kết thúc. Thứ hai, xác suất hoàn thành dự án thành
công thấp nhất và do đó rủi ro là cao nhất khi bắt đầu thực hiện dự án. Xác suất thành
công sẽ cao hơn khi dự án bước qua các bước phía sau. Thứ ba, khả năng ảnh hưởng của
chủ đầu tư tới đặc tính cuối cùng của sản phẩm dự án và do đó tới chi phí là cao nhất vào
thời kỳ bắt đầu và giảm mạnh khi dự án được tiếp tục trong các pha sau.


vì quy mô dự án rất lớn, Chủ đầu tư là một sở chuyên ngành, không có chức năng QLDA.
Mô hình 3: Chủ nhiệm điều hành dự án.
Mô hình tổ chức “Chủ nhiệm điều hành dự án” là mô hình tổ chức trong đó chủ
đầu tư giao cho ban quản lý điều hành dự án chuyên ngành làm chủ nhiệm điều hành
hoặc thuê tổ chức có năng lực chuyên môn để điều hành dự án và họ được đại diện toàn
quyền trong mọi hoạt động thực hiện dự án.
Chủ nhiệm điều hành dự án là một pháp nhân độc lập, có năng lực, sẽ là người
quản lý, điều hành và chịu trách nhiệm về kết quả đối với toàn bộ quá trình thực hiện dự
án. Mọi quyết định của chủ đầu tư về dự án mà liên quan đến các đơn vị thực hiện sẽ
được triển khai thông qua chủ nhiệm điều hành dự án. Hình thức này áp dụng cho những
dự án quy mô lớn, tính chất phức tạp.
Nhận xét: Mô hình này phù hợp với tính chất và quy mô của dự án, đồng thời Chủ
nhiệm điều hành dự án là một pháp nhân độc lập, có năng lực, sẽ là người quản lý, điều
hành và chịu trách nhiệm về kết quả đối với toàn bộ quá trình thực hiện dự án, Chủ đầu
tư chỉ có trách nhiệm giám sát và quản lý vĩ mô.
Mô hình 4: Chìa khóa trao tay.
Mô hình tổ chức dự án dạng chìa khoá trao tay là hình thức tổ chức trong đó nhà
quản lý dự án không chỉ là đại diện toàn quyền của chủ đầu tư - chủ dự án mà còn là
“chủ” của dự án.
Hình thức tổ chức dự án dạng chìa khoá trao tay áp dụng khi chủ đầu tư được
phép đấu thầu để lựa chọn nhà thầu thực hiện tổng thầu toàn bộ dự án. Khác với hình
thức chủ nhiệm điều hành, giờ đây mọi trách nhiệm được giao cho nhà quản lý dự án và
họ phải chịu trách nhiệm hoàn toàn đối với việc thực hiện dự án.
Trong một số trường hợp nhà quản lý dự án không chỉ được giao toàn quyền thực
hiện dự án mà còn được phép cho người khác nhận thầu từng phần việc trong dự án đã
trúng thầu. Khi đó họ như một thứ “cai” điều hành dự án. Trong trường hợp này bên quản
lý dự án không phải là một cá nhân mà phải là một tổ chức quản lý dự án chuyên nghiệp.
Nhận xét: Mô hình này phù hợp với tính chất và quy mô của dự án, tuy nhiên nó
chưa phù hợp với chủ trương chung của dự án. Chủ đầu tư chưa được phép đấu thầu để
lựa chọn nhà thầu thực hiện tổng thầu toàn bộ dự án. Để triển khai theo mô hình này chủ

giao công trình; đề xuất cho Chủ đầu tư các biện pháp thích hợp để đảm bảo các thay đổi
trên không làm ảnh hưởng đến an toàn, chất lượng và tiến độ thực hiện dự án.
- Giúp chủ đầu tư lập và xem xét, đánh giá các tiêu chí lựa chọn nhà thầu.
- Kiểm tra, báo cáo, theo dõi việc cung cấp nhân lực, thiết bị của nhà thầu.
- Theo dõi, đánh giá và báo cáo mức độ hoàn thành tiến độ của các nhà thầu.
- Báo cáo các khiếm khuyết, chậm trễ các công việc tiến độ thực hiện của các nhà
thầu khác và yêu cầu các nhà thầu này có biện pháp khắc phục và có biện pháp xác thực
nhằm hoàn thành đúng tiến độ đã cam kết với chủ đầu tư. Căn cứ vào các biện pháp của
nhà thầu đưa ra, bên B đánh giá và đưa ra những biện pháp theo ý kiến của chính mình
nhằm hoàn thành dự án đúng kế hoạch đã đề ra.
- Tư vấn giúp chủ đầu tư hệ thống hóa và kiểm soát tài liệu của dự án.
- Giúp chủ đầu tư kiểm tra, điều hành tiến độ và chất lượng của dự án theo đúng hợp
đồng thiết kế xây dựng công trình đã ký.
- Giúp chủ đầu tư xem xét, kiểm tra, kiểm soát việc lập, thực hiện kế hoạch thi công.
- Biện pháp thi công và tiến độ thi công của các nhà thầu;
- Xem xét, kiểm tra và ghi chép nhật ký công trình.
- Xem xét, kiểm tra các tài liệu của nhà thầu, các nhà tư vấn khác theo hợp đồng đã
ký kết với chủ đầu tư.
- Thực hiện việc xem xét va đánh giá các công việc phát sinh hoặc thay đổi so với kế
hoạch, tài liệu đã được phê duyệt.
- Giám sát và điều hành các nhà thầu thực hiện các công việc phù hợp với các mốc,
các khoảng thời gian quan trọng của dự án.
- Kiểm tra kế hoạch và các điều kiện để tiến hành việc thí nghiệm, kiểm định, chạy
thử, nghiệm thu và bàn giao.
- Thông báo cho Chủ đầu tư về tính đầy đủ của các công việc trước khi tiến hành
nghiệm thu.
- Kiểm tra, giám sát việc bàn giao công trình.
- Trung tâm tư vấn công nghiệp Đồng Nai thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ quản
lý dự án do Chủ đầu tư giao và quyền hạn do Chủ đầu tư ủy quyền. Trung tâm tư vấn
Công Nghiệp chịu trách nhiệm trước Chủ đầu tư và pháp luật theo nhiệm vụ được giao và

 Dự án được giao cho phòng Điều hành dự án triển khai thực hiện.
 Các thành viên của dự án được điều động tạm thời từ các phòng chức năng khác
nhau đến và họ vẫn thuộc quyền quản lý của phòng chức năng nhưng lại đảm nhận phần
việc chuyên môn liên quan đến dự án.
1. Ưu điểm:
 Thứ nhất, linh hoạt trong sử dụng cán bộ. phòng chức năng có dự án đặt vào chỉ
quản lý hành chính, tạm thời đối với các chuyên gia tham gia quản lý dự án. họ sẽ trở về
vị trí cũ của mình khi kết thúc dự án.
 Thứ hai, một người có thể tham gia nhiều dự án để sử dụng kiến thức chuyên môn
và kinh nghiệm của mình.
2. Nhược điểm:
 Đây là cách quản lý không theo yêu cầu khách hàng.
 Vì dự án được đặt dưới sự quản lý của một bộ phận chức năng nên bộ phận này
thường có xu hướng quan tâm nhiều hơn đến việc hoàn thành nhiệm vụ chính khác của
nó mà không tập trung cố gắng vào việc giải quyết thoả đáng các vấn đề của dự án. các

Trích đoạn Tổ chức thực hiện.
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status