1
MỞ ĐẦU
1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI NGHIấN Cøu
1.1 Bước vào thế kỷ XXI, xu thế toàn cầu hóa và những vấn đề liên quan đến
nguồn nhân lực đang đặt ra cho nhân loại trước nhiều thời cơ và thách thức lớn.
Mỗi quốc gia, cộng đồng, gia đình và từng cá nhân có chiến thắng được thách thức,
nắm được thời cơ để đạt đến sự phát triển mạnh mẽ và bền vững hay không, vấn đề
quan trọng bậc nhất là “con người” và "chất lượng con người”.
Đảng ta luôn đề cao nhân tố con người. Nghị quyết Hội nghị Ban chấp hành
Trung ương Đảng lần thứ 2 khóa VIII, đã khẳng định vai trò chiến lược con người,
của việc phát huy nguồn lực con người, yếu tố cơ bản của sự phát triển nhanh và
bền vững mọi mặt của xã hội. Quan điểm của Chiến lược Dân số Việt Nam giai
đoạn 2001-2010 xác định “ Thực hiện đồng bộ, từng bước và có trọng điểm việc
điều hòa giữa số lượng và chất lượng dân số, giữa phát triển dân số và phát triển
nguồn nhân lực”. Mục tiêu về chất lượng dân số của Chiến lược cũng đã khẳng định
“ Nâng cao chất lượng dân số về thể chất, trí tuệ và tinh thần. Phấn đấu đạt chỉ số
phát triển con người (HDI) ở mức trung bình tiên tiến của thế giới vào năm 2010”.
Mét trong những giải pháp để đạt được mục tiêu đó là tăng cường công tác giáo dục
và chăm sóc sức khỏe sinh sản cho nhân dân, mà trước hết là sức khỏe sinh sản cho
vị thành niên (SKSS VTN).
1.2 Vị thành niên (VTN) là một bộ phận dân cư có vị trí quan trọng trong gia
đình và xã hội, chiếm một tỷ lệ khá lớn trong tổng quy mô dân số. Cả nước, hằng
năm, có khoảng 1,2 triệu vị thành niên bước vào tuổi lao động. Đây là nguồn nhân
lực bổ sung, thay thế, bảo đảm cho việc duy trì, phát triển gia đình và xã hội; đồng
thời cũng là lực lượng kế thừa và phát huy bản sắc văn hóa, lối sống của dân téc.
Tuy nhiên, theo kết quả khảo sát của Bộ Y tế năm 2002, có 11,2% vị thành niên có
quan hệ tình dục; hằng năm có 300.000 phụ nữ thai nghén dưới tuổi 20, trong đó
80% có thai mà không hề hay biết, 5,7% có chồng, mang thai và sinh con; 30% sè
ca phá thai là những phụ nữ trẻ chưa lập gia đình; và tính đến cuối năm 2003 đó cú
76.180 người nhiễm HIV, trong đó vị thành niên và thanh niên chiếm khoảng 60%.
2
Quá trình giáo dục sức khỏe sinh sản vị thành niên
3.2. Đối tượng nghiên cứu
Các biện pháp giáo dục sức khỏe sinh sản vị thành niên ở miền nói tỉnh
Quảng Nam.
4. GIẢ THUYẾT KHOA HỌC
Các biện pháp giáo dục sức khỏe sinh sản vị thành niên ở miền núi hiện nay
đã đem lại một số kết quả, song vẫn còn thiếu hiệu quả dẫn đến nhận thức, thái độ
và hành vi về sức khỏe sinh sản của vị thành niên còn thấp kém. Nếu xây dựng
được các biện pháp giáo dục đồng bộ và phù hợp, trong đó có biện pháp giáo dục
thông qua mô hình giáo dục đồng đẳng thì sẽ nâng cao hiệu quả việc thực hiện mục
tiêu giáo dục sức khỏe sinh sản cho vị thành niên ở khu vực miền nói.
5. NHIỆM Vễ NGHIấN Cøu
5.1. Xác định cơ sở lý luận, quan điểm chỉ đạo việc thực hiện các biện pháp
giáo dục sức khỏe sinh sản vị thành niên.
5.2. Khảo sát và đánh giá thực trạng các biện pháp giáo dục sức khỏe sinh
sản vị thành niên; nhận thức, thái độ, và hành vi về sức khỏe sinh sản của vị thành
niên ở các huyện miền núi tỉnh Quảng Nam, và lý giải nguyên nhân của thực trạng.
5.3. Đề xuất các biện pháp giáo dục sức khỏe sinh sản vị thành niên có hiệu
quả; tiến hành thực nghiệm tác động biện pháp giáo dục thông qua mô hình giáo
dục đồng đẳng để khẳng định tính khả thi của nã.
6. GIỚI HẠN PHẠM VI NGHIấN Cøu
6.1. Giới hạn về khách thể nghiên cứu
Khảo sát các khách thể thuộc cỏc nhúm dõn tộc đông người hơn : Kinh, Cơ-
tu, Xơ-đăng, Giẻ-Triêng, Cor, bao gồm vị thành niên, cha mẹ hoặc người thân trực
tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc vị thành niên, giáo viên, cán bộ lãnh đạo, cỏn bộ quản lý,
cán bộ chuyên môn, và những người có uy tín trong cộng đồng.
6.2. Giới hạn về đối tượng nghiên cứu
4
- Đánh giá nhận thức, thái độ, hành vi về sức khỏe sinh sản vị thành niên ở
lứa tuổi 14-19.
thôi học (1 nhúm), nhúm vị thành niên đang đi học (1 nhóm).
- Phỏng vấn sâu 5 hé gia đình làm nông nghiệp.
7.2.2. Phương pháp lấy ý kiến chuyên gia
Tổ chức hội thảo chuyên đề báo cáo sơ bộ kết quả điều tra và xin ý kiến các
chuyên gia cấp tỉnh, huyện và xã.
7.2.3. Phương pháp thực nghiệm tác động
- Thực hiện thực nghiệm tác động "Biện pháp giáo dục thông qua mô hình
giáo dục đồng đẳng" tại 2 xã và 1 trường Phổ thông Dõn tộc nội trú.
7.3 Phương pháp thống kê toán học trong xử lý số liệu
7.3.1. Nhập số liệu, phân tích
Số liệu từ bảng hỏi phỏng vấn đánh giá thực trạng được nhập vào máy tính
bằng chương trình Foxpro, sau đó chuyển sang chương trình Excel kết hợp sử dụng
Visual Basic để xử lý (nghiên cứu định lượng) và tổng hợp các biên bản thảo luận,
các cuộc phỏng vấn sâu (định tính).
Phần thực nghiệm được nhập liệu và xử lý bằng phần mềm SPSS 13.0; kiểm
định bằng Chi-Square và hệ số tương quan thứ bậc Spearman, theo công thức:
r
s
= 1 -
6
∑
d
2
n (n
2
- 1)
Trong đó:
r = hệ số tương quan thứ bậc
d = hiệu sè thứ bậc giữa 2 đại lượng cần so sánh
n = số nội dung cần so sánh (số các biện pháp tác động giáo dục sức khỏe sinh
2
+n
3
+
X =
7
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ Lí LUẬN CỦA VẤN ĐỀ GIÁO DỤC
SỨC KHỎE SINH SẢN VỊ THÀNH NIÊN
1.1 TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIấN Cøu
1.1.1 Những nghiên cứu về sức khỏe sinh sản vị thành niên ở nước
ngoài:
Trong nhiều năm qua, trên thế giới, cả những nước đang phát triển và các
nước đã phát triển, đang đối mặt với nhiều vấn đề bất ổn và thách thức của SKSS
VTN. Nhiều công trình nghiên cứu về quan hệ tình dục, mang thai và sinh đẻ, phá
thai, bệnh lây truyền qua đường tình dục trong lứa tuổi VTN đã được tiến hành và
công bố rộng rãi. Có thể điểm qua một số công trình nghiên cứu tiêu biểu về SKSS
VTN, theo thống kê của Tổ chức Y tế Thế giới, từ năm 2000 trở lại đõy: [133].
- Wu Shi-Zhong, Luo Lin, Xiao Yu, Tang Yongjun, Mao Yuanling (Trung
Quốc) “ Nghiên cứu so sánh hành vi tình dục và nhu cầu tránh thai của nam nữ vị
thành niên chưa lập gia đình ở vùng nông thôn Sichuan, Trung Quốc”.
- Lusia Alvarez Vazquez (Cuba) “Quan niệm và hành vi của vị thành niên:
định hướng sức khỏe sinh sản theo giới”.
- Sunil Mehra (Ên Độ) “Xác định mô hình quan hệ tình dục của vị thành niên
sống ở vùng nghốo và tái định cư ở thành phố“.
- Susan Pick (Mexico) “Những lo lắng tình dục và ảnh hưởng của những xúc
cảm về sức khỏe tình dục của vị thành niên“.
- Soori E.A Nnko (Tanzania) “Hành vi tảo hôn trong vị thành niên đã thôi
học: động cơ, mô hình và ý nghĩa do tác động của bạn tình“.
- Ayse Akin (Thổ Nhĩ Kỳ) “Thực trạng và những yếu tố đến sức khỏe tình
dịch vụ về sức khỏe sinh sản vị thành niên”.
- Nilar Tin (Myanmar) “Sự bất cập của hệ thống y tế và những người cung
cấp dịch vụ về nhu cầu sức khỏe sinh sản vị thành niên”.
9
- Cristian Pereda Feliu (Chile) “Chuẩn mực phũng ngừa nhúm về các bệnh
lây truyền qua đường tình dục/ AIDS, mang thai ngoài ý muốn và tác động về sự
thay đổi trong nam nữ vị thành niên trường học tại Santigo, Chile“.
- Gao Ersheng (Trung Quốc) “Nghiên cứu can thiệp dùa vào cộng đồng về
giáo dục và cung cấp dịch vụ sức khỏe tình dục/ sức khỏe sinh sản cho vị thành niên
và thanh niên tuổi 15-24 chưa lập gia đình ở Thượng Hải“.
Nhận xét: Các tác giả nêu trên đã sử dụng nhiều phương pháp nghiên cứu
khác nhau như điều tra xã hội học, phỏng vấn sâu, thảo luận nhóm tập trung,
phương pháp hồi quy, can thiệp, Labụ, nhõn trắc, khám lâm sàng, tổng kết bệnh án,
nhưng rộng rãi nhất vẫn là điều tra xã hội học. Khách thể được khảo sát là vị thành
niên từ 12 - 19 tuổi. Công trình nghiên cứu có số lượng khảo sát Ýt nhất là 200 vị
thành niên và nhiều nhất là 2400 vị thành niên, 80% vị thành niên ở ngoài nhà
trường, vùng chịu nhiều thiệt thòi, nhưng chưa có ở vùng núi.
Chủ đề nghiên cứu tập trung ở các nội dung hành vi nguy cơ về tình dục,
hành vi nguy cơ của cỏc nhúm vị thành niên thiệt thòi, cưỡng bức tình dục, hậu quả
thai nghén đối với vị thành niên, xã hội học, vai trò của giới, thái độ về quan hệ tình
dục, hành vi ảnh hưởng sức khỏe và chất lượng chăm sóc, quan điểm của người
cung cấp dịch vụ về chăm sóc sức khỏe sinh sản vị thành niên, nhưng chưa đi sâu
vào các biện pháp giáo dục sức khỏe sinh sản vị thành niên.
1.1.2 Những nghiên cứu về sức khỏe sinh sản vị thành niên trong nước:
1.1.2.1 Theo Nguyễn Duy Khuê, Trịnh Hữu Vách và các cộng sự, giai đoạn
1995-2001, đó cú 118 công trình nghiên cứu về các vấn đề SKSS vị thành niên đã
được công bố, bao gồm các công trình nghiên cứu khoa học của các Viện nghiên
cứu, Trường Đại học, Bộ, Ngành, đoàn thể trờn các tạp chí, tập san kỷ yếu hội
nghị, hội thảo trong và ngoài nước; các báo cáo tổng kết đề tài, dự án nghiên cứu và
can thiệp đã được nghiệm thu; các luận án tiến sĩ, thạc sĩ khoa học đã được bảo vệ
18 nghiên cứu, chiếm 12,4%, bao gồm:
+ Về ảnh hưởng của đại dịch HIV/AIDS và các tệ nạn ma túy, mại dâm đối
với sức khỏe, sức khỏe sinh sản vị thành niên.
+ Về ảnh hưởng của bạo lực, văn hóa phẩm đồi trụy và tai nạn thương tích
đối với sức khỏe, sức khỏe sinh sản vị thành niên.
11
- Những yếu tố, giải pháp, biện pháp tác động nhằm nâng cao hiệu quả giáo
dục, chăm sóc sức khỏe, sức khỏe sinh sản vị thành niên, có 46 nghiên cứu, chiếm
31,5%, bao gồm các yếu tố, giải pháp, biện pháp thuộc về trách nhiệm của chính
quyền các cấp, các đoàn thể xã hội, của nhà trường và của gia đình.
Như vậy, có tới 56,1% các công trình nghiên cứu đã tập trung vào việc khảo
sát đánh giá thực trạng và nghiên cứu cơ bản. Các nghiên cứu đi sâu vào việc tìm
kiếm đề xuất các giải pháp chỉ chiếm 31,5%, và các nghiên cứu nhằm tìm ra những
yếu tố tác động ảnh hưởng đến sức khỏe sinh sản vị thành niên chỉ chiếm 12,4%.
Đỏng chó ý, từ năm 2000 trở lại đây, tại trường Đại học Sư phạm Hà Nội, có
nhiều luận văn thạc sĩ và luận án tiến sĩ nghiờn cứu về vấn đề này và có thể nêu một
số nghiên cứu tiêu biểu nh sau:
Hoàng Thị Lợi, “Thực trạng và các biện pháp nâng cao nhận thức về sức
khỏe sinh sản vị thành niên cho học sinh THPT các huyện miền nói tỉnh Phú Thọ”.
Luận văn Thạc sĩ (2000) [ 61].
Luận văn tập trung nghiên cứu thực trạng và đề xuất các biện pháp nhằm
nâng cao nhận thức về sức khỏe sinh sản vị thành niên của học sinh THPT các
huyện miền núi, với hai vấn đề trọng tâm: hiểu biết về tình dục và biện pháp tránh
thai. Khách thể được khảo sát gồm 300 học sinh của hai trường THPT. Nhằm nâng
cao nhận thức về sức khỏe sinh sản vị thành niên, đề tài tập trung các biện pháp:
đẩy mạnh công tác giáo dục đạo đức, xây dựng nếp sống văn hóa; hoàn thiện nội
dung giáo dục sức khỏe sinh sản vị thành niên; đẩy mạnh công tác tuyên truyền;
tăng cường quản lý văn hóa phẩm; phát huy vai trò của chương trình Dõn số -
KHHGĐ, chương trình phòng chống AIDS.
Trần Mai Hương, “Một số biện pháp quản lý giáo dục sức khỏe sinh sản vị
định các biện pháp bồi dưỡng năng lực giáo dục sức khỏe sinh sản vị thành niên cho
các bậc cha mẹ; và đề xuất một số biện pháp giúp cho các cơ quan, đoàn thể, các
nhà khoa học, các nhà giáo dục tổ chức việc hỗ trợ cho các bậc cha mẹ tăng cường
năng lực giáo dục con cái. Cỏc nhúm biện pháp đã được đề xuất bao gồm: xõy dựng
và chuẩn hóa nội dung giáo dục sức khỏe sinh sản vị thành niên; tổ chức hoạt động
truyền thông giáo dục cộng đồng; bồi dưỡng cho cha mẹ thông qua cỏc lớp học phi
chính qui, chuyên đề linh hoạt, thông qua các đoàn thể mà cha mẹ là thành viên,
thông qua các phong trào thi đua quần chúng; và tổ chức quản lý. Luận án có 152
trang, với 94 tài liệu tham khảo, trong đó có 3 tài liệu tiếng Anh. Địa bàn nghiên
13
cứu là khu vực đồng bằng , nơi có số đông dân cư sinh sống, chưa có điều kiện triển
khai ở miền núi.
Nhận xét: Những phát hiện chính từ các nghiên cứu khoa học nói trên có thể
được tóm tắt nh sau:
- Mét bộ phận khụng nhỏ vị thành niên, ngay cả nhóm vị thành niên lớn(17-
19 tuổi), còn thiếu những hiểu biết hoặc hiểu sai lệch các đặc điểm dậy thì, các đặc
trưng về giới tính của chính bản thân mình. Phần lớn vị thành niên còn rất e ngại
khi nói đến vấn đề có liên quan đến giới tính, tình dục với bạn bè, ngay cả trong
sinh hoạt của câu lạc bộ "tiền hụn nhõn” mà chủ đề chính trong những cuộc trao đổi
của họ thường là tình bạn, tình yêu.
- Tình hình mắc các bệnh lây truyền qua đường tình dục và HIV/AIDS
đang có chiều hướng gia tăng, xu hướng “trẻ hóa” đối tượng nhiễm HIV/AIDS
ngày càng thể hiện rõ nét. Không Ýt vị thành niên còn hiểu sai về con đường lây
nhiễm hoặc cho rằng vấn đề mắc HIV/AIDS chỉ là của người nước ngoài, gái
mại dâm, và họ khó có khả năng bị lây nhiễm.
- Quan niệm về vấn đề quan hệ tình dục trong vị thành niên không còn quá
khắt khe như trước đây. Việc chấp nhận quan hệ tình dục trước hôn nhân khá dễ
dàng là một thực tế. Giới trẻ Việt Nam đang chạy theo những lối sống thực dụng.
Người lao động trẻ và sinh viên Đại học đang thích thử nghiệm tình dục. Số trẻ 14-
15 tuổi có quan hệ tình dục trước hôn nhân đang gia tăng [20], [52].
yếu tập trung ở khu vực đô thị, những nơi thuận lợi về giao thông và có đông dân
cư. Cỏc vựng nụng thôn, đặc biệt là cỏc vựng miền núi, cũng đã được quan tâm
nghiên cứu, nhưng chỉ chiếm mét tỷ lệ thấp và khiêm tốn.
Tuy còn nhiều vấn đề cần có những nghiên cứu cơ bản và rộng khắp hơn
nhằm đưa ra những giải pháp tổng thể, những biện pháp khả thi nhằm huy động
toàn xã hội cộng đồng trách nhiệm giáo dục sức khỏe sinh sản cho vị thành niên,
nhưng những kết quả thu được từ những nghiên cứu trong vòng 10 năm qua đã
mang lại những kết quả quý báu, đáng trân trọng, và tiếp tục được rút kinh nghiệm,
phát huy lâu dài. Nhiều công trình của các tác giả trong và ngoài nước đã nghiên
cứu vấn đề sức khỏe sinh sản vị thành niên và giáo dục SKSS cho VTN với nhiều
mức độ khác nhau, chỉ ra nội dung, phương pháp, các hình thức tổ chức giáo dục
15
SKSS VTN, chỉ ra chiến lược giáo dục sức khỏe sinh sản vị thành niên có tính quốc
gia và toàn cầu.
1.1.3 Giáo dục Sức khỏe sinh sản Vị thành niờn ở Việt Nam
Sau Hội nghị Quốc tế về Dõn sè-Phát triển ở Cai-rô năm 1994, hàng loạt
hội thảo đã được tổ chức ở Việt Nam để phổ biến khái niệm sức khỏe sinh sản và
vai trò của nó trong Dõn sè - Phát triển. Các hoạt động tuyên truyền do Chính phủ,
các tổ chức phi chính phủ, các cơ quan quốc tế và các nhà tài trợ tiến hành đã và
đang dần nâng cao rất nhiều nhận thức và hiểu biết chung về SKSS. Vì thế, chương
trình Dân số Quốc gia còng chuyển mạnh từ định hướng kÕ hoạch hóa gia đình
sang định hướng SKSS toàn diện hơn, thể hiện ở Chiến lược Dân số Việt Nam giai
đoạn 2001-2010, và Chiến lược Quốc gia về Chăm sóc SKSS giai đoạn 2001-2010.
* Giáo dục dân số/ sức khỏe sinh sản trong nhà trường Việt Nam được ngành
Giáo dục quan tâm đặc biệt vỡ nú có ý nghĩa chiến lược lâu dài. Vào cuối thập niên 80
của thế kỷ vừa qua, các đề án thực nghiệm giáo dục dân số mang mã hiệu VIE/88/P09,
VIE/88/P10 đã triển khai vào các trường Trung học Cơ sở và Trung học Phổ thông
(THPT). Những đề án này có tính thực nghiệm về giáo dục dân số nói chung, giáo dục
giới tính và đời sống gia đình nói riêng, đã thu được những kết quả nhất định [13].
Từ 1982 - 1992, được sự tài trợ của UNFPA, ngành Giáo dục và Đào tạo đã
điểm dạy học giáo dục sức khỏe sinh sản ở mét số trường Đại học Sư phạm, thực
hiện các biện pháp tuyên truyền vận động để tạo sự đồng tình, phối hợp với xã hội.
Các sách giáo khoa có tích hợp giảng dạy sức khỏe sinh sản vị thành niên ở
cấp THPT gồm các môn Ngữ văn, Địa lý, Sinh học và Giáo dục công dân. Ví dụ,
sách giáo khoa Ngữ văn THPT mới có tích hợp nội dung giáo dục sức khỏe sinh sản
vị thành niên vào các chương, các bài học văn và làm văn sau đây: Ca dao châm
biếm, hài hước; tục ngữ về đạo đức, lối sống của con người Việt nam; luyện nói
trình bày một vấn đề; văn thuyết minh, văn biểu cảm (Líp 10). Lão Gụriụ (Banzac);
luyện nói phỏng vấn, lập luận bác bỏ; Truyện Kiều; tranh luận, phản bác về một vấn
đề xã hội (Líp 11). Văn nhật dông, bình luận về một hiện tượng trong đời sống;
phát biểu theo chủ đề; Vợ chồng A phủ, Chiếc thuyền ngoài xa (Líp 12) [7].
17
* Trong thời gian gần đây, những nội dung giáo dục sức khỏe sinh sản đã
được nhiều cấp, nhiều ngành, nhiều tổ chức xã hội quan tâm chỉ đạo và tổ chức triển
khai các hoạt động cụ thể. Sức khỏe sinh sản đã từng bước trở thành một nội dung
quan trọng của hầu hết các hoạt động dân số; các mục tiêu của sức khỏe sinh sản
còng là những mục tiêu cần đạt của KÕ hoạch hóa gia đình.
Tháng 5/1998, Ủy Ban Quốc gia Dõn sè/KÕ hoạch hóa Gia đình đã thông
qua dự án "Tăng cường giáo dục dân số cho học sinh độ tuổi trung học từ 12 đến
18", nhằm giúp nâng cao nhận thức cho học sinh về giới tính, đời sống gia đình,
SKSS, môi trường, phòng chống các tệ nạn xã hội và nâng cao chất lượng nguồn
nhân lực. Từ đó giúp học sinh có thái độ đỳng, cú lối sống lành mạnh, hình thành và
phát triển nhân cách, thực hiện tốt những quy định của Nhà nước về DS/KHHGĐ
[100].
Năm 1998, dự án "Hỗ trợ tăng cường sức khỏe sinh sản vị thành niên-
VIE/97/P12" do Trung ương Đoàn TNCS Hồ Chí Minh chủ trì đã được triển khai,
nhằm tuyên truyền trong thanh thiếu niên và học sinh, sinh viên về SKSS vị thành
niên, về các biện pháp tránh thai và quan hệ tình dục lành mạnh, an toàn, phòng
tránh các bệnh lây truyền qua đường tình dục, HIV/AIDS, giúp cho học sinh, sinh
viên, thanh thiếu niên có nhận thức đúng, tự điều chỉnh hành vi của mình, góp phần
sách DS-KHHGĐ đã khẳng định công tác thông tin, giáo dục, truyền thông là một
trong những giải pháp quan trọng vận động nhân dân thực hiện công tác DS-
KHHGĐ, “làm cho mọi người, trước hết là líp trẻ, chuyển biến sâu sắc nhận thức,
hiểu rõ sự cần thiết và lợi Ých của KHHGĐ, chấp nhận gia đình Ýt con” [37].
Nghị quyết Hội nghị BCH Trung ương Đảng lần thứ 2 khóa VIII đã xác định
rõ “vai trò, vị trí chiến lược của con người, nguồn lực con người trong chiến lược
phát triển kinh tế-xã hội của đất nước. Đồng thời Đảng và Nhà nước cũng rất coi
trọng vai trò, vị trí của giỏo dục và đào tạo, đặc biệt là công tác giáo dục, đào tạo
trong các trường phổ thông, nhằm xây dựng những líp người mới, đủ năng lực và trí
19
tuệ đáp ứng mọi yêu cầu, nhiệm vụ của công cuộc xây dựng và bảo vệ tổ quốc”
[12].
Luật Thanh niên (Điều 22) quy định “Gia đình có trách nhiệm tôn trọng quyền
của thanh niên trong hôn nhân và gia đình, giáo dục tình bạn, tình yêu và các kỹ năng
cần thiết để thanh niên tổ chức cuộc sống gia đình; Nhà nước cú chớnh sách khuyến
khích các tổ chức, cá nhân tham gia phát triển các hoạt động tư vấn về tình yêu, hôn
nhân, gia đình, thực hiện KHHGĐ cho thanh niên; Đoàn TNCS Hồ Chí Minh, các tổ
chức khác của thanh niên, phối hợp với nhà trường, gia đình tuyên truyền, vận động
thanh niên thực hiện hôn nhân tiến bộ, xây dựng gia đình hạnh phỳc” [40].
Pháp lệnh Dân số (Điều 9,11, 21, 29) còng quy định công tác truyền thông,
vận động, giáo dục và tư vấn SKSS cho VTN. Quan điểm của Chiến lược Dõn số
Việt Nam đã khẳng định “ĐÈy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục về dân số và
phát triển, kết hợp với việc thực hiện đầy đủ, có hiệu quả chương trình chăm sóc
SKSS/KHHGĐ là giải pháp cơ bản để đảm bảo tính bền vững của chương trình Dân
số và phát triển”. Chiến lược Quốc gia về Chăm sóc SKSS đã xác định mục tiêu cụ
thể là ”cải thiện tình hình SKSS, sức khỏe tình dục của VTN, thông qua việc giáo
dục, tư vấn và cung cấp các dịch vụ chăm sóc SKSS phù hợp với lứa tuổi” [103].
Chiến lược Truyền thông Chuyển đổi Hành vi về Dân số, sức khỏe sinh
sản/kế hoạch hóa gia đình giai đoạn 2006-2010, cũng đã xác định công tác giáo dục
cho VTN, thanh niên là nhằm “Nâng cao hiểu biết và nhận thức đầy đủ, đúng đắn
của các nhà giáo dục, của các chuyên gia sức khỏe, và thiếu hiểu biết đối với nhu
cầu và ảnh hưởng của các chương trình sức khỏe sinh sản và sức khỏe tình dục của
vị thành niên trong quá khứ đã ảnh hưởng đến hiệu quả việc thực hiện các chương
trình giáo dục sức khỏe sinh sản và sức khỏe giới tính vị thành niên [120].
Các nghiên cứu với phụ huynh, giáo viên và nhân viên y tế chỉ ra rằng họ
không được chuẩn bị để thảo luận vấn đề tình dục với vị thành niên, thường thỡ vỡ
họ cảm thấy bất tiện hoặc quá sức, hoặc bởi họ không đồng ý việc thanh niên quan
tâm đối với vấn đề tình dục.
Trong quá khứ, nhu cầu giáo dục sức khỏe sinh sản của vị thành niên thường
được lồng ghép trong các chương trình dành riêng cho người lớn hoặc bị lãng quên
hoàn toàn trong các chương trình sức khỏe và giáo dục. Hơn nữa, hầu hết các
chương trình và dịch vụ sức khỏe sinh sản được tập trung cho các đôi lứa đã kết hôn
21
hoặc người lớn, lãng quên nhu cầu vị thành niên đó cú sinh hoạt tình dục và chưa
sinh hoạt tình dục.
Ở Châu Á-Thái Bình Dương, giai đoạn trước năm 1970, giáo dục dân số
được coi là một bộ phận của kế hoạch hóa gia đình và chỉ khu trú ở giáo dục giới
tính. Điều đó đã không được dư luận xã hội ở nhiều quốc gia đồng tình, ủng hộ.
Cho đến năm 1970, Hội thảo quốc tế về giáo dục dân số được tổ chức tại Thái Lan
đã đưa ra một số định nghĩa hết sức quan trọng:" Giáo dục dân số là chương trình
giáo dục về dân số ở mức độ gia đình, cộng đồng, đất nước và thế giới, nhằm mục
đích tạo ra cho mọi người thái độ và phong cách ứng xử hợp lý và có trách nhiệm
về vấn đề này" [120], [128], [131].
Năm 1978, Hội nghị Tư vấn khu vực Châu Á - Thái Bình Dương đã khẳng
định mục tiêu giáo dục dân số là việc trang bị tri thức về quan hệ giữa các yếu tố
dân số, phát triển kinh tế xã hội và chất lượng cuộc sống. Hội nghị Tư vấn năm
1982 đã khuyến nghị chương trình giáo dục dân số nên tập trung tích hợp vào các
môn học thích hợp. Năm 1983 đã xác định được chương trình giáo dục dân số trong
hệ thống giáo dục chính qui và không chính qui. Năm 1984 đã xác định việc biên
soạn tài liệu mẫu để dùng cho các nước tham khảo. Đến năm 1988, 25 nước trong
nhau để tiếp cận giới trẻ trong và ngoài trường học. Đối với trong nhà trường, các
chương trình giáo dục, khởi đầu bằng các chương trình giáo dục đời sống gia đình
và giáo dục dân số, đã được giới thiệu trong nhiều cấp trường, từ tiểu học đến trung
học và đến đại học. Được tài trợ bởi UNFPA, hầu hết các chương trình này đều
hướng về nhân khẩu học, tập trung vào mối quan hệ qua lại giữa phát triển dân số
và các mặt khác nhau của chất lượng cuộc sống. Dần dần, các nội dung về sức khỏe
tình dục và sức khỏe sinh sản được lồng ghép vào chương trình giáo dục như các
nội dung về hành vi không an toàn, bạo lực tình dục, kế hoạch hóa gia đình, trách
nhiệm cha mẹ , các bệnh lây nhiễm đường sinh sản, HIV, AIDS, các mặt xã hội của
giáo dục giới tính, bình đẳng giới, và quan hệ nam- nữ. Quan sát cho thấy rằng các
quốc gia tiếp tục nhận hỗ trợ của UNFPA thường có khuynh hướng lồng ghộp cỏc
nội dung về sức khỏe tình dục và sức khỏe sinh sản vào chương trình giảng dạy;
trong khi các quốc gia không nhận hỗ trợ của UNFPA thì tiếp tục dạy theo mô hình
phát triển dân số và phát triển [125].
23
Phối hợp giáo dục trong và ngoài nhà trường. Bởi vì môi trường truyền
thống thường ngăn trở ngành giáo dục chính thống không chấp nhận các chiến lược
mới, các tổ chức phi chính phủ thường được kêu gọi để hỗ trợ Bé Giỏo dục phát
triển và thực thi các chương trình giáo dục sức khỏe tình dục và sức khỏe sinh sản ở
nhiều quốc gia trong khu vực [127]. Can thiệp của họ có thể thấy từ mức độ tập
huấn cho giáo viên đến định hướng cho sinh viên và tổ chức các hội thảo, cho đến
các chiến dịch lớn dành cho vị thành niên, thanh niên và giới thiệu tài liệu. Một vài
vớ dụ:
• Ở Thái Lan, Hội Cha mẹ học sinh hỗ trợ Bộ Giáo dục tập huấn cho giáo viên
về giáo dục giới tính. Hoạt động tương tự được tiến hành bởi Liên hiệp Hội Cha mẹ
Nam Triều Tiờn, bao gồm tập huấn cho giáo viên và thủ lĩnh học sinh.
• Ở Malaysia, Liên hiệp Hội Kế hoạch hóa Gia đình của Malaysia đã tổ chức
những buổi tọa đàm về giáo dục đời sống gia đình tại các buổi cắm trại của thanh
niên và các trường học, tập huấn cho giáo viên về sức khỏe tình dục và sức khỏe sinh
sản.
sức khỏe sinh sản và sức khỏe giới tình dục khó thực hiện được ở các trường học. Đó là:
- Sù miễn cưỡng của các nhà hoạch định chính sách, phụ huynh và giáo viên
đối với các vấn đề về sức khỏe sinh sản và sức khỏe tình dục. Một số nhà quản lý của
ngành giáo dục theo phái truyền thống thường đưa ra các quyết định quá cứng nhắc
và né tránh những chính sách gây phản ứng từ phía phụ huynh, giáo viên và cộng
đồng. Phản ứng khó chịu và ngại ngần từ phía người lớn đối với sức khỏe sinh sản và
sức khỏe tình dục là một trở ngại lớn. Theo Dr. Nafis Sadik, Giám đốc Quỹ Dân số
Liên hiệp quốc, yếu tố chính để tiến hành các chương trình SKSS VNT hữu hiệu là
phải nâng cao nhận thức của những người có ảnh hưởng lớn đến VTN, thanh niên
[133].
- Các chương trình giáo dục đời sống gia đình hay dân số hiện hành thường
không có hoặc Ýt có liên quan đến những chọn lùa thật sự vì những áp lực chung
quanh sức khỏe sinh sản và sức khỏe tình dục ảnh hưởng đến giới thanh niên Việc
tập trung vào khía cạnh sinh học của cơ quan sinh sản người đã ngăn cản sức khỏe
sinh sản được xem xét trong bối cảnh văn hóa và xã hội mà các hành vi tình dục xảy
ra.Trong môi trường này, những đề tài nhạy cảm thường có khuynh hướng được
xem qua một cách vội vàng, nhanh chóng, và không có giám sát tiếp sau. Phương
pháp này đã tạo một cảm giác ảo về sự an toàn cho vị thành niên, khi cho rằng vị
25
thành niên có được nhiều thông tin hơn về những vấn đề sức khỏe sinh sản so với
thực tế. Do đó, cần chú ý nhiều hơn đến chất lượng giáo dục, bao gồm tăng cường
củng cố và ôn luyện những khái niệm, kỹ năng và cơ hội [126].
- Nhiều chương trình, sách giáo khoa và chương trình học tiếp tục giới hạn
những vấn đề về dân số, nhân khẩu học, sinh học và phát triển, cũng như vấn đề
giáo dục đời sống gia đình. Tổng kết các chương trình giáo dục sức khỏe tình dục
và sức khỏe sinh sản vị thành niên được tiến hành bởi Cơ quan khu vực của
UNESCO tại Bangkok đã tìm ra, trong nội dung và phương pháp luận, những điểm
yếu và sai sót, đặc biệt trong việc phát triển các kỹ năng của thiếu niên trong việc
quyết định, giải quyết vấn đề, tìm hiểu giá trị bản thân và đối phó với những thay
đổi của tuổi dậy thì. Thêm vào đó, việc lồng ghộp cỏc vấn đề sức khỏe sinh sản và