Lý luận, thực tiễn và các giải pháp tổ chức giáo dục trẻ em lang thang thông qua hoạt động giáo dục sức khỏe sinh sản vị thành niên - Pdf 25



1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC

THẠCH NGỌC YẾN
LÍ LUẬN, THỰC TIỄN VÀ CÁC GIẢI PHÁP TỔ CHỨC GIÁO
DỤC TRẺ EM LANG THANG THÔNG QUA HOẠT ĐỘNG
GIÁO DỤC SỨC KHOẺ SINH SẢN VỊ THÀNH NIÊN

Chuyên ngành: Quản lí giáo dục
Mã số: 62 14 05 01

LUẬN ÁN TIẾN SĨ QUẢN LÍ GIÁO DỤC Người hướng dẫn khoa học:
1. PGS.TS. ĐẶNG QUỐC BẢO
2. PGS.TS. BÙI VĂN QUÂN


SỨC KHOẺ SINH SẢN VỊ THÀNH NIÊN 10
1.1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu 10
1.2. Các khái niêm cơ bản của đề tài 16
1.2.1. Trẻ em lang thang 16
1.2.2. Tổ chức… 20
1.2.3. Hoạt động giáo
dục………………………………………………….… 25 2
1.3. Tổ chức hoạt động giáo dục sức khoẻ sinh sản vị thành
niên…………… 28
1.3.1. Tổ chức hoạt động giáo
dục…………………………………………… 28
1.3.2. Sức khỏe sinh sản 29
1.3.3. Vị thành niên 31
1.3.4. Sức khỏe sinh sản vị thành niên …35
1.3.5. Tổ chức hoạt động giáo dục sức khoẻ sinh sản vị thành niên và mô hình
tổ chức hoạt
động…………………………………………………………… 36
1.3.6. Phòng chống tệ nạn xã
hội…………………………………………… 38
1.4. Những vấn đề tệ nạn xã hội tác động đến trẻ em lang
thang…………… 39
1.5. Tổ chức giáo dục trẻ em lang thang về sức khoẻ sinh sản
vị thành niên: Phục vụ mục tiêu phòng chống tệ nạn xã
hội……………………41
1.5.1. Cơ sở pháp lý của tổ chức hoạt dộng giáo dục sức khoẻ sinh sản
vị thành niên cho trẻ em lang
thang………………….…………………………41

2.1.2. Các hoạt động kinh tế - xã hội tại thành phố Hồ Chí Minh: thành tựu
và thách
thức 63
2.1.3. Những tác động của tệ nạn xã hội đến với trẻ em lang thang tại
Thành phố Hồ Chí Minh 65
2.2.Thực trạng tổ chức giáo dục trẻ em lang thang thông qua hoạt động giáo 4
dục sức khoẻ sinh sản vị thành niên tại thành phố Hồ Chí Minh .71
2.2.1. Ý kiến của cán bộ quản lí đối với việc tổ chức giáo dục trẻ em lang
thang thông qua hoạt động giáo dục sức khoẻ sinh sản vị thành
niên 71
2.2.2. Phân tích chuyên môn của cán bộ quản lí, giáo dục viên, cộng tác
viên tham gia việc tổ chức giáo dục sức khoẻ sinh sản vị thành niên và ý kiến
của họ về đời sống của trẻ em lang
thang 78
2.2.3. Nhận thức - thái độ của trẻ em lang thang về tổ chức giáo dục cho các
em thông qua hoạt động giáo dục sức khoẻ sinh sản vị thành niên
89
2.2.4. Nhân tố tích cực trong lực lượng giáo dục trẻ em lang
thang………… 114
2.3. Đánh giá chung kết quả tổ chức giáo dục trẻ em lang thang thông
qua hoạt động giáo dục sức khoẻ sinh sản vị thành niên 116
Tiểu kết chƣơng 2 121
CHƢƠNG 3: GIẢI PHÁP TỔ CHỨC GIÁO DỤC TRẺ EM LANG
THANG THÔNG QUA HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC SỨC KHOẺ
SINH SẢN VỊ THÀNH
NIÊN 122
3.1. Các nguyên tắc đề xuất giải

giải pháp………………………………………………………………………150
3.3.2. Thử nghiệm giải
pháp………………………………………………… 153
Tiểu kết chƣơng 3 170
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 171
Kết luận 171
Khuyến nghị 173 6
Danh mục công trình được công bố 175
Tài liệu tham khảo 176
Phụ lục 183
các hình thức tổ chức giáo dục phù hợp với những nội dung đa dạng về văn
hóa, về lối sống, những hiểu biết về sức khoẻ sinh sản nhằm giúp các em có
kỹ năng phòng chống sự tấn công của các tệ nạn xã hội. Tổ chức giáo dục cho 8
trẻ em lang thang đường phố là việc làm khó khăn, phức tạp trên nhiều
phương diện, trước hết cần tổ chức hợp lý các hoạt động giáo dục để phát huy
được nhân tố tích cực trong nhóm đối tượng này, vì nhóm trẻ em lang thang
phải tự tìm kiếm miếng ăn cho chính mình, đôi khi còn phải giúp đỡ cho cả
gia đình.
Kết quả nghiên cứu của các tác giả trong và ngoài nước về vấn đề giáo
dục trẻ em lang thang đã đi đến kết luận: Nếu giáo dục trẻ em lang thang có
kiến thức để phòng chống những nguy cơ bị tấn công bởi tệ nạn xã hội qua
các hoạt động giáo dục đa dạng, phù hợp với hoàn cảnh của các em thì sẽ tạo
ra sự chuyển biến tích cực về nhận thức, thái độ và thay đổi hành vi xấu. Với
trẻ em lang thang trong độ tuổi vị thành niên thì việc tổ chức giáo dục đạo
đức, nghề nghiệp và việc tổ chức giáo dục sức khỏe sinh sản có ý nghĩa quan
trọng. Hiện nay, cũng còn có một số ý kiến khác nhau về việc cung cấp biện
pháp tránh thai, phòng tránh bệnh lây truyền qua đường tình dục cho nhóm
đối tượng này. Sự thiếu quan tâm cung cấp thông tin và các dịch vụ kế hoạch
hóa gia đình đã làm tăng nguy cơ mắc các bệnh xã hội và những hậu quả khác
của sinh hoạt tình dục không an toàn cho trẻ em lang thang.
1.2. Vấn đề tệ nạn xã hội hiện nay là mối quan tâm của nhiều quốc gia
trên thế giới. Các quốc gia đều chú ý việc thực hiện chương trình giáo dục vị
thành niên về sức khoẻ sinh sản, nâng cao chất lượng dân số và phát triển bền
vững. Hội nghị Quốc tế về Dân số và Phát triển do Liên Hiệp Quốc tổ chức
tại Cairô, Ai Cập tháng 9 năm 1994 đã đề cập nhiều nội dung về Dân số và
phát triển, trong đó vấn đề quyền sinh sản, sức khỏe sinh sản, kế hoạch hóa
gia đình, phòng chống các bệnh lây truyền qua đường tình dục, kể cả

20 ca nạo phá thai, khoảng 25% trong số đó chưa lập gia đình. Đó là không kể
đến nhiều trường hợp thai quá lớn không thể phá được, bắt buộc phải giữ lại 10
để sinh con. Những người mẹ trẻ này phải đương đầu với tai biến thai nghén
như nhiễm độc, dị dạng thai, sảy thai, sinh non, trẻ bị suy dinh dưỡng.
Tình trạng nạo phá thai ngày càng gia tăng do vị thành niên, thanh niên
thường dễ dãi trong quan hệ tình dục. Tình hình quan hệ tình dục ở lứa tuổi vị
thành niên, trước và ngoài hôn nhân của vị thành niên và thanh niên ngày
càng nghiêm trọng, không chỉ phổ biến ở các thành phố lớn, các khu đô thị
mà xuất hiện ngày càng nhiều ở các vùng nông thôn. Nhóm vị thành niên phải
tham gia kiếm sống sớm như trẻ em lang thang là nhóm dân cư trẻ, nghèo
đang chịu nhiều thách thức.
Những năm gần đây, đã có một số dự án, đề tài nghiên cứu, khảo sát,
đánh giá về giáo dục sức khỏe sinh sản vị thành niên đã được tiến hành. Một
số nghiên cứu về trẻ em lang thang của Timothy W. Bons “Trẻ bụi đời tại
thành phố Hồ Chí Minh” (1992); Nguyễn Văn Buồm, Jonathan Caseley,
“Khảo sát thực trạng trẻ em đường phố tại Hà Nội” (1996); Nguyễn Văn
Thắng “Các biện pháp giáo dục sức khỏe sinh sản vị thành niên cho học sinh
trung học phổ thông” (2000); Phạm Đức Quang “Nghiên cứu các giải pháp
giáo dục trẻ em lang thang Việt Nam” (2003); Đỗ Thị Ngọc Phương “Cơ cấu
nhóm của trẻ em lang thang và các biện pháp giáo dục thông qua nhóm”
(2004); Võ Trung Tâm thuộc Sở Lao động Thương binh và Xã hội thành phố
Hồ Chí Minh “Trẻ em lang thang kiếm sống trên đường phố tại thành phố”
(2005).
Tuy nhiên, việc nghiên cứu về tổ chức giáo dục trẻ em lang thang về giáo
dục sức khoẻ sinh sản còn ít được chú ý.
Vì lý do trên chúng tôi chọn đề tài Luận án:
“Lí luận, thực tiễn và các giải pháp tổ chức giáo dục trẻ em lang

đối tượng này trên cơ sở vận hành tối ưu cấu trúc của các tổ chức xã hội đang 12
có, hướng các tổ chức này vào việc thực hiện các hoạt động giáo dụcđặc biệt
giáo dục sức khỏe sinh sản vị thành niên phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý và
hoàn cảnh sống của trẻ em lang thang.
6. Phƣơng pháp nghiên cứu
6.1. Phương pháp luận
- Tiếp cận hệ thống.
- Tiếp cận nhân cách.
6.2. Các phương pháp cụ thể
6.2.1. Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận
Sử dụng các phương pháp: Phân tích, tổng hợp, hệ thống hóa, khái quát
hóa các tư liệu để xây dựng các khái niệm công cụ và khung lý thuyết của đề
tài.
6.2.2. Nhóm các phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Phương pháp điều tra xã hội học
- Phương pháp quan sát: Quan sát hoạt động của trẻ em lang thang,
những biểu hiện nhân cách các em khi tham gia các hoạt động giáo
dục sức khỏe sinh sản vị thành niên.
- Phương pháp phỏng vấn sâu: thực hiện với 3 cán bộ quản lí tại cộng
đồng, 5 giáo dục viên, cộng tác viên, 10 trẻ em lang thang có hoàn
cảnh khó khăn, nhằm tìm hiểu:
 Những khó khăn và thuận lợi của những người quản lí, tổ chức,
những người trực tiếp tổ chức giáo dục trẻ em lang thang thông qua
hoạt động giáo dục sức khỏe sinh sản vị thành niên.
 Mong muốn của trẻ em lang thang và những rào cản đối với các em
khi tham gia hoạt động giáo dục sức khỏe sinh sản vị thành niên.

14
- TELT sống lang thang một mình hoặc theo nhóm: 400 em
- TETL sống tại mái ấm, nhà mở. 120 em
- TETL sống cùng cha mẹ tại nhà trọ, nhà thuê. 30 em
(Có hộ khẩu Tp. Hồ Chí Minh, tạm trú hay tình trạng ở trọ không tạm trú)
8. Những luận điểm bảo vệ
8.1. Trẻ em lang thang là nhóm trẻ em chịu nhiều thiệt thòi, cần được xã
hội quan tâm chăm sóc giáo dục. Sự chăm sóc, giáo dục các em vừa giúp cho
xã hội được ổn định và giúp cho các em không bị suy thoái nhân cách, không
sa vào các tệ nạn xã hội. Sự chăm sóc này không làm theo kiểu vụ việc mà
thực hiện có tổ chức, có mục đích.
8.2. Tổ chức giáo dục sức khỏe sinh sản vị thành niên cho trẻ em lang
thang trong hoàn cảnh hiện nay, ở nước ta cần được quan tâm đặc biệt. Sự
quan tâm này xuất phát từ mục tiêu nâng cao chất lượng dân số quốc gia đồng
thời còn vì quyền lợi của các em, thực hiện Quyền trẻ em theo Công ước
Quốc tế và Luật Bảo vệ Chăm sóc và Giáo dục Trẻ em Việt Nam.
8.3. Để tổ chức giáo dục sức khỏe sinh sản vị thành niên cho trẻ em lang
thang phải thực hiện hệ thống các giải pháp:
 Phát huy vai trò của các chủ thể/lực lượng tham gia tổ chức giáo dục
trẻ em lang thang qua hoạt động giáo dục sức khỏe sinh sản vị thành niên.
 Khẳng định được mô hình tổ chức giáo dục sức khỏe sinh sản vị
thành niên thích hợp với hoàn cảnh trẻ em lang thang
 Tăng cường các điều kiện cho mục tiêu đề ra.
 Tăng cường kiểm tra, giám sát kịp thời xử lý các vi phạm và tôn vinh
các tấm lòng nhân ái vì các em.
giáo dục sức khỏe sinh sản vị thành niên.
Chƣơng 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC TỔ CHỨC GIÁO DỤC
TRẺ EM LANG THANG THÔNG QUA HOẠT ĐỘNG
GIÁO DỤC SỨC KHOẺ SINH SẢN VỊ THÀNH NIÊN

1.1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề
 Trẻ em lang thang và tệ nạn xã hội tác động đến trẻ em lang thang
ở một số nước trên thế giới
Ước tính trên toàn cầu tổng số trẻ em lang thang có khoảng 100 triệu em,
một nửa số này ở châu Mỹ La Tinh. Con số này đang tăng lên nhanh chóng
do quá trình đô thị hoá phát triển.
Theo Quỹ Nhi đồng Liên hiệp quốc (UNICEF), trẻ em lang thang trên
thế giới thường xuyên bị bóc lột. 70% tập trung ở châu Mỹ La tinh, châu Phi
châu Á. Riêng tại châu Á, có khoảng 25 triệu đến 30 triệu trẻ em dưới 18 tuổi
do thiếu hiểu biết đã bị đẩy vào tệ nạn xã hội như mại dâm, ma túy.
Ở Châu Á, số trẻ em trai lang thang nhiều hơn em gái. Các em gái ít gặp
trên đường phố hơn, bởi vì số em gái bỏ nhà ra đi hoặc bị gia đình ruồng bỏ ít
hơn; cũng có nguyên nhân các em gái được các nhà chức trách thu gom nhanh
hơn [69, tr.10].
Một khảo sát khác của UNICEF, trẻ em và nhóm vị thành niên ở Đông
Nam Á và Thái Bình Dương về tình trạng thất học và nguyên nhân cho biết:
19% trẻ em trả lời rằng các em không thích đi học, không thích trường học.
Khoảng 22% đã bỏ học để đi làm kiếm sống, trong số này có nhiều em cho
biết là không đi học vì thiếu tiền, có 21% đưa ra lý do là cần phải giúp công
việc nhà cho cha mẹ, 4% nêu lý do là không có trường để đi học. 17
Ở vùng Hạ Xa-ha-ra, Châu Phi, ước tính có khoảng 11 triệu trẻ em bị mồ
côi do dịch bệnh AIDS. Đối với những trẻ em bị mồ côi cả cha lẫn mẹ cơ hội

Theo báo cáo của UNICEF Mông Cổ thì chính phủ đang cố gắng tìm mọi biện
pháp ngăn chặn trẻ em phải sống trong các hệ thống hầm này.
Ở Bangladesh, trẻ em lang thang trên đường phố gia tăng nhanh. Vào
năm 1990 có 1.8 triệu trẻ em, đến năm 2000 có trên 3 triệu. Tổ chức hợp tác
phi chính phủ về trẻ em đường phố tại Bangladesh cho biết 30% trẻ em từ 10-
14 tuổi phải lao động kiếm sống nhiều em trở thành TELT; tại thành phố
Dhaka, trẻ em lang thang đường phố là 215.000, trong đó có 100.000 là trẻ
em gái [43, tr.7-14].
Tại Nhật Bản, theo số liệu năm 2000 của Bộ Xã hội và Bộ Y tế Nhật Bản
thì số trẻ em lang thang cũng có chiều hướng gia tăng, nguyên nhân do sự
xung đột trong quan hệ gia đình các em buồn chán đi lang thang.
Theo Tổ chức Lao động Quốc tế, hàng năm có khoảng 12 triệu trẻ em bị
buôn bán để trở thành lao động bắt buộc hoặc làm mại dâm. Có nhiều lý do
khác nhau khiến cho trẻ em ở tuổi vị thành niên phải kiếm sống và nương
thân ngoài đường phố, như nhà cửa đổ nát, gia đình ly tán do bất hòa hay
chiến tranh hoặc tình trạng khẩn cấp quân sự. Trẻ em có thể bị đẩy ra đường
do đói nghèo cùng cực, bạo lực hoặc bị ngược đãi trong gia đình, hoặc mâu
thuẫn với họ hàng. Các em phải tìm cách trốn khỏi sự ngược đãi về thể xác
lẫn tinh thần. Một số các em do học hành thất bại, sức khỏe tâm thần suy
giảm, buồn chán, quan hệ bạn bè không vừa ý cũng rơi vào tình trạng lang
thang.
Từ cuộc sống lang thang, thất học lại phải lao động sớm, trẻ em lang
thang đường phố do thiếu hiểu biết bị ảnh hưởng bởi những thói hư, tật xấu,
bị lôi kéo vào các tệ nạn xã hội, như sử dụng, buôn bán ma túy rồi đưa đến
nhiễm HIV/AIDS. 19
Do hoàn cảnh kinh tế, chỗ ở bấp bênh, thiếu khả năng tiếp cận các dịch
vụ xã hội, nên thanh thiếu niên không nhà, không cửa thường bị thiếu ăn, sức

đường phố do vậy ít có cơ hội được hưởng những dịch vụ xã hội thiết yếu như
giáo dục, y tế. Tại Việt Nam theo Báo cáo của Bộ Lao động Thương binh và
Xã hội năm 1999 cả nước hiện có khoảng trên 23.000 trẻ em lang thang. Sau
3 năm thực hiện quyết định của 134/1999/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính Phủ,
số trẻ em lang thang còn 22.000 em và đến tháng 2 năm 2003 theo Báo cáo
của Uỷ ban Dân số Gia đình Trẻ em 58 tỉnh, thành phố số TELT giảm còn
20.540 em, với:
 4 tỉnh, thành phố có trên 1.000 em: Hà Nội 1.600 em, Thành phố Hồ Chí
Minh 6.563 em, Hà Nam 1.771 em và Kiên Giang 1.000 em.
 6 tỉnh, thành phố còn trên 500 em gồm: Hải Phòng 640 em, Hưng Yên 510
em, Thanh Hoá 766 em, Thừa Thiên Huế 538 em, Bà Rịa – Vũng Tàu 700
em, Quảng Ngãi 504 em.
 13 tỉnh, thành phố trên 200 gồm: Nam Định 420 em, Quảng Ninh 287 em,
Quảng Trị 200 em, Đà Nẵng 213 em, Quảng Nam 235 em, Khánh Hoà 381
em, Ninh Thuận 200 em, Lâm Đồng 320 em, Đồng Tháp 203 em, An
Giang 300 em, Sóc Trăng 213 em, Bạc Liêu 450 em, Nghệ An 290 em.
Khi thực hiện Quyết định 19/2004/QĐ-TTg ngày 12/02/2004 của Thủ
tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình phòng ngừa và giải quyết vấn đề trẻ
em lang thang, trẻ em bị xâm hại tình dục và trẻ em phải lao động nặng nhọc,
trong điều kiện độc hại nguy hiểm, trẻ em lang thang đường phố có giảm về
số lượng. Song còn nhiều em bị xâm hại tình dục. Tình hình này ngày càng
diễn biến phức tạp, đến năm 2005 có một số nơi đã tập trung nắm số lượng trẻ
em lang thang tại các tỉnh, thành phố, tìm hiểu nguồn gốc của các em để tổ
chức dạy nghề, tạo việc làm giúp các em “hồi gia bền vững”, nâng cao nhận
thức, hiểu biết và vận động các tổ chức xã hội, từ thiện, các doanh nghiệp, cơ 21
sở sản xuất chia sẻ trách nhiệm, tham gia trợ giúp. Nhà nước chỉ thị Hội Nông
dân xây dựng và phát triển mô hình “Gia đình nông thôn không để trẻ em đi lang

dụng; cuộc sống của các em khác xa với tuổi thơ lý tưởng được mô tả trong
Công ước về Quyền trẻ em. Mọi sự đe dọa, các nguy cơ tiềm ẩn, mầm mống
của hành vi tội phạm, không chỉ phụ thuộc vào môi trường sống xã hội, cộng
đồng và gia đình (của một số em không mồ côi) mà còn phụ thuộc rất nhiều
vào kiến thức, thái độ và hành vi ứng xử của các em, đặc biệt là những kiến
thức về sức khỏe sinh sản cho vị thành niên, do vậy sẽ góp phần giúp các em
bảo vệ tốt sức khỏe của chính mình, phòng chống được các bệnh lây lan qua
đường tình dục, các nguy cơ bị tấn công bởi tệ nạn xã hội, bị lạm dụng và
giảm thiểu các trường hợp mang thai ngoài ý muốn cũng như nạo thai không
an toàn…Chính thông qua con đường giáo dục có tổ chức giáo dục có kế
hoạch đồng bộ, thường xuyên từ cộng đồng sẽ giảm nguy cơ đến với các em
có hoàn cảnh khó khăn.
1.2. Các khái niệm cơ bản của đề tài
1.2.1. Trẻ em lang thang
 Khái niệm về trẻ em
Trẻ em là con người được giới hạn bởi tuổi đời, có những đặc điểm
chung phân biệt với người lớn về độ chín muồi trưởng thành nhân cách và
những đặc điểm riêng về tâm sinh lý đối với từng lứa tuổi trong độ tuổi tự
nhiên và pháp định của mình.
Trẻ em không phải là người lớn thu nhỏ. Trẻ em luôn cần được phát
triển tự nhiên, càng lớn thì nhu cầu tự phát triển càng cao. Ngay từ đầu, cuộc
sống của trẻ thơ quanh quẩn trong gia đình và bên những người chăm sóc trẻ.
Từ đó, sự phát triển của trẻ em tuỳ thuộc vào mức độ quan tâm và chăm sóc
của những người chăm sóc, nuôi dạy. Qua trò chuyện, vui chơi, nhìn ngắm
người khác, tham gia sinh hoạt, dần dần phát triển về thể lý cũng như tình 23
cảm. Trẻ em càng lớn thì khả năng hiểu ngôn ngữ và khả năng diễn tả ý nghĩ,
tình cảm theo đó phát triển [52, tr.4-8].

Trước những năm 1997-1999, khi những trẻ em phải lang thang kiếm sống
trên đường phố thường được gọi trẻ đường phố là dịch nguyên nghĩa của nhóm từ
“street children” tiếng Anh, hoặc “les enfants des rues” tiếng Pháp, hay trẻ vô gia
cư “homeless boy”. Cũng có thể gọi là trẻ bụi đời “children of the dust”, là cách
gọi thông thường trên các văn bản quốc tế, khi nói về trẻ em lang thang lao động
kiếm sống trên đường phố như đánh giày, lượm rác, bán vé số, mì gõ kể cả những
trẻ em trây lười bỏ học, hoặc bị bỏ rơi, hay bắt buộc ăn xin, cướp giật, sống bất cần
đời trên đường phố. Đôi khi các em sống lang thang, ngủ lề đường, tối đến lại có
hành vi như lôi kéo khách du lịch, móc túi, ăn thức ăn thừa tại các quán, ảnh hưởng
đến mỹ quan đô thị. Trẻ đường phố là một nhóm đối tượng trẻ em có hoàn cảnh khó
khăn đặc biệt (gọi theo Quyết định số 134/1999/QĐ-TTg của Chính phủ).
Trẻ em lang thang gọi theo Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em
Việt Nam (2005): đó là những trẻ em phải vất vưởng kiếm sống trên đường
phố, không nơi nương tựa. Phần lớn trẻ em này từ 6-16 tuổi. Đây là nhóm tuổi
đã có ý thức nhất định về hành vi của bản thân, nhưng các em này không còn
cách chọn lựa nào khác, đành chấp nhận hoàn cảnh của mình.
Trẻ em lang thang là những trẻ em mà việc nuôi dưỡng của gia đình
từng lúc bị suy giảm, khiến các em phải chia sẻ trách nhiệm để gia đình có
đời sống khá hơn, bằng cách đi kiếm sống trên đường phố ở các tỉnh, thành
phố, thị trấn. Đối với các em này nhà không còn là nơi giúp cho em nương
dựa, vui chơi, sinh hoạt hàng ngày. Ban ngày, trẻ em lang thang dựa vào
đường phố để hoạt động, tối đến phần lớn các em không trở về nhà: có khi ở
góc phố, mái hiên, gầm cầu nhưng có khi lại quên về nhà, và thường không
ai quan tâm đi tìm kiếm các em…Các mối liên hệ gia đình của trẻ em lang


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status