Các biện pháp giáo dục sức khỏe sinh sản vị thành niên ở miền núi tỉnh Quảng Nam (FULL TEXT) - Pdf 26

1
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SU PHẠM HÀ NỘI

NGUYỄN TẤT THẮNG
CÁC BIỆN PHÁP GIÁO DỤC
SỨC KHỎE SINH SẢN VỊ THÀNH NIÊN
Ở MIỀN NÚI TỈNH QUẢNG NAM
Chuyên ngành: Lý luận và Lịch sử Giáo dục
Mã số: 62.14.01.01
LUẬN ÁN TIẾN SĨ GIÁO DỤC HỌC
2
HÀ NỘI - 2007
MỞ ĐẦU
1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI NGHIÊN Cøu
1.1 Bước vào thế kỷ XXI, xu thế toàn cầu hóa và những vấn đề liên quan đến
nguồn nhân lực đang đặt ra cho nhân loại trước nhiều thời cơ và thách thức lớn.
Mỗi quốc gia, cộng đồng, gia đình và từng cá nhân có chiến thắng được thách thức,
nắm được thời cơ để đạt đến sự phát triển mạnh mẽ và bền vững hay không, vấn đề
quan trọng bậc nhất là “con người” và "chất lượng con người”.
Đảng ta luôn đề cao nhân tố con người. Nghị quyết Hội nghị Ban chấp hành
Trung ương Đảng lần thứ 2 khóa VIII, đã khẳng định vai trò chiến lược con người,
của việc phát huy nguồn lực con người, yếu tố cơ bản của sự phát triển nhanh và
bền vững mọi mặt của xã hội. Quan điểm của Chiến lược Dân số Việt Nam giai
đoạn 2001-2010 xác định “ Thực hiện đồng bộ, từng bước và có trọng điểm việc
điều hòa giữa số lượng và chất lượng dân số, giữa phát triển dân số và phát triển
nguồn nhân lực”. Mục tiêu về chất lượng dân số của Chiến lược cũng đã khẳng định
“ Nâng cao chất lượng dân số về thể chất, trí tuệ và tinh thần. Phấn đấu đạt chỉ số
phát triển con người (HDI) ở mức trung bình tiên tiến của thế giới vào năm 2010”.
Mét trong những giải pháp để đạt được mục tiêu đó là tăng cường công tác giáo dục
và chăm sóc sức khỏe sinh sản cho nhân dân, mà trước hết là sức khỏe sinh sản cho

Do đó, đầu tư giáo dục toàn diện cho vị thành niên ở miền núi, trong đó
dành ưu tiên về giáo dục sức khỏe sinh sản, với các biện pháp giáo dục phù hợp, sẽ
là những đóng góp hiệu quả nhất đảm bảo nguồn nhân lực thực sự trở thành thế
mạnh và tài sản của địa bàn này cho cả hiện tại và các thế hệ mai sau.
Xuất phát từ những lý do trên, chúng tôi chọn nghiên cứu đề tài: “Các biện
pháp giáo dục sức khỏe sinh sản vị thành niên ở miền núi tỉnh Quảng Nam”.
2. MỤC ĐÍCH NGHIÊN Cøu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn, đề xuất các biện pháp góp phần
nâng cao hiệu quả giáo dục sức khỏe sinh sản VTN ở miền núi tỉnh Quảng Nam.
3. KHÁCH THỂ VÀ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN Cøu
4
3.1. Khách thể nghiên cứu
Quá trình giáo dục sức khỏe sinh sản vị thành niên
3.2. Đối tượng nghiên cứu
Các biện pháp giáo dục sức khỏe sinh sản vị thành niên ở miền núi tỉnh
Quảng Nam.
4. GIẢ THUYẾT KHOA HỌC
Các biện pháp giáo dục sức khỏe sinh sản vị thành niên ở miền núi hiện nay
đã đem lại một số kết quả, song vẫn còn thiếu hiệu quả dẫn đến nhận thức, thái độ
và hành vi về sức khỏe sinh sản của vị thành niên còn thấp kém. Nếu xây dựng
được các biện pháp giáo dục đồng bộ và phù hợp, trong đó có biện pháp giáo dục
thông qua mô hình giáo dục đồng đẳng thì sẽ nâng cao hiệu quả việc thực hiện mục
tiêu giáo dục sức khỏe sinh sản cho vị thành niên ở khu vực miền núi.
5. NHIỆM VÔ NGHIÊN Cøu
5.1. Xác định cơ sở lý luận, quan điểm chỉ đạo việc thực hiện các biện pháp
giáo dục sức khỏe sinh sản vị thành niên.
5.2. Khảo sát và đánh giá thực trạng các biện pháp giáo dục sức khỏe sinh
sản vị thành niên; nhận thức, thái độ, và hành vi về sức khỏe sinh sản của vị thành
niên ở các huyện miền núi tỉnh Quảng Nam, và lý giải nguyên nhân của thực trạng.
5.3. Đề xuất các biện pháp giáo dục sức khỏe sinh sản vị thành niên có hiệu

lượng (thông qua bảng hỏi) và nghiên cứu định tính (thông qua phỏng vấn sâu và
thảo luận nhóm tập trung).
Bước 1: Nghiên cứu định lượng, phỏng vấn trực tiếp các đối tượng tại hộ gia
đình, cơ quan bằng bảng hỏi nhằm mô tả thực trạng nhận thức, thái độ, hành vi, các
biện pháp giáo dục đã thực hiện và mô tả các mối liên quan đến nhận thức, thái độ,
hành vi của đối tượng được nghiên cứu.
6
Bước 2: Nghiên cứu định tính nhằm mô tả các yếu tố liên quan đến nhận
thức, thái độ, hành vi, và những nguy cơ cao liên quan đến sức khỏe sinh sản vị
thành niên thông qua:
- Thảo luận nhóm tập trung: Nhóm cán bộ chính quyền, đoàn thể cấp xã (1
nhóm), nhóm giáo viên, cán bộ quản lý nhà trường (1 nhóm), nhóm vị thành niên đã
thôi học (1 nhóm), nhóm vị thành niên đang đi học (1 nhóm).
- Phỏng vấn sâu 5 hé gia đình làm nông nghiệp.
7.2.2. Phương pháp lấy ý kiến chuyên gia
Tổ chức hội thảo chuyên đề báo cáo sơ bộ kết quả điều tra và xin ý kiến các
chuyên gia cấp tỉnh, huyện và xã.
7.2.3. Phương pháp thực nghiệm tác động
- Thực hiện thực nghiệm tác động "Biện pháp giáo dục thông qua mô hình
giáo dục đồng đẳng" tại 2 xã và 1 trường Phổ thông Dân téc nội trú.
7.3 Phương pháp thống kê toán học trong xử lý số liệu
7.3.1. Nhập số liệu, phân tích
Số liệu từ bảng hỏi phỏng vấn đánh giá thực trạng được nhập vào máy tính
bằng chương trình Foxpro, sau đó chuyển sang chương trình Excel kết hợp sử dụng
Visual Basic để xử lý (nghiên cứu định lượng) và tổng hợp các biên bản thảo luận,
các cuộc phỏng vấn sâu (định tính).
Phần thực nghiệm được nhập liệu và xử lý bằng phần mềm SPSS 13.0; kiểm
định bằng Chi-Square và hệ số tương quan thứ bậc Spearman, theo công thức:
r
s

- Chương 3 - Các biện pháp giáo dục sức khỏe sinh sản vị thành niên ở miền
núi tỉnh Quảng Nam.
(n
1
x 1)+(n
2
x 2)+(n
3
x 3)+
n
1
+n
2
+n
3
+
X =
8
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ GIÁO DỤC
SỨC KHỎE SINH SẢN VỊ THÀNH NIÊN
1.1 TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN Cøu
1.1.1 Những nghiên cứu về sức khỏe sinh sản vị thành niên ở nước
ngoài:
Trong nhiều năm qua, trên thế giới, cả những nước đang phát triển và các
nước đã phát triển, đang đối mặt với nhiều vấn đề bất ổn và thách thức của SKSS
VTN. Nhiều công trình nghiên cứu về quan hệ tình dục, mang thai và sinh đẻ, phá
thai, bệnh lây truyền qua đường tình dục trong lứa tuổi VTN đã được tiến hành và
công bố rộng rãi. Có thể điểm qua một số công trình nghiên cứu tiêu biểu về SKSS
VTN, theo thống kê của Tổ chức Y tế Thế giới, từ năm 2000 trở lại đây: [133].

- Zenilda Vieira Bruno (Brazil) “Hậu quả về xã hội và hành vi của việc mang
thai ở tuổi vị thành niên”.
- Monica A Magadi, Alfred Otieno Agwanda (Kenya) “Nghiên cứu về làm
mẹ an toàn trong vị thành niên ở vùng Nam Nyanza của Kenya”.
- Zhang Liying (Trung Quốc) “Nghiên cứu về việc tiếp cận và tiếp nhận dịch
vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản vị thành niên”.
- Arurat Tangmunkongvorakul (Thái Lan) “Việc tiếp cận với chăm sóc sức
khỏe và định hướng của người cung cấp dịch vụ về nhu cầu sức khỏe sinh sản vị
thành niên: nghiên cứu vùng Bắc Thái Lan”.
- Sabina Faiz Rashid (Bangladesh) “Nghiên cứu dân téc học về sức khỏe sinh
sản đối với nữ vị thành niên vùng nghèo ở thành phè Dhaka”.
- Vanphanom Sychareun (Lào) “Định hướng chăm sóc của người cung cấp
dịch vụ về sức khỏe sinh sản vị thành niên”.
- Nilar Tin (Myanmar) “Sự bất cập của hệ thống y tế và những người cung
cấp dịch vụ về nhu cầu sức khỏe sinh sản vị thành niên”.
10
- Cristian Pereda Feliu (Chile) “Chuẩn mực phòng ngõa nhóm về các bệnh
lây truyền qua đường tình dục/ AIDS, mang thai ngoài ý muốn và tác động về sự
thay đổi trong nam nữ vị thành niên trường học tại Santigo, Chile“.
- Gao Ersheng (Trung Quốc) “Nghiên cứu can thiệp dùa vào cộng đồng về
giáo dục và cung cấp dịch vụ sức khỏe tình dục/ sức khỏe sinh sản cho vị thành niên
và thanh niên tuổi 15-24 chưa lập gia đình ở Thượng Hải“.
Nhận xét: Các tác giả nêu trên đã sử dụng nhiều phương pháp nghiên cứu
khác nhau như điều tra xã hội học, phỏng vấn sâu, thảo luận nhóm tập trung,
phương pháp hồi quy, can thiệp, Labô, nhân trắc, khám lâm sàng, tổng kết bệnh án,
nhưng rộng rãi nhất vẫn là điều tra xã hội học. Khách thể được khảo sát là vị thành
niên từ 12 - 19 tuổi. Công trình nghiên cứu có số lượng khảo sát Ýt nhất là 200 vị
thành niên và nhiều nhất là 2400 vị thành niên, 80% vị thành niên ở ngoài nhà
trường, vùng chịu nhiều thiệt thòi, nhưng chưa có ở vùng núi.
Chủ đề nghiên cứu tập trung ở các nội dung hành vi nguy cơ về tình dục,

Theo Đỗ Ngọc Tấn, Nguyễn Văn Thắng, Nguyễn Tấn Thắng và các cộng sự
[78], từ năm 1995-2003 đã có 146 tài liệu, công trình nghiên cứu về sức khỏe sinh
sản vị thành niên, đề cập đến những chủ đề chính:
- Thực trạng tình hình sức khỏe, sức khỏe sinh sản vị thành niên, có 82/146
nghiên cứu, chiếm 56,1%, bao gồm:
+ Về thể lực, trí tuệ, tâm lý, sinh lý, bệnh lý và những nghiên cứu cơ bản có
liên quan đến sức khỏe, sức khỏe sinh sản vị thành niên.
+ Về thực trạng nhận thức, thái độ, hành vi của VTN đối với sức khỏe, SKSS
VTN gồm các chủ đề liên quan đến tình bạn, tình yêu, tình dục, quan hệ tình dục, sử
dụng các BPTT, có thai sớm và phá thai trong lứa tuổi VTN; nhận thức về
HIV/AIDS và các tệ nạn xã hội, tình hình tội phạm và những thực trạng có liên quan.
- Những yếu tố ảnh hưởng đến sức khỏe, sức khỏe sinh sản vị thành niên, có
18 nghiên cứu, chiếm 12,4%, bao gồm:
+ Về ảnh hưởng của đại dịch HIV/AIDS và các tệ nạn ma túy, mại dâm đối
với sức khỏe, sức khỏe sinh sản vị thành niên.
+ Về ảnh hưởng của bạo lực, văn hóa phẩm đồi trụy và tai nạn thương tích
đối với sức khỏe, sức khỏe sinh sản vị thành niên.
12
- Những yếu tố, giải pháp, biện pháp tác động nhằm nâng cao hiệu quả giáo
dục, chăm sóc sức khỏe, sức khỏe sinh sản vị thành niên, có 46 nghiên cứu, chiếm
31,5%, bao gồm các yếu tố, giải pháp, biện pháp thuộc về trách nhiệm của chính
quyền các cấp, các đoàn thể xã hội, của nhà trường và của gia đình.
Như vậy, có tới 56,1% các công trình nghiên cứu đã tập trung vào việc khảo
sát đánh giá thực trạng và nghiên cứu cơ bản. Các nghiên cứu đi sâu vào việc tìm
kiếm đề xuất các giải pháp chỉ chiếm 31,5%, và các nghiên cứu nhằm tìm ra những
yếu tố tác động ảnh hưởng đến sức khỏe sinh sản vị thành niên chỉ chiếm 12,4%.
Đáng chó ý, từ năm 2000 trở lại đây, tại trường Đại học Sư phạm Hà Nội, có
nhiều luận văn thạc sĩ và luận án tiến sĩ nghiên cứu về vấn đề này và có thể nêu một
số nghiên cứu tiêu biểu nh sau:
Hoàng Thị Lợi, “Thực trạng và các biện pháp nâng cao nhận thức về sức

đoàn thể. Các giải pháp giáo dục đã được đề xuất gồm: tăng cường công tác quản
lý của gia đình, cung cấp tài liệu, hưởng ứng xây dựng gia đình văn hóa mới, giáo
dục kết hợp với nhà trường; triển khai và xây dựng chương trình giáo dục, lồng
ghép giảng dạy ở các bộ môn, kết hợp với các hoạt động ngoại khóa trong nhà
trường; tăng cường hoạt động của các cơ quan thông tin đại chúng, huy động đội
ngò cộng tác viên, tuyên truyền viên, xây dựng trung tâm tư vấn, gia đình văn hóa
mới ở cộng đồng, mô hình cung cấp dịch vụ sức khỏe sinh sản cho vị thành niên; và
tăng cường giải pháp tự giáo dục từ phía cá nhân vị thành niên.
Nguyễn Thế Hùng, “ Biện pháp bồi dưỡng năng lực giáo dục sức khỏe sinh
sản vị thành niên đối với các bậc cha mẹ”. Luận án Tiến sĩ (2005) [54].
Luận án tập trung nghiên cứu, xác định những yếu tố ảnh hưởng đến việc bồi
dưỡng năng lực giáo dục sức khỏe sinh sản vị thành niên cho các bậc cha mẹ; xác
định các biện pháp bồi dưỡng năng lực giáo dục sức khỏe sinh sản vị thành niên cho
các bậc cha mẹ; và đề xuất một số biện pháp giúp cho các cơ quan, đoàn thể, các
nhà khoa học, các nhà giáo dục tổ chức việc hỗ trợ cho các bậc cha mẹ tăng cường
năng lực giáo dục con cái. Các nhóm biện pháp đã được đề xuất bao gồm: xây dùng
và chuẩn hóa nội dung giáo dục sức khỏe sinh sản vị thành niên; tổ chức hoạt động
truyền thông giáo dục cộng đồng; bồi dưỡng cho cha mẹ thông qua các líp học phi
chính qui, chuyên đề linh hoạt, thông qua các đoàn thể mà cha mẹ là thành viên,
thông qua các phong trào thi đua quần chúng; và tổ chức quản lý. Luận án có 152
trang, với 94 tài liệu tham khảo, trong đó có 3 tài liệu tiếng Anh. Địa bàn nghiên
14
cứu là khu vực đồng bằng , nơi có số đông dân cư sinh sống, chưa có điều kiện triển
khai ở miền núi.
Nhận xét: Những phát hiện chính từ các nghiên cứu khoa học núi trên có thể
được tóm tắt nh sau:
- Mét bộ phận không nhá vị thành niên, ngay cả nhóm vị thành niên lớn(17-
19 tuổi), còn thiếu những hiểu biết hoặc hiểu sai lệch các đặc điểm dậy thì, các đặc
trưng về giới tính của chính bản thân mình. Phần lớn vị thành niên còn rất e ngại
khi núi đến vấn đề có liên quan đến giới tính, tình dục với bạn bè, ngay cả trong

Bộ Giáo dục & Đào tạo, Trung ương Đoàn Thanh Niên Cộng Sản Hồ Chí Minh,
Hội Liên hiệp Phô nữ, Ủy ban Quốc gia phòng chống AIDS, Trường Đại học Sư
phạm Hà Nội, các trường Đại học Y Hà Nội, Thái Bình, TP.Hồ Chí Minh, Hải
Phòng, Thái Nguyên, Viện Xã hội học, Trung tâm Nghiên cứu Phụ nữ và Gia đình,
Viện Nghiên cứu Thanh niên… Ngoài ra, các tổ chức Quốc tế, các tổ chức Phi
chính phủ [94],[97] còng đã quan tâm nghiên cứu hoặc hỗ trợ kỹ thuật và tài chính
để nghiên cứu như UNFPA, WHO, UNICEF, UNDP, SIDA Thụy Điển, Hội đồng
Dân số Mỹ, Quỹ Cứu trợ Nhi đồng Anh, CARE International, Marie Stopes
International, PDI, Pathfinder, WVI, World Population Foundation ….
Khách thể được lùa chọn khảo sát chủ yếu là học sinh đang đi học; vị thành
niên đã thôi học, trẻ em đường phố, và các vị thành niên khác ngoài nhà trường
chiếm tỷ lệ thấp so với học sinh các trường học. Các địa bàn được nghiên cứu chủ
yếu tập trung ở khu vực đô thị, những nơi thuận lợi về giao thông và có đông dân
cư. Các vùng nông thôn, đặc biệt là các vùng miền núi, cũng đã được quan tâm
nghiên cứu, nhưng chỉ chiếm mét tỷ lệ thấp và khiêm tốn.
Tuy còn nhiều vấn đề cần có những nghiên cứu cơ bản và rộng khắp hơn
nhằm đưa ra những giải pháp tổng thể, những biện pháp khả thi nhằm huy động
toàn xã hội cộng đồng trách nhiệm giáo dục sức khỏe sinh sản cho vị thành niên,
nhưng những kết quả thu được từ những nghiên cứu trong vòng 10 năm qua đã
mang lại những kết quả quý báu, đáng trân trọng, và tiếp tục được rút kinh nghiệm,
phát huy lâu dài. Nhiều công trình của các tác giả trong và ngoài nước đã nghiên
cứu vấn đề sức khỏe sinh sản vị thành niên và giáo dục SKSS cho VTN với nhiều
mức độ khác nhau, chỉ ra nội dung, phương pháp, các hình thức tổ chức giáo dục
16
SKSS VTN, chỉ ra chiến lược giáo dục sức khỏe sinh sản vị thành niên có tính quốc
gia và toàn cầu.
1.1.3 Giáo dục Sức khỏe sinh sản Vị thành niên ở Việt Nam
Sau Hội nghị Quốc tế về Dân sè-Phát triển ở Cai-rô năm 1994, hàng loạt
hội thảo đã được tổ chức ở Việt Nam để phổ biến khái niệm sức khỏe sinh sản và
vai trò của nó trong Dân sè - Phát triển. Các hoạt động tuyên truyền do Chính phủ,

tiểu học ( Toán, Tiếng Việt, Tìm hiểu tự nhiên- xã hội, Đạo đức và Sức khỏe), và
được tích hợp vào 3 môn học ở bậc trung học (Địa lý, Sinh vật và Giáo dục công
dân) [5],[11 ], [14].
Từ năm 1997 -2000, giáo dục Dân sè/sức khỏe sinh sản được tăng cường
thêm một bước nữa thông qua các hoạt động của dự án VIE/97/P13 với mục tiêu cơ
bản là thực hiện giáo dục Dân sè/sức khỏe sinh sản ở phổ thông với tinh thần nhấn
mạnh tới các chủ đề giáo dục sức khỏe sinh sản vị thành niên, tập trung ở cấp
THCS.
Từ 2001- 2005, thông qua dự án VIE/01/P11, giáo dục sức khỏe sinh sản
được tiếp tục thực hiện ở cấp THPT để phù hợp với tiến độ đổi mới giáo dục ở
THPT của ngành Giáo dục và Đào tạo theo NQ 40 của Quốc hội, với các mục tiêu
cụ thể là: dạy và học giáo dục sức khỏe sinh sản vị thành niên ở các líp THPT, thí
điểm dạy học giáo dục sức khỏe sinh sản ở mét số trường Đại học Sư phạm, thực
hiện các biện pháp tuyên truyền vận động để tạo sự đồng tình, phối hợp với xã hội.
Các sách giáo khoa có tích hợp giảng dạy sức khỏe sinh sản vị thành niên ở
cấp THPT gồm các môn Ngữ văn, Địa lý, Sinh học và Giáo dục công dân. Ví dụ,
sách giáo khoa Ngữ văn THPT mới có tích hợp nội dung giáo dục sức khỏe sinh sản
vị thành niên vào các chương, các bài học văn và làm văn sau đây: Ca dao châm
biếm, hài hước; tục ngữ về đạo đức, lối sống của con người Việt nam; luyện núi
trình bày một vấn đề; văn thuyết minh, văn biểu cảm (Líp 10). Lão Gôriô (Banzac);
luyện núi phỏng vấn, lập luận bác bỏ; Truyện Kiều; tranh luận, phản bác về một vấn
đề xã hội (Líp 11). Văn nhật dông, bình luận về một hiện tượng trong đời sống;
phát biểu theo chủ đề; Vợ chồng A phủ, Chiếc thuyền ngoài xa (Líp 12) [7].
18
* Trong thời gian gần đây, những nội dung giáo dục sức khỏe sinh sản đã
được nhiều cấp, nhiều ngành, nhiều tổ chức xã hội quan tâm chỉ đạo và tổ chức triển
khai các hoạt động cụ thể. Sức khỏe sinh sản đã từng bước trở thành một nội dung
quan trọng của hầu hết các hoạt động dân số; các mục tiêu của sức khỏe sinh sản
còng là những mục tiêu cần đạt của KÕ hoạch hóa gia đình.
Tháng 5/1998, Ủy Ban Quốc gia Dân sè/KÕ hoạch hóa Gia đình đã thông

thời thông qua các hoạt động đã góp phần tích cực nâng cao hiệu quả của công tác
giáo dục sức khỏe sinh sản cho vị thành niên [93].
Như vậy, việc cải thiện tình hình SKSS VTN, thông qua giáo dục, tư vấn
cung cấp các dịch vô chăm sóc sức khỏe sinh sản VTN phù hợp với lứa tuổi là một
trong những mục tiêu quan trọng của Chiến lược Dân số Việt Nam và Chiến lược
Quốc gia về Chăm sóc SKSS giai đoạn 2001- 2010. Chính vì thế, nhiều chương
trình, dự án với các hoạt động, mô hình đã được triển khai áp dụng ở các địa
phương với sự tham gia của nhiều ngành, đoàn thể và các tổ chức liên quan đã tạo
nên sự phong phú, đa dạng trong công tác giáo dục SKSS VTN ở Việt Nam trong
thời gian gần đây.
1.1.4 Quan điểm của Đảng và Nhà nước về giáo dục SKSS vị thành niên
Nghị quyết Hội nghị lần thứ 4 Ban chấp hành Trung ương Đảng về chính
sách DS-KHHGĐ đã khẳng định công tác thông tin, giáo dục, truyền thông là một
trong những giải pháp quan trọng vận động nhân dân thực hiện công tác DS-
KHHGĐ, “làm cho mọi người, trước hết là líp trẻ, chuyển biến sâu sắc nhận thức,
hiểu rõ sự cần thiết và lợi Ých của KHHGĐ, chấp nhận gia đình Ýt con” [37].
Nghị quyết Hội nghị BCH Trung ương Đảng lần thứ 2 khóa VIII đã xác định
rõ “vai trò, vị trí chiến lược của con người, nguồn lực con người trong chiến lược
phát triển kinh tế-xã hội của đất nước. Đồng thời Đảng và Nhà nước cũng rất coi
trọng vai trò, vị trí của giáo dục và đào tạo, đặc biệt là công tác giáo dục, đào tạo
trong các trường phổ thông, nhằm xây dựng những líp người mới, đủ năng lực và trí
20
tuệ đáp ứng mọi yêu cầu, nhiệm vụ của công cuộc xây dựng và bảo vệ tổ quốc”
[12].
Luật Thanh niên (Điều 22) quy định “Gia đình có trách nhiệm tôn trọng quyền
của thanh niên trong hôn nhân và gia đình, giáo dục tình bạn, tình yêu và các kỹ năng
cần thiết để thanh niên tổ chức cuộc sống gia đình; Nhà nước có chính sách khuyến
khích các tổ chức, cá nhân tham gia phát triển các hoạt động tư vấn về tình yêu, hôn
nhân, gia đình, thực hiện KHHGĐ cho thanh niên; Đoàn TNCS Hồ Chí Minh, các tổ
chức khác của thanh niên, phối hợp với nhà trường, gia đình tuyên truyền, vận động

(2006-2010) tập trung vào giáo dục HIV/AIDS và giáo dục kỹ năng sống cho VTN [70].
Như vậy, từ trước đến nay, quan điểm của Đảng và Nhà nước về giáo dục
SKSS vị thành niên là nhất quán, thể hiện sự cam kết mạnh mẽ đối với Chương
trình Hành động của Hội nghị Quốc tế về Dân số và Phát triển, và là những định
hướng cụ thể để thực hiện các hoạt động giáo dục sức khỏe sinh sản cho vị thành
niên.
1.1.5 Kinh nghiệm quốc tế về giáo dục sức khỏe sinh sản vị thành niên
1.1.5.1 Vài nét về giáo dục sức khỏe sinh sản VTN trước Hội nghị Cai rô
Ở khu vực Châu Á-Thái Bình Dương, trong nhiều năm trước đây, nhu cầu
của vị thành niên bị quên lãng trong các chương trình Dân số và Sức khỏe Sinh sản.
Có nhiều lý giải cho sự lãng quên này. Những vấn đề liên quan đến tình dục của vị
thành niên và sức khỏe sinh sản vô cùng nhạy cảm. Việc thiếu đào tạo và nhận thức
của các nhà giáo dục, của các chuyên gia sức khỏe, và thiếu hiểu biết đối với nhu
cầu và ảnh hưởng của các chương trình sức khỏe sinh sản và sức khỏe tình dục của
vị thành niên trong quá khứ đã ảnh hưởng đến hiệu quả việc thực hiện các chương
trình giáo dục sức khỏe sinh sản và sức khỏe giới tính vị thành niên [120].
Các nghiên cứu với phụ huynh, giáo viên và nhân viên y tế chỉ ra rằng họ
không được chuẩn bị để thảo luận vấn đề tình dục với vị thành niên, thường thì vì
họ cảm thấy bất tiện hoặc quá sức, hoặc bởi họ không đồng ý việc thanh niên quan
tâm đối với vấn đề tình dục.
Trong quá khứ, nhu cầu giáo dục sức khỏe sinh sản của vị thành niên thường
được lồng ghép trong các chương trình dành riêng cho người lớn hoặc bị lãng quên
hoàn toàn trong các chương trình sức khỏe và giáo dục. Hơn nữa, hầu hết các
chương trình và dịch vụ sức khỏe sinh sản được tập trung cho các đôi lứa đã kết hôn
22
hoặc người lớn, lãng quên nhu cầu vị thành niên đã có sinh hoạt tình dục và chưa
sinh hoạt tình dục.
Ở Châu Á-Thái Bình Dương, giai đoạn trước năm 1970, giáo dục dân số
được coi là một bộ phận của kế hoạch hóa gia đình và chỉ khu trú ở giáo dục giới
tính. Điều đó đã không được dư luận xã hội ở nhiều quốc gia đồng tình, ủng hộ.

Hưởng ứng Chương trình Hành động của hội nghị này, các quốc gia ở khu
vực Châu Á-Thái Bình Dương đã có nhiều nỗ lực trong việc giới thiệu các chương
trình sức khỏe tình dục và sức khỏe sinh sản vị thành niên. Khởi đầu từ năm 1998,
đã có những tiến bé trong việc chú trọng những vấn đề về sức khỏe tình dục và sức
khỏe sinh sản vị thành niên một cách có hệ thống và hài hòa. Phổ biến nhất, sức
khỏe tình dục và sức khỏe sinh sản vị thành niên được coi như một chương trình bộ
phận của các chương trình sức khỏe sinh sản do UNFPA tài trợ, thường được điều
hành bởi Bé Giáo dục và Bộ Y tế. Ngoài ra, vị thành niên còn được phân loại thành
nhiều nhóm nhỏ khác nhau, và nhiều cơ quan, cả thuộc chính phủ và phi chính phủ,
được phân công nhiệm vụ phụ trách và tiếp cận các nhóm thanh niên.
1.1.5.3 Kết quả bước đầu của giáo dục SKSS VTN sau Hội nghị Cai rô
Kết quả bước đầu cho thấy các cơ quan khác nhau đã có những thể thức khác
nhau để tiếp cận giới trẻ trong và ngoài trường học. Đối với trong nhà trường, các
chương trình giáo dục, khởi đầu bằng các chương trình giáo dục đời sống gia đình
và giáo dục dân số, đã được giới thiệu trong nhiều cấp trường, từ tiểu học đến trung
học và đến đại học. Được tài trợ bởi UNFPA, hầu hết các chương trình này đều
hướng về nhân khẩu học, tập trung vào mối quan hệ qua lại giữa phát triển dân số
và các mặt khác nhau của chất lượng cuộc sống. Dần dần, các nội dung về sức khỏe
tình dục và sức khỏe sinh sản được lồng ghép vào chương trình giáo dục như các
nội dung về hành vi không an toàn, bạo lực tình dục, kế hoạch hóa gia đình, trách
nhiệm cha mẹ , các bệnh lây nhiễm đường sinh sản, HIV, AIDS, các mặt xã hội của
giáo dục giới tính, bình đẳng giới, và quan hệ nam- nữ. Quan sát cho thấy rằng các
quốc gia tiếp tục nhận hỗ trợ của UNFPA thường có khuynh hướng lồng ghép các
nội dung về sức khỏe tình dục và sức khỏe sinh sản vào chương trình giảng dạy;
trong khi các quốc gia không nhận hỗ trợ của UNFPA thì tiếp tục dạy theo mô hình
phát triển dân số và phát triển [125].
24
Phối hợp giáo dục trong và ngoài nhà trường. Bởi vì môi trường truyền
thống thường ngăn trở ngành giáo dục chính thống không chấp nhận các chiến lược
mới, các tổ chức phi chính phủ thường được kêu gọi để hỗ trợ Bé Giáo dục phát

được thông qua trung tâm thanh thiếu niên, được trang bị các phương tiện giải trí và
thư viện mi ni, sử dụng các phương tiện nghe nhìn và các trò chơi trong nhà, và các
hoạt động cộng đồng như hoạt động thể dục thể thao là những phương tiện hữu hiệu
để tiếp cận vị thành niên, thanh niên [127].
* Ở Ên độ, hàng loạt các buổi tư vấn được tổ chức bởi các thủ lĩnh thanh
niên để phòng ngõa hữu hiệu AIDS. Các vở kịch đường phố, trò chơi chủ đề AIDS
và việc tạo lập một mạng lưới các thanh niên thuộc các tổ chức phi chính phủ đã
được sử dụng để giới thiệu các phương pháp giáo dục thông qua bạn bè.
1.1.5.4 Những thách thức trong giáo dục sức khỏe sinh sản cho vị thành
niên
Mặc dầu có những tiến bộ trong việc phát triển các chương trình giáo dục
SKSS VTN, ngay từ khi mới bắt đầu, đã có những trở ngại, khiến cho việc giáo dục
sức khỏe sinh sản và sức khỏe giới tình dục khó thực hiện được ở các trường học. Đó là:
- Sù miễn cưỡng của các nhà hoạch định chính sách, phụ huynh và giáo viên
đối với các vấn đề về sức khỏe sinh sản và sức khỏe tình dục. Một số nhà quản lý của
ngành giáo dục theo phái truyền thống thường đưa ra các quyết định quá cứng nhắc
và né tránh những chính sách gây phản ứng từ phía phụ huynh, giáo viên và cộng
đồng. Phản ứng khó chịu và ngại ngần từ phía người lớn đối với sức khỏe sinh sản và
sức khỏe tình dục là một trở ngại lớn. Theo Dr. Nafis Sadik, Giám đốc Quỹ Dân số
Liên hiệp quốc, yếu tố chính để tiến hành các chương trình SKSS VNT hữu hiệu là
phải nâng cao nhận thức của những người có ảnh hưởng lớn đến VTN, thanh niên
[133].
- Các chương trình giáo dục đời sống gia đình hay dân số hiện hành thường
không có hoặc Ýt có liên quan đến những chọn lùa thật sự vì những áp lực chung
quanh sức khỏe sinh sản và sức khỏe tình dục ảnh hưởng đến giới thanh niên Việc
tập trung vào khía cạnh sinh học của cơ quan sinh sản người đã ngăn cản sức khỏe
sinh sản được xem xét trong bối cảnh văn hóa và xã hội mà các hành vi tình dục xảy
ra.Trong môi trường này, những đề tài nhạy cảm thường có khuynh hướng được
xem qua một cách vội vàng, nhanh chóng, và không có giám sát tiếp sau. Phương
pháp này đã tạo một cảm giác ảo về sự an toàn cho vị thành niên, khi cho rằng vị


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status