SKKN Một số giải pháp nâng cao hiệu quả công tác phụ đạo học sinh yếu, kém về môn Toán lớp 4 - Pdf 26


Sở giáo dục Và ĐàO TạO NGHệ AN
PHòNG GIáO DụC Và ĐàO TạO VINH
SáNG KIếN KINH NGHIệM
MộT Số GIảI PHáP NÂNG CAO HIệU QUả CÔNG TáC PHụ
ĐạO HọC SINH YếU, KéM Về MÔN TOáN LớP 4
Họ và tên: Nguyễn Thị Nguyệt
Chức vụ: Phó Hiệu trởng
Đơn vị: Trờng Tiểu học Nghi Liên
Năm học: 2011 - 2012
1
PHẦN I : ĐẶT VẤN ĐỀ
I. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Cũng như các môn học khác, môn Toán có một vai trò hết sức quan trọng trong
việc hình thành nhân cách con người lao động. Vì vậy, mỗi giáo viên cần phải có
trách nhiệm dạy học sao cho học sinh của mình tiếp thu được những kiến thức và kĩ
năng mà chương trình giáo dục tiểu học quy định. Tuy nhiên, không phải mọi học
sinh đều học tập dễ dàng như nhau, có thể có những học sinh nắm kiến thức toán học
rất nhanh chóng và sâu sắc mà không cần có sự cố gắng đặc biệt, trong khi đó một số
em khác lại không thể đạt được kết quả như vậy mặc dù đã cố gắng rất nhiều, đó
chính là các em học sinh yếu, kém về môn Toán.
Qua theo dõi chất lượng giáo dục của nhà trường trong những năm qua, tôi
thấy rằng chất lượng môn toán ở một số học sinh còn hạn chế. Một số học sinh vẫn
còn khó khăn trong việc tiếp thu kiến thức và kĩ năng cơ bản nên thực chất vẫn còn
tồn tại học sinh yếu, kém về môn toán có nguy cơ ngồi nhầm lớp. Số học sinh yếu,
kém đó chủ yếu là ở khối 4,5. Bởi vì lên lớp 4,5 kiến thức môn toán có thêm nhiều
phần mới và mức độ cao hơn. Học sinh cần phải có sự tư duy trừu tượng để học môn
toán. Ở trường chúng tôi, khối lớp 4 là khối lớp có số học sinh học yếu, kém môn toán
là nhiều nhất.
Là một phó hiệu trưởng phụ trách chuyên môn ở trường Tiểu học bản thân tôi
nhận thấy: Việc dạy học các em học sinh yếu, kém môn toán lên trình độ trung bình là

1. CƠ SỞ LÍ LUẬN:
CÁC KHÁI NIỆM LIÊN QUAN ĐẾN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1. Học sinh yếu, học sinh khó khăn trong học tập
- Học sinh yếu, học sinh khó khăn trong học tập là những học sinh phát triển
không bình thường về mặt năng lực nhận thức, học kém không theo kịp chương trình
và các bạn trung bình trong lớp biểu hiện ở các dấu hiệu cơ bản sau:
- Động cơ học tập lệch lạc, mờ nhạt hoặc bị thui chột.
- Tri thức các môn học phiến diện, hẫng hụt, tụt hậu so với bạn bè và so với yêu
cầu, kĩ năng thực hành yếu hoặc di chuyển sang lĩnh vực hoạt động theo những mục
đích, động cơ ngoài việc học tập. Kết quả học tập thất thường, yếu kém và không có
độ tin cậy cao.
- Thái độ tiêu cực trong học tập, chán ghét, không ham thích những hoạt động
học tập. Từ đó dẫn đến những hành vi tiêu cực, gian dối, đối phó hoặc có khi có
những biểu hiện ghen tức bạn bè học khá, thù ghét những thầy cô giáo nghiêm khắc
trong giáo dục, hay bỏ học, trốn tiết.
1.2. Giáo dục học sinh yếu kém
- Giáo dục học sinh yếu kém là quá trình tác động của những người làm công tác
giáo dục tới đối tượng học sinh có trình độ chưa đạt tiêu chuẩn giáo dục.
3
- Học sinh yếu kém là những em mà trong quá trình hình thành và phát triển
nhân cách đã có những biểu hiện không bình thường về thể chất, tinh thần, trí tuệ,
đạo đức cần được sự quan tâm giúp đỡ của nhà trường - gia đình - xã hội cũng như sự
nỗ lực của chính các em. Vì vậy, giáo dục học sinh yếu kém trước hết là quan tâm
chăm sóc, bồi dưỡng nhân cách cho người học; hướng dẫn các em có phương pháp
học tập đúng đắn; động viên, khuyến khích các em có hứng thú, niềm tin trong học
tập.
2. THỰC TRẠNG.
Để tìm hiểu thực trạng tôi đã đối chiếu kết quả dạy học môn Toán của mấy năm
gần đây, dự giờ thăm lớp, trao đổi với giáo viên, khảo sát chất lượng học sinh, tìm
hiểu học sinh yếu, kém môn Toán.

4
*) Kết quả khảo sát:
Tổng
số HS
Điểm 9-10 Điểm 7-8 Điểm 5- 6 Điểm dưới 5
SL TL SL TL SL TL SL TL
79 18 22.8% 21 26.6% 29 36.7% 11 13.9%
Với đề khảo sát chất lượng như trên, qua kết quả làm bài của học sinh thì 11 em
học sinh có điểm yếu các em còn vướng phải các lỗi sau: Còn chậm trong thực hành
tính toán, chưa thuộc bảng cửu chương; Cộng, trừ, nhân, chia có nhớ còn chậm, quên
không nhớ; Còn lẫn lộn, quên cách tìm thành phần chưa biết của phép tính; Kỹ năng
giải toán có lời văn còn yếu.
2.2 Nguyên nhân dẫn đến tình trạng học sinh yếu, kém môn Toán .
*) Về phía học sinh: Như chúng ta đã biết, sự yếu kém về môn Toán của học
sinh có biểu hiện dưới nhiều hình, nhiều vẻ khác nhau nhưng nhìn chung thường có
các đặc điểm sau đây:
- Có nhiều lỗ hổng về kiến thức, kĩ năng; Tiếp thu kiến thức, hình thành kĩ năng
chậm;
- Phương pháp học tập chưa tốt; Năng lực tư duy yếu; Có thái độ thờ ơ với học
tập, ngại cố gắng, thiếu tự tin.
- Học sinh chưa tự giác học, chưa có động cơ học tập.
- Khả năng phân tích tổng hợp, so sánh còn hạn chế, chưa mạnh dạn trong học
tập do hiểu chưa sâu, nắm kiến thức chưa chắc, thiếu tự tin.
- Học sinh lười suy nghĩ, còn trông chờ thầy cô giải giúp, trình độ tư duy, vốn
kiến thức cơ bản lớp dưới còn hạn chế.
- Khả năng chú ý và tập trung vào bài giảng của giáo viên không bền.
- Mỗi em có một khả năng nổi trội riêng nhưng các em chưa biết phát huy khả
năng của mình.
- Không biết làm tính, yếu các kỹ năng tính toán cơ bản, cần thiết (cộng, trừ,
nhân, chia).

sinh, ngăn ngừa và khắc phục tình trạng học sinh yếu, kém về môn Toán, tránh để tình
trạng học sinh ngồi nhầm lớp tôi đã suy nghĩ và trao đổi cùng đồng nghiệp đưa ra
“Một số giải pháp nâng cao hiệu quả công tác phụ đạo học sinh lớp yếu kém môn
Toán lớp 4” như sau:
II. MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ CÔNG TÁC PHỤ ĐẠO
HỌC SINH YẾU, KÉM VỀ MÔN TOÁN LỚP 4.
Giải pháp 1. Chỉ đạo giáo viên theo dõi thường xuyên, nắm bắt cụ thể tình
hình học sinh yếu.
Tôi đã chỉ đạo giáo viên theo dõi kết quả làm bài tập trên lớp và làm bài tập về
nhà hàng ngày, theo dõi kết quả kiểm tra định kỳ, sớm phát hiện ra các trường hợp
học sinh có khó khăn trong học tập và đi sâu tìm hiểu từng trường hợp cụ thể, phân
tích đúng nguyên nhân dẫn đến tình hình đó đối với các em.
- Ngay từ đầu năm học, tiến hành khảo sát chất lượng học sinh về môn Toán.
6
- Lập danh sách và phân loại học sinh yếu, kém về môn Toán, phân tích nguyên
nhân.
Tôi hướng dẫn giáo viên phân loại học sinh học yếu theo những nguyên nhân
chủ yếu như: Do hổng kiến thức, kỹ năng từ lớp dưới, do điều kiện hoàn cảnh gia
đình, do trí tuệ chậm phát triển
Thực hiện theo kế hoạch, tôi cùng với giáo viên dạy khối 4 đã khảo sát và phân
loại học sinh yếu môn toán theo các nhóm nguyên nhân chủ yếu như sau:
+ Nhóm khả năng tiếp thu bài chậm, chưa chăm học, hổng kiến thức lớp dưới
như chưa thuộc bảng nhân, bảng chia, chưa biết tìm thành phần chưa biết của phép
tính, giải toán có lời văn còn yếu: Nhóm này có 7 em.
+ Nhóm do hoàn cảnh gia đình và các nguyên nhân khác: Nhóm này có 4 em.
Trong nhóm này các em có khả năng tiếp thu bài tốt. Nhưng vì điều kiện gia đình khó
khăn không có người chăm lo, đôn đốc học tập nên các em chưa tích cực học tập,
không hoàn thành nhiệm vụ học tập, dẫn đến kết quả học tập sa sút và liên tục bị điểm
yếu.
Giải pháp 2. Chỉ đạo giáo viên lập kế hoạch, nội dung, chương trình phụ đạo

viên linh hoạt bằng nhiều bài toán khác nhau. Có thể là các dạng bài như: đặt tính rồi
tính; tính giá trị biểu thức; tìm x; toán có lời văn… Phải cho học sinh làm đi làm lại
nhiều lần một dạng bài tập để các em thành thạo. Việc củng cố kiến thức đã học thực
hiện đồng thời với việc dạy kiến thức mới của lớp 4. Căn cứ vào yêu cầu chuẩn kiến
thức kĩ năng của từng bài, giáo viên giúp học sinh yếu tiếp thu những kiến thức và
làm bài tập vừa sức với các em.
+ Cuối tuần kiểm tra 1 lần, cuối mỗi tháng, mỗi kỳ có bài kiểm tra theo dõi kết
quả học tập của các em. Lập sổ theo dõi quá trình phụ đạo, nâng bậc học sinh yếu
(suốt cả năm học).
+ Kết hợp chặt chẽ với gia đình và nhà trường. Có sổ liên lạc giữa giáo viên
chủ nhiệm và phụ huynh học sinh, thường xuyên đến thăm và động viên gia đình học
sinh.
+ Thời gian phụ đạo chủ yếu vào các buổi chiều trong tuần( thứ 3 và thứ 5),
lồng ghép vào chương trình chính khoá và với một số tiết hoạt động tập thể hay giờ
giải lao( trong đó tổ chức các trò chơi có nội dung toán học).
+ Kế hoạch bồi dưỡng phải có chỉ tiêu phấn đấu cụ thể là: cuối học kì I không
còn tình trạng học sinh bị hổng kiến thức đã học. Học kì II, các em học đến đâu phải
đạt yêu cầu đến đó (theo yêu cầu chuẩn kiến thức kĩ năng của chương trình toán lớp
4). Đến cuối năm học, không còn học sinh nào học yếu môn toán.
Giải pháp 3 : Hướng dẫn giáo viên thực hiện kế hoạch:
Phụ đạo học sinh học yếu nói chung và học sinh học yếu môn toán nói riêng là
việc làm khó, đòi hỏi người giáo viên phải có lòng nhiệt tình và kiên trì, yêu thương
học sinh. Vì vậy tôi hướng dẫn giáo viên khi thực hiện kế hoạch phụ đạo học sinh
yếu, giáo viên không được nóng vội, phải thực hiện kế hoạch theo từng bước hợp lí.
8
Đồng thời không cứng nhắc rập khuôn theo kế hoạch mà cần phải linh hoạt điều chỉnh
nội dung và cách thức thực hiện.
Căn cứ vào kết quả tìm hiểu nguyên nhân của học sinh học yếu môn toán ở
khối 4, tôi hướng dẫn giáo viên thực hiện kế hoạch phụ đạo với những nội chủ yếu
như sau:

9 = ? (suy từ 3
×
10=30 ra 3
×
9 = 30- 3 =27). Từ đó giúp các em học thuộc lòng.
Đồng thời củng cố vận dụng bảng nhân chia, bảng chia bằng cách giao cho các em
thực hiện những phép tính đơn giản không có nhớ như: 24
×
2; 123
×
3; 84 : 2;
124: 4
Đến tuần sau, vào các buổi chiều phụ đạo HS yếu, kém tôi hướng dẫn giáo viên
thay đổi hình thức kiểm tra, khác với các tuần trước.
Giáo viên ghi sẵn nội dung kiểm tra lên 2 tấm bìa và gắn lên bảng:
5
×
6 = 35 : 7= 4
×
5 = … 25 : 5 = ….
7
×
8 = 48 : 6 = … 3
×
9 = … 36 : 6 = …
9
4
×
9 = 64 : 8 = … 9
×

Tôi đã định hướng cho giáo viên củng cố cho học sinh cách giải các dạng toán
điển hình của lớp 3 kết hợp với củng cố kỹ năng tính toán với bốn phép tính cộng,
trừ, nhân, chia. Vì học sinh yếu có đặc điểm là rất ngại, thậm chí sợ làm toán có lời
văn vì khả năng tư duy “phân tích, tổng hợp của các em còn nhiều hạn chế” nên chưa
có khả năng phán đoán suy luận. Do đó, khi làm toán có lời văn các em giải chưa
đúng, tính toán còn sai. Có em giải “bừa” cho xong. Vì vậy tôi hướng dẫn giáo viên
khi củng cố kĩ năng giải toán có lời văn cho học sinh yếu thì chỉ cần ra với dạng cơ
bản nhất, đơn giản nhất mang tính chất vận dụng củng cố lý thuyết mà thôi. Không
nên ra những bài lắt léo hay những bài phải qua bước trung gian mới về dạng cơ bản.
Đến khi học sinh lấp được những chỗ hổng kiến thức đã học thì mới nâng dần mức độ
lên.
* Một số dạng toán điển hình lớp 3 cần phải ôn tập củng cố là:
10
- Dạng bài gấp một số lên nhiều lần.
Ví dụ: Thủy có 35 que tính. Hà có số que tính gấp 3 lần Thủy. Hỏi hai bạn có
bao nhiêu que tính?
- Dạng bài giảm một số đi nhiều lần.
Ví dụ: Thủy có 105 que tính. Thủy có số que tính gấp ba lần số que tính của
Hà. Hỏi cả hai bạn có bao nhiêu que tính?
- Dạng bài tìm một phần mấy của một số:
Ví dụ: Một đàn gia cầm của một nhà có 128 con vịt và gà. Trong đó số gà bằng
4
1
cả đàn. Hỏi đàn gia cầm đó có mấy con gà?
- Dạng bài có liên quan đến rút về đơn vị:
Ví dụ: Có 70 xếp giấy gói đều thành 7 bọc. Hỏi có 100 xếp giấy sẽ gói được
bao nhiêu bọc như thế?
- Dạng bài tính chu vi, diện tích hình vuông, hình chữ nhật;
Ví dụ:
+ Tính chu vi, diện tích thửa ruộng hình vuông có cạnh 24 m.

trao quà cho các em trong dịp Tết Nguyên Đán. Nhận được sự quan tâm, động viên
kịp thời của nhà trường cũng như cô giáo chủ nhiệm, gia đình các em đã hiểu và tạo
điều kiện cho các em đi học đầy đủ. Tôi còn hướng dẫn giáo viên chủ nhiệm, khi ở
trường, trong giờ học, giờ ra chơi, thường xuyên gần gũi, tâm sự với em, kể cho em
nghe một số tấm gương biết vượt khó trong học tập, giúp em khỏi mặc cảm với số
phận và cố gắng vươn lên trong học tập.
Giải pháp 4: Tổ chức cho giáo viên vận dụng linh hoạt các phương pháp và hình
thức tổ chức dạy học tích cực.
1. Linh hoạt sử dụng phương pháp dạy học khi tổ chức các hoạt động học tập.
Để thực hiện việc lấp "lỗ hổng" kiến thức cho học sinh yếu, kém toán có hiệu
quả và dạy kiến thức mới tôi đã tổ chức cho giáo viên tìm ra những phương pháp
giảng dạy thích hợp, tập trung các yêu cầu quan trọng nhất, đó là giúp các em làm
thành thạo 4 phép tính cộng, trừ, nhân, chia với mức độ yêu cầu vừa sức để các em
nâng dần trình độ; không nôn nóng sốt ruột, khắc phục tình trạng ngại khó của học
sinh.
Để giáo viên sử dụng các phương pháp dạy học tích cực một cách linh hoạt có
hiệu quả trong việc phụ dạo học sinh yếu kém, Nhà trường đã tổ chức từ đầu năm học
chuyên đề “Biện pháp khắc phục tình trạng học sinh yếu”. Qua đó nhằm phát huy trí
tuệ tập thể để giúp giáo viên tìm ra cách dạy đạt hiệu quả cao trong công tác phụ đạo
học sinh yếu. Trong các buổi sinh hoạt chuyên môn tiếp theo liên tục đề cập đến
chuyên đề này để bổ sung và điều chỉnh biện pháp thực hiện. Qua đó, tôi đã khái quát
giúp giáo viên một số điều cần lưu ý khi thực hiện phụ đạo học
sinh yếu như sau:
- Trong các tiết học giáo viên phải tạo cơ hội cho tất cả các em được hoạt động
cho dù là đối tượng học sinh giỏi hay học sinh yểu. Bằng mọi cách phải lôi cuốn các
12
em tham vào các hoạt động học tập, tránh tình trạng giáo viên để học sinh ngoài lề.
Trong một tiết học, đến phần bài tập giáo viên phân bài cho từng đối tượng học sinh:
Ví dụ: Bài tập 1,2 cho nhóm yếu làm; Bài tập 1,2,3 cho nhóm trung bình làm;
Bài tập 2,3,4 cho nhóm khá giỏi làm.

Để gây hứng thú cho các em học tập, trong dạy học toán giáo viên có thể thực
hiện như sau: Trong các tiết học vận dung các hình thức dạy tích cực như: Tổ chức
hoạt động nhóm (hoặc tổ chức làm bài theo hình thức tiếp sức) có thi đua giữa các
nhóm, tất cả các thành viên trong nhóm đều được giao phần việc làm vừa sức phù hợp
với năng lực từng em, các nhóm học tập linh hoạt thay đổi như nhóm nhỏ, nhóm lớn,
13
nhóm cùng trình độ, nhóm ngẫu nhiên Giáo viên phải tạo cơ hội cho tất cả các em
được phát biểu, đặc biệt quan tâm đến học sinh yếu. Động viên khuyến khích kịp thời
khi học sinh có tiến bộ dù là nhỏ nhất để học sinh yếu mạnh dạn, tự tin hơn. Thường
xuyên tổ chức "Hội vui học tập" vào các tiết hoạt động tập thể. Hoặc tổ chức trò chơi
có lồng nội dung Toán học: Hái hoa dân chủ, Tuổi thơ khám phá…
3. Tổ chức phong trào đôi bạn cùng tiến, xây dựng môi trường học tập thân
thiện .
Ở lớp cũng như ở nhà, giáo viên tổ chức cho học sinh khá, giỏi thường xuyên
giúp đỡ các bạn yếu, kém. Trên lớp, cần sắp xếp 1 học sinh giỏi giúp đỡ 1 bạn học
sinh yếu bên cạnh. Tổ chức thi đua giữa các nhóm giúp bạn, nếu bạn nào có tiến bộ
thì biểu dương cả nhóm vào tiết chào cờ sáng thứ 2 đầu tuần. Ở nhà, giáo viên sắp xếp
các em gần nhà nhau thành 1 nhóm và cử 1 học sinh làm nhóm trưởng. Nhóm trưởng
có nhiệm vụ nhắc nhở, kiểm tra việc học bài, làm bài của các bạn và báo cáo với cô
giáo chủ nhiệm vào đầu mỗi buổi học. Không những thế, tôi còn hướng dẫn giáo viên
yêu cầu các em Nhóm trưởng kiểm tra kỹ về cách học, cách trình bày bài làm, chữ
viết, của các bạn. Giáo viên kiên trì uốn nắn và sửa những thói quen xấu của các em
như: chưa đọc kĩ đề bài trước khi làm bài tập, tính toán cẩu thả, không làm nháp hoặc
viết lộn xộn, phát biểu không chính xác, trình bày bài tuỳ tiện, giải toán xong không
chịu thử lại…
Khuyến khích, động viên đúng lúc, kịp thời khi các em có tiến bộ hay đạt được
một số kết quả (dù sự tiến bộ nhỏ nhất); phân tích, phê bình đúng mức thái độ vô
trách nhiệm hoặc lơ là đối với nhiệm vụ học tập, nhưng tuyệt đối tránh thái độ lời nói
chạm lòng tự ái của học sinh để các em phấn khởi học tập xóa đi ấn tượng sợ học môn
Toán.

Với tầm quan trọng của việc sinh hoạt chuyên môn như vậy, ở trường chúng tôi
đã xây dựng nội dung sinh hoạt chuyên môn chủ yếu xoay quanh việc “Làm thế nào
để nâng cao hiệu quả giờ dạy, nâng cao chất lượng học tập của học sinh”.
Vì vậy, trong sinh hoạt chuyên môn của nhà trường, tôi chỉ đạo các tổ chuyên
môn không thiên về việc chỉ lên kế hoạch hoạt động chuyên môn mà chú trọng việc
đưa các vấn đề vướng mắc trong chuyên môn và thực tế dạy học để thảo luận cùng
nhau tháo gỡ những vướng mắc để thực hiện nhiệm vụ dạy học và giáo dục học sinh
đạt hiệu quả hơn.
Thực hiện công tác chuyên môn, tôi quyết tâm thực hiện chuyên đề “Khắc phục
tình trạng học sinh học yếu kém”. Đây là một nội dung chủ yếu và xuyên suốt quá
trình sinh hoạt chuyên môn của trường trong năm học 2011 - 2012. Bởi vì để thực
hiện tốt mục tiêu “Tiếp tục đổi mới và nâng cao chất lượng giáo dục ” thì việc “khắc
phục tình trạng học sinh học yếu” là đã thực hiện tốt việc nâng cao chất lượng giáo
dục một cách thực chất. Vì vậy việc “khắc phục tình trạng học sinh học yếu” là một
nhiệm vụ trọng tâm của nhà trường và của mỗi giáo viên.
Trong các buổi sinh hoạt chuyên môn, tôi đã dành nhiều thời gian cho nội dung
“Tìm biện pháp khắc phục tình trạng học sinh yếu”. Cụ thể:
Sau khi giao nhiệm vụ cụ thể cho từng giáo viên về việc phụ đạo học sinh yếu
kém, trong buổi sinh hoạt chuyên môn yêu cầu giáo viên báo cáo với tổ chuyên môn
và với nhà trường về tình hình học sinh học yếu môn toán và các môn học khác. Tổ
chức thảo luận chuyên đề “khắc phục tình trạng học sinh yếu”. Tổ chức cho tập thể
15
giáo viên phân tích nguyên nhân, bàn kế hoạch khắc phục học sinh yếu, xây dựng nội
dung phụ đạo học sinh yếu phù hợp với từng khối lớp. Giao nhiệm vụ cho tổ trưởng,
khối trưởng theo dõi việc phụ đạo học sinh yếu của tổ mình, khối mình. Cứ hai tuần
một lần, trong buổi sinh chuyên môn, giáo viên báo cáo tiến độ tiếp thu bài của những
học sinh yếu, từ đó thảo luận để tập thể giáo viên cùng nhau tháo gỡ những vướng
mắc trong thực tế phụ đạo học sinh yếu.
Để mở rộng sáng kiến, tôi đã trình bày vấn đề này trong buổi sinh hoạt chuyên
môn của nhà trường, Tôi đã tiếp nhận được nhiều ý kiến đóng góp thật bổ ích giúp tôi

17
PHẦN III: KẾT LUẬN
1. Bài học kinh nghiệm
Qua việc phụ đạo học sinh yếu, kém về môn Toán, tôi rút ra một số kinh
nghiệm sau:
Muốn khắc phục và giảm thiểu số học sinh yếu, kém để nâng cao chất lượng
giáo dục và chất lượng dạy - học ngày một đi lên và có những biện pháp dạy và học
đáp ứng được với sự phát triển của đất nước, thì đòi hỏi sự vào cuộc thật sự của các
nhà quản lí giáo dục, giáo viên, học sinh và tất cả các lực lượng xã hội có liên quan
đặc biệt là vai trò của người giáo viên. Đó là:
1. Người giáo viên phải thực sự yêu nghề mến trẻ, tận tâm, tận lực để giáo dục và phụ
đạo các em với tất cả tâm huyết của mình.
2. Giáo viên phải kịp thời phát hiện ra những học sinh yếu, kém thông qua các hoạt
động học tập cũng như việc làm bài tập hàng ngày của học sinh và làm các bài kiểm
tra định kì.
3 . Tìm ra nguyên nhân cùng với những biểu hiện của học sinh yếu kém về môn
Toán.
4. Lập kế hoạch và đề ra các biện pháp phụ đạo cụ thể, rõ ràng; khi lên lớp phải
nghiên cứu kĩ mục tiêu bài dạy để đề ra phương pháp và hình thức dạy học thích hợp,
giúp các em thích thú học tập và dễ tiếp thu bài.
5. Vận dung các phương pháp dạy học phù hợp với từng nhóm đối tượng học sinh.
Đặc biệt, nếu học sinh bị hổng kiến thức từ lớp dưới thì giáo viên phải dạy lại
nội dung đó vào các buổi học tăng cường hoặc trong ngay tiết học chính khoá để "lấp
lỗ hổng kiến thức" cho học sinh.
6. Tổ chức các giờ dạy một cách linh hoạt, biết vận dung các trò chơi học tập để kích
thích sự hứng thú của học sinh.
7. Trong giảng dạy, giáo viên phải nhẹ nhàng, kiên trì, chịu khó, biết động viên kịp
thời khi các em tiến bộ (dù là một tràng vỗ tay của cả lớp hay lời khen của cô) nhưng
cũng cần khéo léo nhắc nhở những học sinh có thái độ lơ là đối với nhiệm vụ học tập.
8. Thường xuyên liên lạc, trao đổi với phụ huynh học sinh về kết quả học tập của các

không tránh khỏi thiếu sót. Tôi rất mong nhận được những ý kiến trao đổi, đóng góp
bổ sung của đồng nghiệp.
Tôi xin trân trọng cảm ơn!
Vinh, ngày 15 tháng 4 năm 2012
19


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status