Nâng cao hiệu quả làm văn nghị luận của học sinh lớp 8
thông qua việc sử dụng một số phương pháp làm bài văn
nghị luận.
1. Thực trạng vấn đề:
Trong chương trình ngữ văn THCS,phân môn Tập Làm Văn
đóng vai trò quan trọngtrong việc cung cấp các tri thức cơ bản
về các kiểu văn bản,hình thành các kĩ năng nói (kể chuy ện tóm
tắt), hiểu khái quát về văn bản và bố cục chung của nó. Bản thân
hoạt động Tập Làm Văn là một hoạt động tích hợp, tích hợp tri
thức phần văn bản, phần Tiếng việt và việc tạo lập văn bản mới.
Chương trình Tập Làm Văn đặt trọng tâm ở thực hành: xây
dựng bài qua thực hành, thực hành nhận biết và thực hành làm
văn bản.Tuy sách giáo khoa đã đưa nhiều câu hỏi và
tình huống hoạt động, song giáo viên và học sinhvẫn phải tự
nghiên cứu kĩ để bổ sung, điều chỉnh và đưa thêm những câu hỏi
làm cho hoạt động dạy và học đạt y êu cầu đề ra.
Qua nhiều năm giảng dạy tôi nhận thấy phân môn TLV là quan
trọng và rất khó. Đa số học sinh khó làm được bài văn nghị luận
nói chung và bài nghị luận về tác phẩm truyện
nói riêng, bởi vì các em chưa thuần thục nắm kĩ phương pháp
làm bài, nghĩa là chưa hiểu vấn đề là gì?, luận cứ là gì? Cách
đặt vấn đề, cách giải quyết vấn đề và kết thúc vấn đề có
phương pháp. Và nguyên nhân tiếp nữalà các em khi làm bài
thường hay bỏ qua bước
phân tích tìm hiểu y êu cầu của đề, chưa biết cách tìm ý, bỏ qua
bước lập dàn ý chi tiết
trước khi viết bài. Chính vì thế để các em tự tin và có một
phương pháp làm bài tốt, người
giáo viên cần phải có một phương pháp cụ thể để hướng dẫn các
em nắm vững từng bước
của cách làm bài nghị luận về tác phẩm truyện, theo nội dung y
lẽ và dẫn chứng để làm rõ
một vấn đề thuộc về chân lí nhằm làm cho người đọc (người
nghe) hiểu, tin, đồng tình với
ý kiến của mình và hành động theo những điều mà mình đề
xuất.
* Các yếu tố tạo nên nội dung của một bài văn nghị luận
Luận đề: Là vấn đề cần nghị luận. Đó là ý kiến được nêu ra
trong đề bài, yêu cầu
người làm bài cần giải quyết.
Luận điểm: Nhiệm vụ của bài văn nghị luận là phát biểu ý kiến
dưới hình thức các
luận điểm. Luận điểm là ý kiến thể hiện tư tưởng, quan điểm của
bài văn được nêu ra dưới
hình thức khẳng định (hay phủ định), được diễn đạt sáng tỏ nhất
quán. Luận điểm là linh
hồn của bài viết.
Luận cứ: Luận cứ là những lí lẽ và dẫn chứng hình thành nên
luận điểm
* Các thao tác nghị luận
Trong bài văn nghị luận, để thuyết phục người đọc, người nghe,
đòi hỏi người viết
cần soi ciếu vấn đề từ nhiều gốc độ, nói cách khác là phải đặt
nhiều câu hỏi về vấn đề đang
bàn tới như: Là gì? nh ư thế nào? Tại sao? Cónhững khía cạnh
gì? Có ý ngh ĩa, có giá trị gì?
Được biểu hiện như thế nào trong cuộc sống và trong văn
chương? Với mỗi gốc độ soi
chiếu, người viết cần thực hiện thao tác nghị luận cụ thể như
giải thích, chứng minh, bình
luận. . .và những cách trình bày như diễn dịch, qui nạp,. . . .
gọi tắt là phần “NÊU”)
-Phần chỉ định công việc phải làm hay còn gọi là phần nêu
phương pháp nghị luận (ta
gọi tắt là phần “LÀM”)
Như vậy khi hướng dẫn học sinh tìm hiểu đề bài giáo viên cần
giúp học sinh nhận ra
hai phần đó. Tìm hiểu đề không phải là một việc làm hình thức,
chỉ nói về kiểu bài và nêu
vấn đề cần giải quyết bằng cách nhắc lại nguyên văn cách diễn
đạt của đề bài. Tìm hiểu đề
ngoài việc xác định kiểu bài, còn là tìm hiểu ý nghĩa các từ ngữ
các vế câu, các câu có mối
quan hệ giữa chúng, để hiểu và có thể diễn đạt vấn đề bằng ngôn
ngữ ngắn gọn, dễ hiểu
của chính mình; đồng thời còn phải xác định phạm vi của vấn
đề, phạm vicủa dẫn chứng. .
. có như vậy mới giúp các em làm bài tốt, tránh bị lạc đề.
* Cách tìm lí lẽ
Bài văn nghị luận có hai chất liệu quan trọng để xây dựng b ài lá
lý lẽ và dẫn chứng.
Lý lẽ là ý giải đáp những câu hỏi mả người ta đặt ra theo yêu
cầu của đề bàiđể giải quyết
vấn đề. Lý lẽ phải lập luận vững.
Ví dụ 1: (thực hiện ở lớp):
Cho đề bài: Học tập là việc học suốt đời
-Phần “Nêu”: Vấn đề học tập
-Phần “Làm”: Hiểu thế nào = Giải thích bằng lí lẽ
Muốn tìm được nhiều lí lẽ để giải thích toàn diện vấn đề trên
giáo viên cần hướng dẫn
học sinh trả lời 6 câu hỏi sau đây:
Phân tích nguyên nhân.
Đánh giá lợi ích, tác hại của sự việc, hiện tượng trong đời sống.
Bài học nhận thức, hành động.
Kết bài:Đánh giá chung về sự việc, hiện tượng trong đời sống
Dàn ý chung cho bài nghị luận về một vấn đề tư tưởng, đạo lí:
Mở bài:Giới thiệu vấn đề tư tưởng đạo lí.
Thân bài:
Giải thích vấn đề tư tưởng, đạo lí.
Nêu suy nghĩ về vấn đề tư tưởng đạo lí đó.
Liên hệ tư tưởng đạo lí trong cuộc sống.
NÀO –SAO –CẢM
2
MẶT –KHÔNG –GIAI –THỜI
3
Bài học nhận thức, hành động.
Kết bài: Đánh giá chung về tư tưởng, đạo lí
3.2.2 Cách đặt vấn đề (Cách mở bài):
Trong phần đặt vấn đề thường có 3 ý: gợi ý, đưa vấn đề ra rồi
báo trước thân bài.
Nhưng trng phần đặt vấn đề phần “gợi”và phần “đưa” là quan
trọng nhất. Để dễ thuộc dễ
nhớ tôi rút ra cho học sinh quy tắc đặt vấn đề:
GỢI: là gợi ý, dẫn dắt vấn đề để rồi đưa vấn đề. Gợi ý phải sát
hợp với ý đưa vấn đề.
Không thể gợi ý một đằng mà đưa vấn đề một nẻo. Có nhiều lối
khác nhau, tùy theo kiểu
đề bài ta chọn cho thích hợp.
ĐƯA:là đưa vấn đề ra. Vấn đề có nội dung chứa ở phần “nêu”
tư tưởng của đề bài.
Nội dung của đề bài có thể “nổi” (ý rõ ràng) hoặc “chìm” (ý
thành hành động một cách chân thành.
4. Hiệu quả đem lại:
Với tâm huyết giảng dạy thật tốt kiểu bài nghị luận và qua tích
lu ỹ một vài kinh
nghiệm hướng dẫn HS phân tích đề, tìm ý, lập dàn ý, viết đoạn
và liên kết đoạn, tôi đã giúp
học sinh của các lớp do chính tôi trực tiếp giảng dạy đạt được
kết quả tốt trong làm bài,
luôn đảm bảo chỉ tiêu chất lượng từ 85% từ trung bình trở lên.
Đa số bài làm của các em đều đáp ứng được yêu cầu của đề;
khai thác được ý hay, ý
sâu sắc; phân tích tinh tế, có cảm xúc, biết tìm tòi và sáng tạo
mang phong cách riêng,
không còn gượng ép, máy móc hay khuôn sáo.
ĐVĐ GỢI –ĐƯA –BÁO
KTVĐ TÓM –RÚT –PHẤN
1 2
.
b
x x
a
c
x x
5. Khả năng và áp dụng cho đến thời điểm hiện nay