skkn một số giải pháp nâng cao hiệu quả việc sử dụng đồ dùng, thiết bị môn vật lý ở trường THCS - Pdf 32

MỤC LỤC
STT

1

2

3

Nội dung

Trang

Phần I : Đặt vấn đề
1. Lý do chọn đề tài
2. Mục đích nghiên cứu
Phần II : Giải quyết vấn đề
Chương I: Cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu
1. Vai trò của việc sử dụng đồ dùng thiết bị dạy học (TBDH)
trong giảng dạy môn vật lý ở trường THCS
2. Chương trình và sách giáo khoa môn vật lý ở trường THCS
3. Cách kiểm tra đánh giá học sinh đối với bộ môn vật lý
Chương II: Cơ sở thực tế của vấn đề nghiên cứu.
1. Thực trạng về trang thiết bị dạy học bộ môn vật lý ở trường
THCS
1.1. Thuận lợi.
1.2. Khó khăn.
2. Thực trạng về việc sử dụng TBDH của giáo viên vật lý trong
các trường THCS thuộc địa bàn Hoa Lư.
2.1. Việc sử dụng TBDH.
2.2. Những nguyên nhân

8
8
9
9
9
12
16
18
19


A.Tên sáng kiến:
“Một số giải pháp nâng cao hiệu quả việc sử dụng đồ dùng, thiết bị môn Vật
lý ở trường THCS”.
B. Tác giả sáng kiến:
Họ và tên: Hoàng Thị Hoa
Chức vụ: Hiệu trưởng
Đơn vị công tác: Trường THCS Ninh An
C. Nội dung sáng kiến
PHẦN I : ĐẶT VẤN ĐỀ
1. Lí do chọn đề tài.
Như chúng ta đã biết Bộ môn Vật lý là môn khoa học thực nghiệm với
phương pháp nghiên cứu là đi từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng.
Mọi kết luận của nó đều rút ra được nhờ thực tiễn và kiểm chứng bằng quan sát
và thí nghiệm. Chính vì vậy trong các giờ dạy vật lý cần phải có thiết bị dạy học
để khơi dạy và phát triển năng lực tư duy khả năng tự học, hình thành cho các
em biết rõ phương pháp học và nghiên cứu bộ môn.
Các nghiên cứu giáo dục cũng đã khẳng định hiệu quả giáo dục tốt khi
học sinh thể hiện tính tích cực của mình trong quá trình học tập. Muốn phát huy
tính tích cực chủ động của học sinh thì một trong những yếu tố quan trọng của

cho lí thuyết bài dạy, rèn luyện kĩ năng thao tác thí nghiệm thực hành cho học
sinh. Đến nay là một cán bộ quản lí, trong điều kiện đổi mới giáo dục, điều trăn
trở ấy của tôi càng tăng thêm và tôi luôn đi tìm câu trả lời cho câu hỏi: “ Làm
thế nào để giáo viên vật lý sử dụng thật hiệu quả tiết bị dạy học”. Qua quá trình
giảng dạy và quản lí, và đã từng là người trực tiếp chỉ đạo chuyên môn của nhà
trường tôi đã rút ra một số kinh nghiệm chỉ đạo việc sử dụng thiết bị dạy học
môn Vật lí để đạt hiệu quả cao nên tôi đã chọn vấn đề này làm đề tài nghiên cứu.
2. Mục đích nghiên cứu.
Nhằm nâng cao hiệu quả việc sử dụng TBDH trong giảng dạy môn vật lý
ở trường THCS góp phần đổi mới phương pháp dạy học, phát huy tính tích cực
chủ động của học sinh, giúp học sinh rèn luyện kỹ năng, kỹ xảo, đặc biệt là kỹ
năng, kỹ xảo thực hành, củng cố niềm tin khoa học nhằm hình thành thế giới
quan duy vật biện chứng.

PHẦN II: GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
Chương I: Cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu
1. Vai trò của việc sử dụng đồ dùng thiết bị dạy học (TBDH) trong
giảng dạy bộ môn vật lý ở trường THCS
Vai trò của thiết bị dạy học đã được đề cập đến trong rất nhiều tài liệu:
như giáo dục học, lý luận dạy học, phương pháp giảng dạy vật lý.

3


Việc dạy học cho học sinh là việc hình thành những năng lực hoạt động
cho học sinh. Để hình thành năng lực ngoài vốn kiến thức còn phải xây dựng
tình cảm, thái độ tác phong và thói quen làm việc khoa học.
Đối với bộ môn vật lý là môn khoa học thực nghiệm. Sự hiểu biết thế giới
vật lý không thể đạt được đơn thuần bằng suy diễn lôgíc. Chỉ có những quan sát
và thực nghiệm mới cho phép ta kiểm tra được sự đúng đắn của một nhận định.



có vai trò rất lớn trong việc tích cực hóa hoạt động nhận thức của học sinh,
không những chỉ ở góc độ của kiến thức, rèn luyện kỹ năng thao tác, tác động
đến giác quan, mà còn giúp học sinh củng cố vận dụng kiến thức một cách vững
chắc.
Thí nghiệm là một bộ phận của phương pháp nhận thức. Thí nghiệm xuất
hiện vấn đề nhu cầu; kiểm tra tính đúng đắn của giả thuyết, thu thập các thông
tin về đối tượng gốc làm cơ sở cho việc xây dựng mô hình, qua đó kiểm tra tính
đúng đắn của mô hình được xây dựng và chỉ ra giới hạn áp dụng của nó.
Nói tóm lại việc sử dụng thiết bị dạy học trong giảng dạy môn vật lý tại
trường THCS là một việc làm không thể thiếu được trong quá trình dạy học.
Muốn nâng cao hiệu quả giờ lên lớp, giáo viên phải khai thác triệt để và sử dụng
có hiệu quả các thiết bị dạy học.
2. Chương trình và sách giáo khoa môn Vật lý ở trường THCS
Nhận thức được vị trí quan trọng của thí nghiệm bao gồm thí nghiệm biểu
diễn lẫn thí nghiệm thực hành, chương trình Vật lý quy định cụ thể.
Khối lớp

Tổng số tiết Số bài có thí nghiệm

Số tiết thực hành

6

37

26

2

tiến hành thí nghiệm để rút ra nhận xét kết luận.
3.Cách kiểm tra đánh giá
Các khâu kiểm tra đánh giá phải gồm cả lý thuyết và thực hành có nội
dung liên quan đến các bài thực hành trong chương trình. Các nội dung có liên
quan đến các bài thực hành trong chương trình.
Chính từ những căn cứ trên một lần nữa chúng ta khẳng định việc sử dụng
TBDH khi giảng dạy môn Vật lý là vô cùng cần thiết và có ảnh hưởng rất lớn
đến việc thu nhận kiến thức của học sinh.
5


Chương II: Cơ sở thực tế của vấn đề nghiên cứu
1.Thực trạng về trang thiết bị dạy học bộ môn Vật lý ở trường THCS
1.1 Thuận lợi
Số lượng và chất lượng của TBDH ở các trường THCS ngày càng tăng. Ở
nhiều trường được trang bộ các TBDH hiện đại như máy vi tính, máy chiếu đa
năng, cát sét, đầu quay...băng đĩa hình...Các nhà trường đã trang bị, nâng cấp
phòng máy, phòng học bộ môn, nối mạng internet, trang bị máy chụp hình, máy
quay phim, mua thêm các trang thiết bị dạy học để thay thế cho các thiết bị đã bị
hỏng hoặc không sử dụng được. Xây dựng danh mục thiết bị, tạo cơ sở hạ tầng
về CNTT, thiết bị dạy học giúp cho giáo viên sử dụng có hiệu quả vào dạy-học.
Có nhiều giáo viên tâm huyết với nghề, có tinh thần trách nhiệm trong
công việc. Luôn đầu tư trăn trở, học hỏi kinh nghiệm để sử dụng TBDH đạt hiệu
quả cao, góp phần nâng cao chất lượng dạy học; nhiều học sinh đã cố gắng vươn
lên trong học tập say sưa với các thí nghịêm trong các tiết học.
Hàng năm ngoài các thiết bị mua sắm, được cung cấp các nhà trường và
giáo viên học sinh tự làm và trang bị bổ xung thiết bị dạy học .
Qua điều tra 11 trường THCS trên địa bàn huỵện Hoa Lư, kết quả thu
được về các trang thiết bị phục vụ cho bộ môn Vật Lý như sau:
TT


Bộ thí nghiệm nhiệt học

11/11

100%

5

Bộ thí nghiệm quang học

11/11

100%

6

Bộ thí nghiệm cơ học

11/11

100%

7

Băng hình

11/11

100%

1.2 Khó khăn
Bên cạnh những thuận lợi cũng còn nhiều khó khăn như sau: ĐDDH vẫn
còn thiếu hụt theo yêu cầu ở một số bài, một số nội dung hoặc số chương, bên
cạnh đó chất lượng của một số đồ dùng dạy học cũng chưa được đảm bảo tốt về
tuổi thọ, độ bền, độ chính xác. Ví dụ:
- Các lực kế có độ chính xác chưa cao, khi đo cùng một vật có thể cho
các giá trị khác nhau. Các ống nghiệm, bình, cốc thuỷ tinh dễ bị vỡ khi tiếp xúc
với nhiệt; Cân Rôberval không chính xác; (vật lý lớp 6 và lớp 8)
- Khi nghiên cứu về môi trường truyền âm trong chất lỏng, trong chất khí
thì bộ thí nghiệm đặt nguồn âm vào trong chất lỏng (hình 13.3 SGK) sử dụng
chưa tốt, chưa có bộ thí nghiệm đặt nguồn âm ở điều kiện chân không (hình 13.4
SGK). Khi nghiên cứu phần nhiệt học thì thí nghiệm sự phóng điện ở các vật sau
khi bị cọ sát khó thành công (hình 17.2 SGK). (vật lí lớp 7)
- Mặt khác thiết bị dạy học thường bị hư hỏng như: các mạch điện thường
bị hở do chất lượng ĐDDH kém. Các dụng cụ đo điện như vôn kế, ampe kế
thường bị hư hỏng ở các chốt (+) và chốt (-).chốt cắm điện không sát, không dẫn
điện; hộp nguồn pin lỏng, không có điện; bút thử điện không bền...”.
- Bộ thí nghiệm kiểm nghiệm mối quan hệ Q ~ I 2 trong định luật Jun Lenxơ cho kết quả có độ chính xác chưa cao. Bu- li ở động cơ điện - máy phát
điện thường bị vỡ bị gãy, chổ tiếp xúc của cổ góp máy phát điện chưa tốt . Các
máy biến thế chưa có độ chính xác khi làm thí nghiệm mối quan hệ tỷ lệ giữa
vòng dây quấn và hiệu điện thế ở mỗi cuộn dây. Các thiết bị trộn màu trong
phần trong phần quang học cho kết quả chưa rõ nét khi làm thí nghiệm do tác
động bởi ánh sáng xung quanh. Các ốc vít ở thiết bị thường bị hư hỏng
2. Thực trạng về việc sử dụng TBDH của giáo viên vật lý trong các
trường THCS thuộc địa bàn Hoa Lư
2.1 Việc sử dụng TBDH
Bên cạnh nhiều giáo viên tâm huyết với nghề, nhiều trường có nhân viên
phụ trách thiết bị được đào tạo bài bản, các trường đều trang bị tương đối đầy đủ
các TBDH môn vật lý thì việc sử dụng TBDH của các trường THCS trong cả
nước nói chung và trên đại bàn huyện Hoa Lư nói riêng vẫn còn nhiều vấn đề

xuyên dùng TBDH xuyên dùng TBDH

1

Bộ TN cơ học

67%

33%

2

Bộ TN nhiệt học

54 %

46%

3

Bộ TN tĩnh điện

42,5%

57,5%

4

Bộ TN điện


Các loại tranh

65%

35%

8


2.2 Những nguyên nhân
Trang thiết bị không đồng bộ.
Chất lượng của TBDH còn kém, có TBDH mà không sử dụng được hoặc
chỉ sử dụng 1 vài lần là hỏng.
Thời gian bố trí một tíêt thực hành chưa hợp lý.
Các trường còn thiếu rất nhiều giáo viên được đào tạo môn Vật lý, do giáo
viên dạy kiêm nhiệm nên trình độ thực hành còn yếu, dẫn đến ngại làm thí
nghiệm.
Giờ lên lớp của giáo viên Vật lý trong một tuần nhiều nên thời gian chuẩn
bị TBDH ít, do đó chuẩn bị chưa chu đáo.
Các trường thiếu giáo viên phụ trách thiết bị. Chế độ thi cử còn nặng nề lý
thuyết, chưa quan tâm đúng mức đến thực hành.
Hiện nay một số trường THCS thuộc địa bàn huyện Hoa Lư nói chung
chưa có phòng học bộ môn, có cán bộ phụ trách thí nghiệm nhưng chưa giúp
cho giáo viên chuẩn bị tốt và thực hiện tốt các bài thí nghiệm thực hành do đó
việc sử dụng thiết bị của giáo viên còn gặp nhiều khó khăn.
Phong trào tự làm, tự sưu tầm, TBDH chưa cao.
Trình độ chuyên môn trong quản lý sử dụng còn thấp.
Trình độ ngoại ngữ của cán bộ giáo viên còn hạn chế.
Chương III
Một số giải pháp và hiệu quả đạt được

giáo viên còn hạn chế. Giáo viên dạy vật lý một số không sử dụng đồ dùng dạy
học, vì đồ dùng cồng kềnh nên còn ngại không mang lên lớp.
Giáo viên chưa thực hiện đủ các giờ học thực hành không được cắt xén
các giờ thực hành biến thành bộ môn ôn tập hoặc chữa bài tập.
Giáo viên không phân loại các thí nghiệm và hướng dẫn, thực hiện theo
đặc điểm của từng loại thí nghiệm.
Giáo viên khi sinh hoạt tổ nhóm chuyên môn mới chỉ tập chung vào nội
dung sinh hoạt phương pháp giảng dạy chung chưa quan tâm nhiều về nội dung
sử dụng thiết bị bộ môn, việc tiến hành các thí nghiệm trên lớp.
Giáo viên chưa cải tiến cách kiểm tra đánh giá kiến thức của học sinh, nội
dung kiểm tra chưa có bài tập thực nghiệm yêu cầu học sinh chỉ ra được các
dụng cụ cần dùng, phương án tiến hành đưa ra được những đại lượng xác định
thông qua thực nghiệm
1.3. Đối với công tác quản lý
Chưa thường xuyên kiểm tra ý thức sử dụng TBDH trong giờ lên lớp của
giáo viên. Chưa yều cầu nhân viên phụ trách thiết bị báo cáo theo từng tuần,
10


từng tháng theo dõi việc đăng ký mượn và sử dụng TBDH và có báo cáo theo
từng tuần, từng tháng.
Chưa tổ chức được nhiều Hội thi tự làm đồ dùng dạy học.
Chưa phát huy việc sử dụng sáng tạo những vật dụng gần gũi với học sinh
để làm đồ dùng thí nghiệm.
Chưa đưa ra những quy chế phù hợp để kích thích những giáo viên tích
cực sử dụng thiết bị dạy học đồng thời xử lý những giáo viên thường xuyên
không sử dụng đồ dùng thiết bị dạy học trên lớp.
Đã đầu tư kinh phí mua đồ dùng thiết bị dạy học nhưng chưa nhiều
1.4. Các biện pháp hạn chế hư hỏng và sửa chữa một số thiết bị dạy
học đơn giản

chuyên môn để thường xuyên đề xuất những giải pháp sử dụng và bảo quản
ĐDDH cho tổ. Phối hợp với cán bộ thiết bị để soạn, bố trí thiết bị và thao tác thử
ĐDDH trước khi lên lớp để phát hiện những hư hỏng hoặc cho kết quả chưa
chính xác để kịp thời khắc phục. Hướng dẫn và dặn dò học sinh có nghiên cứu
trước các phương án tiến hành thí nghiệm và các ở nhà trong bài học mới sau
mỗi tiết dạy.
Tăng cường hoạt động nhóm cho học sinh trong mỗi tiết dạy, để học sinh
tự tay làm thí nghiệm và rút ra kết quả khách quan, sử dụng tốt các bảng phụ khi
lên lớp để giảm bớt nội dung ghi chép không cần thiết trên bảng. Giáo viên dạy
bộ môn phải thực hiện đầy đủ các thí nghiệm trong một giờ dạy, tổ chức cho học
sinh tiến hành các thí nghiệm không nguy hiểm từ khâu chọn dụng cụ, phương
án bố trí và tiến hành thí nghiệm, theo dõi quan sát ghi lại kết quả của thí
nghiệm.
Thực hành đủ 100% các giờ học thực hành không được cắt xén các giờ
thực hành biến thành bộ môn ôn tập hoặc chữa bài tập.
Giáo viên cần nắm vững, phân loại thí nghiệm và lưu ý phương pháp sử
dụng ĐDDH dạy đối với từng loại.
* Với thí nghiệm do giáo viên làm.
Thí nghiệm phải liên hệ hữu cơ với bài giảng, đề xuất và giải quyết mâu
thuẫn đã nảy sinh hoặc minh hoạ, nhấn mạnh một vấn đề nào đó trong bài dạy,
tránh làm thí nghiệm xuất hiện không đúng lúc, tuỳ tiện hoặc khái quát kết quả
không tự nhiên. Thí nghiệm biểu diễn phải thành công ngay, do thời gian quy
định, đặc biệt là để học sinh tin tưởng vào kết quả thí nghiệm, tăng thêm uy tín
của giáo viên, để đảm bảo yêu cầu nay giáo viên phải chuẩn bị thí nghiệm một
cách chu đáo, phải làm thử nhiều lần trước khi lên lớp.
Ví dụ: Thí nghiệm về chuyển động đều trong bài 3: “ Chuyển động đềuchuyển động không đều” nếu giáo viên không chuẩn bị kỹ và làm thư nhiều lần
trước khi lên lớp thì chắc chắn sẽ mất rất nhiều thời gian trong giờ dạy và khó
đạt được kết quả như mong muốn.
12


khí khi nhúng vào nước ấm. hoặc dùng bóng bay là một vật rất gần gũi với các
em để tìm hiểu về sự nở vì nhiệt của chất khí. Học sinh sẽ thấy hứng thú hơn và
gần gũi hơn với môn học, đồng thời các em sẽ thấy tin tưởng hơn, dễ nhớ hơn
các kết luận rút ra.

13


* Thí nghiệm thực hành
Là thí nghiệm sau khi học sinh học xong một bài hay một phần nào đó
trong một chương trình có, giúp học sinh ôn tập , đào sâu khái quát hoá những
vấn đề cơ bản của chương trình, rèn luyện kỹ năng sử dụng dụng cụ thí nghiệm.
Để tiến hành có hiệu quả thí nghiệm thực hành cho học sinh ôn tập trước phần lý
thuyết có liên quan đến nội dung bài thí nghiệm, hướng dẫn trước những yêu
cầu cần thiết ở bài thực hành.
Giáo viên phải thường xuyên sinh hoạt tổ nhóm chuyên môn. nội dung
sinh hoạt phong phú tập trung thảo luận phương pháp giảng dạy bộ môn việc
tiến hành các thí nghiệm trên lớp. Giáo viên chính ban tổ chức các buổi thảo
luận, hướng dẫn cho giáo viên kiêm nhiệm tiến hành những thí nghiệm khó.
Giáo viên cần cải tiến cách kiểm tra đánh giá kiến thức của học sinh, nội
dung kiểm tra cần có bài tập thực nghiệm không yêu cầu học sinh tiến hành thí
nghiệm mà học sinh chỉ ra được các dụng cụ cần dùng, phương án tiến hành đưa
ra được những đại lượng xác định thông qua thực nghiệm.
Ví dụ: Hãy nêu phương án thí nghiệm để xác định khối lượng riêng của
một cái bát sứ, nếu cho các dụng cụ: một bình hình trụ đựng nước, một cái
thước mili mét và một cái bát sứ.
Để giải được bài tập này học sinh phải kết hợp giữa kiến thức lý thuyết và
kiến thức thí nghiệm thực hành, rèn cho học sinh phải có thói quen học lý thuyết
kết hợp với năng lực thực hành.
Nhóm giải pháp thứ 3: Đối với công tác quản lý

TBDH để có thể sử dụng lâu bền hơn.
Hàng năm duy trì và tổ chức hội thi tự làm đồ dùng dạy học nhằm khích
lệ phong trào. Kích thích giáo viên tích cực tham gia phong trào làm ĐDDH của
trường và các đợt dự thi làm ĐDDH của ngành: nghiên cứu trong bài dạy phần
nào, chương nào ĐDDH còn thiếu mà khả năng có thể thực hiện được để lên kế
hoạch, dự trù kinh phí làm và tham gia dự thi. Có ý kiến đề xuất với tổ chuyên
môn, ban chuyên môn của trường phần nào, bài nào trong chương trình ĐDDH
còn thiếu, hoặc hư hỏng để có kế hoạch khắc phục, sửa chữa hoặc thay mới.
Nâng cao năng lực sử dụng phương tiện day học trong đội ngũ cán bộ
giáo viên của nhà trường. Muốn vậy các nhà quản lý cần thực hiện các giải pháp
sau:
- Cử cán bộ giáo viên đi tham quan học tập để nâng cao nghiệp vụ sử dụng
TBDH.
- Tổ chức bồi dưỡng ngoại ngữ, tin học cho giáo viên.
- Xây dựng cơ chế phối hợp trong việc sử dụng phương tiện dạy học.
- Trong điều kiện thực tế của từng nhà trường cần có sự phối hợp đồng bộ
và quy định trách nhiệm rõ ràng đối với từng bộ phận khi sử dụng phương tiện
15


dạy học, có cơ chế thưởng phạt bồi thường thoả đáng nếu hư hỏng do thiếu trách
nhiệm của người sử dụng.
Tăng cường khai thác cơ sở vật chất ở ngoài nhà trường để phục vụ vào
giảng dạy. Có thể cho học sinh tham quan một số công trình khoa học, các nhà
máy, xí nghiệp có liên quan đến kiến thức vật lý ở địa phương để giúp học sinh
gắn liền với lý luận thực tiễn, giáo dục cho các em lòng yêu quê hương đất
nước.
Nhóm giải pháp thứ 4: Các biện pháp hạn chế hư hỏng và sửa chữa
một số thiết bị dạy học đơn giản
Ban giám hiệu phải có kế hoạch tu sửa một số đồ dùng đơn giản dễ sửa

Thường xuyên tham gia báo cáo chuyên đề sử dụng ĐDDH ở tổ.
100% Giáo viên trong trường đã tham gia học tốt và có chứng chỉ A và
50% giáo viên có chứng chỉ B tin học, hầu hết phát huy được tác dụng trong
việc nghiên cứu giảng dạy. Việc soạn giảng và sử dựng trình chiếu Powerpoint
được 100% giáo viên thực hiện thành thạo.
Đề tài kinh nghiệm giúp các giáo viên phát huy tốt phương pháp dạy học
theo hướng tích cực.
Mặc dù còn gặp rất nhiều khó khăn, nhưng nhiều giáo viên đã đầu tư mua
máy tính xách tay để phục vụ cho giảng dạy. Điều đó thể hiện sự yêu nghề, tâm
huyết với nghề, khát khao học hỏi để nâng cao hiệu quả cách dạy của giáo viên
và cách học của học sinh.
Qua điều tra viêc sử dụng TBDH ở các trường trong huyện Hoa Lư sau
khi áp dụng đề tài tôi thấy việc sử dụng TBDH cũng thường xuyên hơn, tỷ lệ
dùng TBDH cao hơn so với trước. Cụ thể thu được kết quả như sau:
TT

Loại thiết bị dạy học

Tỷ lệ % GV thường
xuyên dùng TBDH

Tỷ lệ % GV TBDH sử
dụng không thường xuyên

1

Bộ TN cơ học

73%


59,7%

41,3%

6

Bộ TN cơ học

75,8%

24,2%

7

Các mô hình và hình

90%

10%

8

Các loại tranh

92 %

8%

1.2. Đối với học sinh
Học sinh tiếp thu tốt kiến thức vật lý, thái độ chăm chỉ và hứng thú bộ

≥8

Điểm
≥5

Điểm
≥8

Điểm
≥5

Điểm
≥8

Điểm
≥5

Điểm
≥8

2011-2012

92%

52%

91%

65%


93,5

68%

2014-2015

96.5%

96,5%

72%

56%

96%

78%

94%

68%

* Kết quả mũi nhọn học sinh giỏi môn vật lý:
STT

Năm học

Số học sinh
đạt giải cấp
huyện


2

3

2013-2014

2

2

1

2

4

2014-2015

3

1

2

1

Đội tuyển Vật Lý 8, 9 của trường THCS Ninh An nhiều năm gần đây
luôn có giải cấp huyện, cấp tỉnh và được xếp thứ hạng cao trong toàn huyện.
Riêng năm học 2014-2015 có 02 giải ba cấp tỉnh.

Sau khi áp dụng đề tài giáo viên tích cực sử dụng TBDH hơn làm học
sinh phát triển toàn diện, rèn tính cần cù, cẩn thận, kiên trì, trung thực, kỹ năng,
kỹ xảo, tính khoa học, hiện đại. Nhận thức thế giới một cách khoa học, giúp học
sinh hiểu sâu sắc hơn về bản chất sự vật và hiện tượng tự nhiên, chinh phục tự
nhiên, chinh phục thế giới.
Đề tài góp phần để bộ môn Vật lý được thực sự giảng dạy như môn khoa
học thực nghiệm trước hết các thiết bị giáo dục phải được sử dụng có hiệu quả
cao nhất, đáp ứng yêu cầu về nội dung và phương pháp được quy định trong
chương trình.
2. Khuyến nghị
Để sử dụng tốt TBDH bộ môn Vật lý tôi xin có một số khuyến nghị sau:
20


Chính quyền địa phương cùng với ngành giáo dục sớm mở lớp đào tạo
giáo viên phụ trách thiết bị.
Cần phải có sự kết hợp chặt chẽ giữa người làm chương trình người viết
sách với những người nghiên cứu thiết kế TBDH.
Chú trọng đến chất lượng của TBDH đảm bảo tính khoa học sư phạm,
tính kỹ thuật, mỹ thuật.
Cán bộ quản lý các trường THCS nên quan tâm, chỉ đạo tốt việc sử dụng
TBDH ở trường.
Cần xây dựng hệ thống các văn bản , qui chế qui định về công tác quản lý
và sử dụng thiết bị riêng cho từng trường.
Tăng cường công tác đào tạo bồi dưỡng kỹ năng sử dụng thiết bị , bồi
dưỡng ngoại ngữ và tin học cho giáo viên.

XÁC NHẬN CỦA NHÀ TRƯỜNG

Ninh An, ngày 10 tháng 5 năm 2015


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status