BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG SƯ PHẠM KỸ THUẬT TP. HCM
∗∗
TIỂU LUẬN AN TOÀN LAO ĐỘNG VÀ
MÔI TRƯỜNG CÔNG NGHIỆP
Đề tài: XỬ LÝ Ô NHIỄM KHÔNG KHÍ BẰNG PHƯƠNG PHÁP
THIÊU ĐỐT
GIÁO VIÊN: NGUYỄN VĂN TÚ
SINH VIÊN: NGUYỄN THÁI DƯƠNG
LỚP: 109040A
KHÓA: 010
NĂM HỌC: 2010-2011
Hồ Chí Minh 3-2011
2
PHẦN 1. LỜI MỞ ĐẦU
Môi trường sống – cái nôi của nhân loại đang ngày càng ô nhiễm trầm trọng do con
người. Cùng với sự phát triển của xã hội, môi trường đang từng bước bị hủy diệt là
mối quan tâm không chỉ riêng của một quốc gia nào. Bảo vệ môi trường là nghĩa vụ
của cộng đồng toàn cầu và của Việt Nam nói riêng. Chỉ thị số 36/CT-TW ngày
25/06/1998 của Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Việt Nam đã thể hiện đường lối chỉ đạo
đúng đắn đối với công tác bảo vệ và gìn giữ môi trường sống của nước ta.
Hiện trạng môi trường không khí ở nước ta, đặc biệt là trong các khu công nghiệp
và đô thị lớn như thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội, Hải Phòng, Đồng Nai … đang là
mối lo ngại cho các cơ quan quản lý nhà nước về mặt môi trường cũng như toàn thể
dân cư trong khu vực. Phần lớn các nhà máy xí nghiệp chưa có hệ thống xử lý ô
nhiễm không khí hoặc có nhưng hoạt động không có hiệu quả và mang tính chất đối
phó. Bên cạnh đó, với đặc điểm của một nền công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp
Không khí ẩm thường có thêm
Hơi nước Dao động mạnh; thông thường khoảng 1%
Tính chất quan trọng của khí quyển là: Tính giảm nhiệt trong tầng đối lưu, tính đảo
nhiệt, địa hình ảnh hưởng được đến không khí, khí quyển có quá trình tích tụ, xảy ra
phản ứng quang hóa và hóa học trong khí quyển.
II/ Ô nhiễm không khí.
4
1/ Định nghĩa.
Ô nhiễm không khí là sự thay đổi lớn trong thành phần của không khí hoặc có sự
xuất hiện các khí lạ làm cho không khí không sạch, có sự tỏa mùi, làm giảm tầm
nhìn xa, gây biến đổi khí hậu, gây bệnh cho con người và sinh vật.
Hiện nay, ô nhiễm khí quyển là vấn đề thời sự nóng bỏng của cả thế giới chứ không
phải riêng của một quốc gia nào. Môi trường khí quyển đang có nhiều biến đổi rõ rệt
và có ảnh hưởng xấu đến con người và các sinh vật. Hàng năm con người khai thác
và sử dụng hàng tỉ tấn than đá, dầu mỏ, khí đốt. Đồng thời cũng thải vào môi trường
một khối lượng lớn các chất thải khác nhau như: chất thải sinh hoạt, chất thải từ các
nhà máy và xí nghiệp làm cho hàm lượng các loại khí độc hại tăng lên nhanh chóng.
2/ Quá trình gây ô nhiễm không khí.
Đầu tiên là do trung tâm sản xuất gây ô nhiễm không thể kiểm soát dẫn tới quá
trình phát tán, lan truyền trong khí quyển. Và sau đó nguồn tiếp nhận chất ô nhiễm
không khí là thực vật, động vật và con người.
3/ Nguyên nhân.
Có rất nhiều nguồn gây ô nhiễm không khí. Có thể chia ra thành nguồn tự nhiên và
nguồn nhân tạo.
- Tự nhiên: Do các hiện tượng tự nhiên gây ra: núi lửa, cháy rừng. Tổng hợp các
yếu tố gây ô nhiễm có nguồn gốc tự nhiên rất lớn nhưng phân bố tương đối đồng đều
trên toàn thế giới, không tập trung trong một vùng. Trong quá trình phát triển, con
người đã thích nghi với các nguồn này.
- Nhân tạo:
I/ Phân loại ô nhiễm theo địa hình.
1/ Ô nhiễm không khí ở vùng đồi núi và trung du.
Nguyên nhân chính gây ô nhiễm không khí thường do nạn cháy rừng.
Tác hại: làm mất cân bằng sinh thái và sự phục lại rừng hồi rất lâu song không
nguy hiểm trực tiếp đến tính mạng con người.
Sẽ không đáng lo ngại nếu chúng ta hạn chế thu hẹp diện tích vùng địa hình này,
đảm bảo nguồn nước, bảo vệ rừng và sự cứu hộ kịp thời khi cháy rừng xảy ra.
7
2/ Ô nhiễm không khí ở vùng đòng bằng.
Vô hình và không mùi vị, những phần tử ô nhiễm không khí cực nhỏ lan tỏa trong
không khí, bay qua các đại lục và làm chết khoảng 380.000 người mỗi năm…
Khí thải từ động cơ diesel, sulfur từ các nhà máy nhiệt điện đốt than, và bụi sa mạc
cùng quện vào nhau tạo thành một hỗn hợp phân tử bụi âm ỉ lan tỏa trong không
trung hàng tuần.
Những thành phần độc hại nhất là những thành phần nhỏ nhất, có đường kính dưới
2,5 micromet. Khi chúng ta hít thở, các phân tử này có thể gây kích ứng phổi hoặc
truyền trực tiếp xuống dòng máu và phá hủy các huyết mạch.
Tuy nhiên cần đặt ra câu hỏi nghi vấn đối với tầm quan trọng của việc tập trung
vào vấn đề ô nhiễm liên lục địa.
Đa phần ô nhiễm có tác động tại chỗ. Nghiên cứu này cũng cho thấy trong tất cả
các trường hợp, chỉ có dưới 20 phần trăm tổng lượng ô nhiễm của một vùng là do
các nguồn ô nhiễm từ nơi khác đến.
Hơn nữa, khó khăn của việc nghiên cứu các phần tử nhỏ bé trên phạm vi toàn cầu
có thể khiến nhóm nghiên cứu đã phải coi các nguồn bụi tự nhiên cũng độc hại như
khói thải từ các nhà máy điện đốt than. Đây là “vùng tối” của khoa học, khi các nhà
nghiên cứu vẫn chưa chắc chắn loại phân tử nào là độc hại nhất.
3/ Ô nhiễm không khí ở vùng ven biển.
Tàu thuỷ là tác nhân gây ô nhiễm không khí vùng ven biển.
Bằng việc sử dụng loại nhiên liệu ít pha lưu
huỳnh, tàu thuỷ sẽ góp phần làm giảm bớt ô
nhiều, nguồn khí thải ô nhiễm càng lớn, do đó các vấn đề ô nhiễm không khí trầm
trọng thường xảy ra ở các đô thị, đặc biệt là thường xảy ra ở các đô thị lớn.
Ở nước ta trong thời gian khoảng ¼ thế kỷ qua, cùng với quá trình công nghiệp
hoá, hiện đại hoá đất nước là quá trình đô thị hoá tương đối nhanh.
Bảng 1 : Diễn biến đô thị hoá ở nước ta trong ¼ thế kỷ qua và dự báo đến 2020
Năm 1986 1990 1995 2000 2003 2006
2009
Dự báo
2010 2020
Số lượng đô
thị (từ loại V
trở lên)
480 500 550 649 656 729 752 - -
Dân số đô thị
(triệu người)
11,87 13,77 14,938 19,47 20,87 22,83 25,38 28,5 40,0
Tỷ lệ dân ĐT
trên tổng dân
số toàn quốc
(%)
19,3 20,0 20,75 24,7 25,8 27,2 29,6 32,0 45,0
Bảng 2: Bùng nổ giao thông cơ giới (ước tính).
Năm 1980 2000 Hiện nay
Xe
đạp
Ô tô,
xe
máy
Malaysia: 69,3%, của Phillipine: 64,2%, của Indonesia: 50,4% và của Thailand:
32,9%).
Đô thị càng phát triển thì số lượng phương tiện GTVT lưu hành trong đô thị càng
tăng nhanh (Biểu đồ 1). Đây là áp lực rất lớn đối với môi trường không khí đô thị.
Biểu đồ 1. Số lượng ô tô và xe máy hoạt động hàng năm của Việt Nam
Số lượng phương tiện cơ giới này tập trung chủ yếu rất lớn tại các đô thị lớn, đặc
biệt là ở Tp. Hồ Chí Minh và Hà Nội (Biểu đồ 2).
Một đặc trưng của các đô thị Việt Nam là phương tiện giao thông cơ giới 2 bánh
chiếm tỷ trọng lớn. Ở các đô thị lớn, trong những năm qua, tỷ lệ sở hữu xe ôtô tăng
nhanh, tuy nhiên lượng xe máy vẫn chiếm tỷ lệ rất lớn.
Tp. Hồ Chí Minh có tới 98% hộ dân thành phố có sở hữu xe máy.
10
Biểu đồ 2. Số lượng xe máy trên 1.000 dân ở các thành phố lớn của Việt Nam 2006
Hình 1. Tình trạng giao thông tại
Ngã sáu Dân Chủ, Tp. Hồ Chí Minh
Hình 2. Tình trạng giao thông tại đường
Láng Hạ, Hà Nội
Công nghiệp hóa và đô thị hóa càng mạnh thì nhu cầu tiêu thụ năng lượng càng
lớn, nguồn ô nhiễm không khí càng tăng.
Nhu cầu tiêu thụ xăng dầu trong nước ngày càng tăng và dự báo trong 25 năm tới
còn tiếp tục tăng cao (Biểu đồ 3). Nếu các tiêu chuẩn về chất lượng xăng dầu không
được thắt chặt thì chúng ta sẽ phải đối mặt với vấn đề ô nhiễm không khí đô thị rất
nghiêm trọng.
Tiêu thụ xăng dầu là một trong những nguyên nhân phát thải các chất độc hại như
CO, hơi xăng dầu (HmCn, VOC), SO2, chì, BTX. Phát thải những chất này liên
quan chặt chẽ đến chất lượng xăng dầu. Trong cơ cấu tiêu thụ xăng dầu của quốc gia
thì GTVT chiếm tỷ trọng lớn nhất, là nguồn phát thải khí ô nhiễm lớn nhất trong đô
thị.
11
Biểu đồ 3. Nhu cầu xăng dầu của Việt Nam những năm qua và dự báo cho đến 2025
chưa được xác định. Đặc biệt, bụi càng nhỏ càng độc hại bởi dễ chui sâu vào phổi
như bụi mịn (PM 2,5 - bụi khí dưới 2,5 micron).
Hiện tại, ở VN chưa áp dụng chỉ tiêu đối với bụi mịn. Mỹ đặt giới hạn 35
microgram/m3, trong khi Tổ chức Y tế thế giới (WHO) còn đặt tiêu chuẩn thấp hơn
là 25 microgram/m3. Theo khảo sát của AIT, lượng bụi mịn trong không khí tại Hà
Nội và TP.HCM cao hơn các tiêu chuẩn này nhiều lần, cao nhất lên đến hơn 100
microgram/m3, còn trung bình cũng trên 50 microgram/m3.
Ô nhiễm ở Hà Nội và TP.HCM tuy chưa đến mức như Manila, Bangkok hay nhiều
đô thị khác ở Trung Quốc, tuy nhiên cũng đã nghiêm trọng và đáng quan tâm. Còn
lượng bụi đã ở mức nguy hiểm.
Khảo sát bằng các trạm quan trắc không khí tại ven các đường giao thông tại Hà
Nội cho thấy có tới 40% lượng chất gây ô nhiễm trong không khí xuất phát từ giao
thông. Còn lại 20% từ đốt rác thải, rơm rạ, 20% là chất thứ phát (hình thành trong
không khí), còn lại từ các hoạt động công nghiệp, đun nấu thức ăn và các nguồn ô
nhiễm đến từ khu vực khác (do gió đưa đến).
Tình hình tại TP.HCM cũng tương tự. Ngoài ra, hai nhà máy nhiệt điện ở Thủ Đức
và Nhà B¢ cũng là nguồn thải khí SO2 vào không khí rất lớn.
Tình trạng ùn tắc giao thông tại Hà Nội và TP.HCM càng khiến mức độ ô nhiễm
không khí trở nên nghiêm trọng hơn. Khi nhiều xe đứng một chỗ và nổ máy sẽ thải
ra lượng chất ô nhiễm cực kỳ lớn, ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe người đi
đường.
II/ Hiện trạng công nghệ xử lý ô nhiễm không khí tại khu vực.
Trong một thời gian dài hầu hết các nhà máy được xây dựng trước năm 1990 (kể cả
các nhà máy được xây dựng trước năm 1975) đã hoạt động với những đặc điểm
chung như sau:
- Phần lớn các nhà máy đều cũ, thời gian hoạt động tương đối dài (20 năm).
- Thiết bị lạc hậu, thuộc các thế hệ từ những năm 70 trở về trước.
- Nguyên liệu, nhiên liệu không tốt, nhiều chất thải, tiêu hao lớn.
- Công nghệ lạc hậu không đồng bộ.
- Hầu hết các xí nghiệp đều nằm trong khu dân cư mật độ cao.
với khí SO2 và NO2.
- Đối với ngành công nghiệp liệu kim: công ty thép miền nam là một trong số các
đơn vị có sự quan tâm đúng mức đối với các vấn đề xử lý khí thải. Sau thử nghiệm
ban đầu đối với việc xử lý khói thải từ lò luyện thép hồ quang của nhà máy thép tân
bình bằng kỹ thuật và thiết bị trong nước (sử dụng thiết bị lọc ướt), công ty đã phối
hợp với các công ty thuỵ sỹ và ấn độ thiết kế thi công hệ thống xửlý khói thải lò hồ
quang cho các nhà máy thép biên hoà và thủ đức theo nguuyên lý thu bụi bằng túi
lọc vải có kết hợp khử co. Với vốn đầu tư khoảng 10 tỷ đồng cho 2 nhà máy, các hệ
thống nói trên đã hoạt động có hiệu quả, giảm đáng kể tải lượng các chất ô nhiễm
không khí. Hiện nay công ty đang tiếp tục triển khai kỹ thuật trên cho các nhà máy
còn lại của công ty.
- Đối với công nghiệp mạ kim loại: đây là một ngành công nghiệp đang có xu
hướng phát triển nhanh tại khu vực với các chất ô nhiễm không khí điển hình là hơi
axit (hcl), khí nh3, bụi. Một số nhà máy lớn trong khu vực như posvina (tp. Hcm),
công ty tôn phương nam (khu côgn nghiệp biên hoà 1- đồng nai) đã phối hợp với
14
cefinea xây dựng các hệ thống xử lý với thiết bị hấp thụ 2 bậc, dung môi là nước đạt
hiệu quả cao. Một số công ty đang có kế hoạch xây dựng như công ty mạ kẽm vingal
(khu công nghiệp biên hoà 2).
- Công nghiệp xi măng và vật liệu xây dựng: đây là ngành công nghiệp với chất ô
nhiễm chủ yếu là bụi vô cơ kích thước nhỏ. Ngoại trừ nhà máy xi măng hà tiên được
xây dựng từ lâu nên hệ thống xử lý bụi hoạt động không có hiệu quả, gây ô nhiễm
không khí nghiêm trọng, các nhà máy xi măng mới xây dựng đều được trang bị hệ
thống lọc bụi hiện đại, hiệu suất cao (hệ thống lọc bụi tĩnh điện) như nhà máy xi
măng sao mai. Phần lớn các nhà máy gạch men, sứ vệ sinh mới xây dựng đều sử
dụng thiết bị lọc bụi vải có bộ rũ bụi bằng khí nén để thu hồi bụi. Hiệu suất thu hồi
cao (90%). Nhiều nhà máy xi măng chưa có hệ thống xử lý đạt yêu cầu (xi măng
bình điền, xi măng quân khu 7).
- Công nghiệp chế biến gỗ: hầu hết các nhà máy chế biến gỗ trong khu vực đều có
hệ thống thu hồi bụi nhưng khá đơn giản (xyclon đơn), chỉ có khả năng thu hồi bụi
phụ điều này cũng phù hợp với trình độ công nghệ và quy mô của nhà máy
trong giai đoạn hiện nay.
- Hiệu suất các thiết bị xử lý chưa cao do phụ thuộc vào nhiều yếu tốt như chi
phí đầu tư, chi phí vận hành, trình độ thiết kế chế tạo, vận hành. Trong đó các
yếu tố vốn và vận hành là quan trọng nhất.
- Một số công ty, nhà máy, chủ đầu tư đã có những đầu tư thích đáng cho hệ
thống xử lý ô nhiễm không khí.
- Khả năng, trình độ của các cán bộ khoa học ngành môi trwongf và công nhân
việt nam hoàn toàn có khả năng thiết kế, chế tạo, vận hành có hiệu quả phần
lớn các thiết bị xử lý ô nhiễm không khí nếu có sự đầu tư đúng mức.
Mảng 4: Tác hại của ô nhiễm không khí.
I/ Ảnh hưởng đến sức khỏe.
Ô nhiễm không khí, ô nhiễm môi trường được mệnh danh là kẻ giết người thầm
lặng. Ô nhiễm không khí không những gây nên các bệnh lý ở đường hô hấp, mà còn
ảnh hưởng lên sự phát triển của thai nhi, là nguyên nhân làm chậm phát triển hệ thần
kinh, trí não ở trẻ.
Tại hai bệnh viện nhi ở TP.HCM, số lượng trẻ đến khám, điều trị về các bệnh có
liên quan đến ô nhiễm không khí ngày càng gia tăng trong thời gian gần đây, đặc
biệt là các bệnh lý ở đường hô hấp. Theo bác sĩ Hà Mạnh Tuấn - Phó giám đốc BV
Nhi đồng 1 (TP.HCM): "Các bệnh đường hô hấp thường gặp ở trẻ vào viện đó là:
viêm phổi, viêm tai giữa, suyễn Ô nhiễm không khí trong nhà và ngoài môi trường
tại Việt Nam là rất cao, điều này được lý giải bằng việc bệnh lý có liên quan đến ô
nhiễm không khí ngày càng gia tăng, đặc biệt là ở trẻ em. Ô nhiễm không khí ảnh
hưởng đến hô hấp, sự phát triển của thai nhi, làm chậm phát triển thần kinh, trí não,
tâm thần vận động ở trẻ em".
Một số bệnh có mối liên quan chặt với ô nhiễm không khí đến khám, chữa trị tại
Bệnh viện Nhi đồng 1 (TP.HCM) ngày càng gia tăng như: suyễn (từ 3.074 trường
hợp vào năm 1996 tăng lên 11.491 trường hợp vào năm 2005); nhiễm khuẩn hô hấp
dưới (từ 2.727 trường hợp vào năm 1996 tăng lên 3.772 trường hợp vào năm 2005);
viêm tai giữa (từ 441 trường hợp năm 1996 vào lên 1.999 trường hợp vào năm
chính lên hệ hô hấp của trẻ em, đặc biệt trong giai đoạn tăng trưởng và phát triển của
phổi. Khói thuốc là nguyên nhân làm trẻ bị nhiễm khuẩn ở đường hô hấp dưới; làm
khởi phát và làm nặng cơn suyễn; làm giảm chức năng của phổi và còn làm tăng
nguy cơ viêm tai giữa. Ngoài ra, người mẹ trong lúc mang thai sống nhiều trong môi
trường có khói thuốc lá sẽ dẫn đến tác hại lên thai nhi như: sanh non, nhẹ cân, chậm
phát triển về tâm thần, dị tật, ít hơn là dẫn đến một số bệnh ung thư ở trẻ". Nghiên
cứu cho thấy, 5% trẻ em trong nước bị ảnh hưởng sức khỏe bởi tiếp xúc (thụ động)
với khói thuốc lá. Đó là chưa nói đến ô nhiễm trong nhà do các chất đốt từ đun nấu,
các chất xịt, tẩy rửa là những nguyên nhân gây nhiễm khuẩn đường hô hấp cho trẻ
em.
Ô nhiễm không khí gây tác hại lên sức khỏe, nhất là sức khỏe trẻ em. Đặc biệt, trẻ
dưới 5 tuổi là đối tượng bị ảnh hưởng nặng nề nhất, bởi cơ thể trẻ đang trong giai
đoạn tăng trưởng và phát triển, đồng thời ở lứa tuổi này trẻ hoàn toàn bị thụ động
trước các ảnh hưởng có hại của môi trường do người lớn gây ra. Vì vậy, mỗi người
cần góp phần làm giảm ô nhiễm không khí để bảo vệ sức khỏe, nhất là cho con em
chúng ta.
II/ Ảnh hưởng đến đời sống và hoạt động sản xuất.
17
Ô nhiễm môi trường khí quyển tạo nên sự ngột ngạt và "sương mù". Nó còn tạo ra
các cơn mưa axít làm huỷ diệt các khu rừng và các cánh đồng.
Điều đáng lo ngại nhất là con người thải vào không khí các loại khí độc như: CO2,
đã gây hiệu ứng nhà kính. Theo nghiên cứu thì chất khí quan trọng gây hiệu ứng nhà
kính là CO2, nó đóng góp 50% vào việc gây hiệu ứng nhà kính, CH4 là 13%,, nitơ
5%, CFC là 22%, hơi nước ở tầng bình lưu là 3%
Nếu như chúng ta không ngăn chặn được hiện tượng hiệu ứng nhà kính thì trong
vòng 30 năm tới mặt nước biển sẽ dâng lên từ 1,5 – 3,5 m (Stepplan Keckes). Có
nhiều khả năng lượng CO2 sẽ tăng gấp đôi vào nửa đầu thế kỷ sau. Điều này sẽ thúc
đẩy quá trình nóng lên của Trái Đất diễn ra nhanh chóng. Nhiệt độ trung bình của
Trái Đất sẽ tăng khoảng 3,60 °C (G.I.Plass), và mỗi thập kỷ sẽ tăng 0,30 °C.
Theo các tài liệu khí hậu quốc tế, trong vòng hơn 130 năm qua nhiệt độ Trái Đất
• Các nhà máy không gây ô nhiễm như các nhà máy may mặc, sản xuất dụgn cụ học
sinh, dụng cụ y tế, đồ dùng gia đình, các nhà máy giày dép
- Khoảng cách bố trí: Khoảng cách bố trí giữa các cụm nhà máy hoặc giữa các
nhà máy là yếu tố quan trọng vì nó là yếu tố bảo đảm cho sự thông thoáng
giữa các công trình. Mặt khác khoảng cách hợp lý sẽ loại trừ hay hạn chế lan
truyền ô nhiễm giữa các nhà máy hoặc các cụm nhà máy, tạo điều kiện tách
ly, chống lây lan hoả hoạn tuy nhiên, trong khu công nghiệp vì nhiều lý do
khác nhau biện pháp này khó có thể tuân thủ triệt để.
- Vị trí bố trí: Vị trí nhà máy có ảnh hưởng rất lớn tới tình trạng ô nhiễm không
khí khu vực xung quanh. Khi bố trí các nhà máy thì phải chú ý các yêu cầu
sau:
• Khu công nghiệp phải được bố trí ở cuối hướng gió chủ đạo so với khu hành chánh
- dịch vụ - thương mại.
• Trong khu vực có nhiều nhà máy thì các nhà máy gây ô nhiễm nặng phải bố trí ở
sau hướng gió so với các nhà máy ít ô nhiễm hoặc ô nhiễm nhẹ.
• Các nhà thấp tầng bố trí đầu hướng gió, nhà cao tầng ở cuối hướng gió.
• Trong cùng nhà máy cũng phải quan tâm bố trí các bộ phận cho hợp lý như bố trí
riêng biệt các khi sản xuất, khu phụ trợ, khu kho bãi, khu hành chính và có dải cây
xanh ngăn cách các khu hành chính với các khu khác. Các hệ thống ống thải khí của
nhà máy cần tập trung vào một khu vực tạo thuận lợi cho việc giám sát xử lý.
• Khu vực bố trí trạm máy điện dự phòng, khu xử lý nước thải tập trung, sử lý rác
thải là những nơi phát sinh khí độc hại, gây mùi, cầ được đặt ở cuối hướng gió chủ
đạo, có khoảng cách ly thích hợp.
- Vùng cách ly vệ sinh khu vực: vùng cách ly vệ sinh công nghiệp là vùng đệm
giữa các nhà máy, khu côgn nghiệp với khu dân cư. Kích thước của vùng cách
ly công nghiệp được xác định theo khoảng cách bảo vệ về vệ sinh và các tiêu
chuẩn nhà nước cho phép. Phần lớn các nhà máy, các khu công nghiệp tập
trung ở khu vực hiện nay có khoảng cách ly vệ sinh là rất nhỏ.
2/ Biện pháp quản lý.
Các dự án nhà máy, khu công nghiệp tập trung trước lkhi triển khai thực hiện phải
cây có thể hấp thụ các kim loại nặng như chì, cadmium ngoài ra một số các
loại cây xanh rất nhạy với ô nhiễm không khí cho nên có thể dùg cây xanh để
làm vật chỉ thị nhằm phát hiện chất ô nhiễm không khí. Vì vậy cần trồng
nhiều cây xanh trong khuôn viên và xung quanh chu vi các nhà máy, dọc các
đường giao thông, trong khu đệm giữa các khu công nghiệp, thương mại và
dân cư. Tỷ lệ diện tích cây xanh trên diện tích khu công nghiệp phải đạt từ 15
- 20%.
- Biện pháp sử dụng thiết bị xử lý ô nhiễm không khí: trong nhiều trường hợp
các biện pháp nói trên chưa đủ để làm giảm ô nhiễm không khí trong môi
trường, hoặc không kinh tế thì biện pháp kỹ thuật và thiết bị để xử lý các chất
ô nhiễm không khí trước khi thải ra. đối với biện pháp này chúng tôi có một
số kiến nghị cụ thể như sau:
+ Bắt buộc tất cả các nhà máy, xí nghiệp có khí thải ra môi trường vượt tiêu chuẩn
cho phép đều phải lắp đặt các hệ thống xử lý. điều này vừa nhằm mục đích bảo vệ
môi trường, vừa tạo nên sự công bằng cho các nhà máy xí nghiệp, khi lưu ý rằng chi
phí đầu tư và chi phí vận hành hệ thống xử lý khí thải có thể làm tăng đáng kể giá
thành sản phẩm.
20
+ Trừ một số ít nhà máy hiện đại, vốn đầu tư lớn có thể ứng dụng các công nghệ xử
lý tiên tiến nhất, các nhà máy còn lại có thể áp dụng các công nghệ xử lý thuộc loại
khá và trung bình nhằm thoả mãn được các yêu cầu: Chi phí đầu tư và vận hành
thấp, vận hành đơn giản, đạt hiệu quả xử lý theo yêu cầu.
+ Đối với các cơ sở sản xuất công nghiệp nhỏ, cần có sự đầu tư thích đáng để tìm
kiếm các công nghệ xử lý khí thải đơn giản, rẻ tiền, hiệu quả phù hợp với khả năng
đồng vốn của họ.
+ Đối với các nhà máy ra đời trước khi có luật môi trường, nhà nước nên có chính
sách khuyến khích cụ thể (như miễn, giảm thuế, thu ngân sách Trong một thời
gian) để các nhà máy có tiền đầu tư cho hệ thống xử lý ô nhiễm môi trường nói
chung và hệ thống xử lý ô nhiễm không khí nói riêng.
II/ Các phương pháp xử lý khí.
khí thải ít ảnh hưởng đến thiết bị đốt.
Nhược điểm là tốn nhiều năng lượng và thành phần khí thải sau đốt có CO2 cao, là
chất gây ô nhiễm không khí và hiệu ứng nhà kính.
4/ Phương pháp phân tán khí
Bản chất là phát tán khí thải vào khí quyển. Trong một số trường hợp không
thể xử lý do chi phí cao, người ta phải dùng phương pháp phát tán khí để giảm nồng
độ chất ô nhiễm trong khu vực thải khí và dòng khí.
Thông thường người ta dùng ống khói để phát tán khí thải, ống khói thường cao
300 – 500 m. Khi đó nó sẽ làm giảm nồng độ chất ô nhiễm trong môi trường xung
quanh nơi phát sinh xuống đạt tiêu chuẩn cho phép nhưng lại làm tăng nồng độ
khí thải nơi khác. Tuy nhiên phát tán khí thải không phải là phương pháp hợp lý để
xử lý khí thải vì hậu quả của phương pháp này gây ra một số hiện tượng như khói
quang hoá, mưa acid …
5/ Phương pháp xúc tác
Bản chất của quá trình xúc tác để làm sạch khí thải là thực hiện các tương tác hóa
học nhằm chuyển các chất độc hại thành các sản phẩm không độc hoặc ít độc hơn
của các chất trên bề mặt chất xúc tác rắn.
Các chất xúc tác không làm thay đổi mức năng lượng của các phân tử chất tương
tác và không làm dịch chuyển cân bằng phản ứng đơn giản. Vai trò của chúng là làm
tăng vận tốc tương tác hoá học. Các chất xúc tác trong xử lý khí thải công nghiệp
là các chất tiếp xúc trên cơ sở các kim loại quý: Pt, Pd, Ag … , các oxit Mangan,
Đồng, Cobalt …
Hiệu quả xử lý của phương pháp này chủ yếu phụ thuộc vào hoạt tính của chất xúc
tác.
Nhược điểm của phương pháp này là tốn kém và hiệu suất không ổn định.
6/ Phương pháp hóa sinh
Là lợi dụng các vi sinh vật phân hủy hoặc tiêu hủy các khí thải độc hại, nhất là các
khí thải từ các nhà máy thực phẩm, nhà máy phân đạm, phân tổng hợp hữu cơ. Các
vi sinh vật, vi khuẩn sẽ hấp thụ và đồn hóa các chất thải hóa hữu cơ, vô cơ độc hại.
Mảng 6: Xử lí ô nhiễm không khí bằng phương pháp thiêu đốt.
2. Khí sạch ra
3. Cửa quan sát
4. Bộ phận xúc tác
5. Quạt
6. Lò đốt sơ bộ
23
II/ Đặc điểm của phương pháp.
1/ Ưu điểm.
Phân hủy hoàn toàn các chất ô nhiễm cháy được.
Thích ứng với sự thay đổi lưu lượng và tải lượng chất ô nhiễm trong khí thải.
Hiệu quả cao với những tính chất khó xử lý bằng phương pháp khác.
Có thể thu hồi nhiệt thải ra trong quá trình đốt.
Trong những trường hợp khí thải có nhiệt độ cao có thể không cần phải gia nhiệt
trước khi đưa vào đốt.
Phương pháp đốt hoàn toàn phù hợp với việc xử lý các khí thải độc hại không cần
thu hồi hay khả năng thu hồi thấp, khí thu hồi có giá trị kinh tế cao.
Có thể tận dụng nhiệt năng trong quá trình xử lý vào mục đích khác.
Hình 2: Mô hình của dự án xây dựng hệ thống xử lí khí bằng phương pháp thiêu đốt.
2/ Nhược điểm.
Chi phí đầu tư thiết bị, vận hành lớn.
Có thể làm phức tạp thêm vấn đề ô nhiễm không khí sau khi đốt có chlorine, N, S.
Có thể cần cấp thêm nhiên liệu bổ sung, xúc tác gây trở ngại cho việc vận hành
thiết bị.
24
Hình 3: Một trong những nguyên lí thực hiện hiện việc xử lí khí bằng phương pháp
thiêu đốt.
III/ Khái quát về đặc điểm các lò thiêu đốt ở nước ta.
Chủ yếu ở nước ta vẫn là việc xử lí khí từ các lò thiêu đốt chất thải rắn.
Thiêu đốt là quá trình dùng nhiệt độ cao để phân hủy các hợp chất hữu cơ trong rác
thải và giảm nhỏ thể tích. Hiện nay, rác thải đô thị do có độ ẩm lớn, rác có nguồn
Vôi có tác dụng hấp phụ các khói axít, than hoạt tính hấp phụ dioxin và furan. Hệ
thống xử lý còn được lắp các thiết bị báo nhiệt độ, nồng độ một số loại khí như
carbon để giám sát chất lượng khí thải và hiệu quả phân hủy của lò.
3/ Lò đốt công suất trung bình.
Với lò có quy mô xử lý khoảng 300 đến 1.000 kg/ngày có thể dùng loại đáy tĩnh, có
cấu tạo nhiều loại buồng đốt, nhiệt độ buồng đốt khí đạt trên 1.000 độ C. Thời gian
lưu của khí trong buồng đốt từ 1-2 giây. Hệ thống xử lý khí thải về nguyên tắc cùng
nguyên lý với lò công suất lớn đã giới thiệu ở trên.
26