Giáo trình An toàn lao động và môi trường công nghiệp - Chương 11 pot - Pdf 19


An toàn lao động và môi trường công nghiệp

Trang 100
PHẦN IV

MÔI TRƯỜNG
CÔNG NGHIỆP
Trường ĐH SPKT TP. HCM http://www.hcmute.edu.vn
Thư viện ĐH SPKT TP. HCM - http://www.thuvienspkt.edu.vn
Bản quyền thuộc về Trường ĐH SPKT TP. HCM

An toàn lao động và môi trường công nghiệp

Trang 101
CHƯƠNG XI
MÔI TRƯỜNG LÀ YẾU TỐ SẢN XUẤT XI.1. MÔI TRƯỜNG TRONG LÝ THUYẾT KINH ĐIỂN VỀ SẢN XUẤT VÀ CHI PHÍ
Lý thuyết sản xuất và chi phí nguyên cứu sự phối hợp các yếu tố sản xuất. Trong thuyết kinh
điển của hệ thống Gutenberg trước đây chỉ phân biệt các yếu tố cơ bản là: lao động, phương tiện
sản xuất và nguyên liệu. Theo quan điểm cận đại, người ta còn đưa thêm các yếu tố khác: yếu tố
cá nhân và yếu tố cộng đồng, yếu tố tự tin… Môi trường thiên nhiên trong hệ thống của Gutenberg
chỉ được lưu ý trong chức năng là nguồn cung cấp tài nguyên thiên nhiên.


Trường ĐH SPKT TP. HCM http://www.hcmute.edu.vn
Thư viện ĐH SPKT TP. HCM - http://www.thuvienspkt.edu.vn
Bản quyền thuộc về Trường ĐH SPKT TP. HCM

An toàn lao động và môi trường công nghiệp

Trang 102
Hiện nay nhu cầu về môi trường ngày càng tăng và môi trường đã trở thành một ngành kinh tế
với chi phí đáng kể thì sự khiếm khuyết trong lý thuyết kinh điển ngày càng bộc lộ rõ nét. Tuy vậy,
vấn đề này có thể sử lý từng phần mà không cần đến sự thay đổi về lý thuyết, bởi vì nhu cầu về
môi trường được thể hiện bằng việc gia tăng giá cả các yếu tố sản xuất là “ phương tiện sản xuất”
và là “ nguyên nhiên vật liệu”. Ngay trong bản thân giá cả của một yếu tố sản xuất như yếu tố lao
động cũng có thể chứng minh một cách gián tiếp là hiệu ứng “ môi trường”. Ví dụ : vì lý do ô
nhiễm không khí trong nơi sản xuất cho nên số người ốm đau tăng được thể hiện bằng việc tăng chi
phí trong q lương và do đó giá thành sản phẩm tăng. Như vậy, hiệu ứng ngoại vi ở đâu ra phát
sinh. Đó là việc người không gây ô nhiễm không khí cũng phải gánh chòu sự tăng giá thành của sản
phẩm. Hiệu ứng này cũng có giá trò đối với yếu tố sản xuất khác, bởi lẽ đó cũng có hiệu ứng ngoại
vi tác động đến. Giá cả tăng là do các điều kiện môi trường đã đụng chạm đến tất cả những người
có nhu cầu về “ đầu vào” và nó không phụ thuộc vào mức độ và thể thức của nhu cầu về môi
trường trong sản xuất mà do các yếu tố đầu vào mang lại. Hiệu ứng ngoại vi càng lớn thì yêu cầu
về môi trường trong sản xuất sẽ là một yếu tố có trong xây dựng giá thành sản phẩm càng tăng.
Hoặc càng làm giảm hiệu lực của ý nghóa cải tiến sản xuất để giảm giá thành. Điều này có giá trò ở
mức độ tối thiểu là chi phí ngoại vi của yêu cầu môi trường sẽ được thực hiện theo nguyên tắc “
cùng gánh chòu” và nó được phân bổ cho các đối tượng có liên quan. Có một điều không dễ làm
được đó là chi phí ngoại vi của chủ thể kinh tế này gây tác động môi trường được phân bổ cho
chủ thể kinh tế khác mà từ đó dẫn đến sự thay đổi về kết cấu chi phí.
Đứng trên phương diện tổng thể của nền kinh tế thì các tài nguyên thiên nhiên của môi trường
đã từ lâu không còn là sản phẩm tự do nữa. Song, để nó được xem là một ngành kinh tế thì điều đó
còn thiếu đặc tính về chi phí. Chỉ một khi chi phí cho môi trường được phân bổ theo nguyên tắc “ ai

tế được giới thiệu trong hệ thống đầu vào kinh điển như là nguyên liệu và phương tiện sản xuất.
Thế nhưng, nhu cầu về môi trường được tính đến trong giá thành sản phẩm được lưu ý đến mức độ
nào thì vẫn chưa có lời giải thoả đáng. Song có thể mạn phép cho rằng xu hướng là tuỳ thuộc vào
chi phí trong khai thác và nó được coi như thang để tính giá thành chứ không phải là dự toán về sự
khan hiếm hay thực chất nó là nhu cầu của môi trường.
Việc sử dụng môi trường cho đến nay chủ yếu vẫn là không mất tiền ( không chi phí ). Chỉ có điều
là chi phí cho việc khai thác ngày càng tăng do đã mất sự dồi dào về nguồn dự trữ, chi phí cao lên
do sự điều chỉnh đền bù và phần nhiều do các yêu cầu trách nhiệm của các biện pháp phòng ngừa
nhằm ngăn chặn hay giảm thiệt hại. Ngoài ra, còn có chi phí cho nhu cầu môi trường là đất, là cảnh
quan, là không khí, là nước , v.v để tiếp nhận chất thải của sản xuất và tiêu dùng. Tất cả các cái đó
đã làm tăng các yêu cầu lên và với nó là chi phí. Ví dụ:
-
Tăng yêu cầu về xử lý chất thải rắn trong đó có chất thải đặc biệt hoặc nguy hại, kỹ thuật xử lý.
- Tăng yêu cầu về xử lý nước thải ( hệ thống kỹ thuật để xử lý, lệ phí xử lý).
-
Tăng yêu cầu trong việc xử lý khí thải và tiếng ồn.
Tuy nhiên, trong khai thác yếu tố đầu vào và trong việc tận dụng môi trường là nơi tiếp nhận các
loại chất thải vẫn chưa được đưa vào sổ sách kế toán bởi vì còn sự chênh lệch giữa từng vùng lãnh
thổ giữa các quốc gia.
XI.3. MÔI TRƯỜNG LÀ NƠI TIẾP NHẬN ĐẦU RA.
Trong mục II đã nêu lên chức năng của môi trường là “ Nguồn cung cấp yếu tố đầu vào”, là
phương tiện sản xuất và nguyên liệu thì đồng thời môi trường cũng làm nhiệm vụ là nơi tiếp nhận
đầu ra. Trong bảng cân đối về nguyên nhiên vật liệu và năng lượng của quá trình sản xuất trong
doanh nghiệp thì phế liệu và chất độc hại là đầu ra. Theo nhận thức của học thuyết kinh tế doanh
nghiệp thì phế thải và chất thải độc hại thuộc danh mục đầu ra không mong muốn. Đó là : chất thải
ở dạng rắn, lỏng, khí, phóng xạ, tiếng ồn, sự toả nhiệt và tiếng động. Chúng luôn đi liền với quá
trình tạo ra sản phẩm cũng như với quá trình tái tạo giá trò. Trong khi những đầu ra mong muốn là
những sản phẩm có thò trường và mang lại doanh thu cho doanh nghiệp thì những đầu ra không
mong muốn lại trở thành gánh nặng cho môi trường thiên nhiên.
Quan sát trên khi mở rộng dưới góc độ sinh thái lại cho thấy, ngay bản thân việc sử dụng hay


Môi trường

là người cung ứng cho cho năng
lực tiếp nhậnLiên kết Biến đổi
Thò trường là
nơi tiếp nhận
đầu ra mong
muốn
Phế

liệu

Đặc
tính
đầu
vào
của
môi
trường
là yếu
tố sản
xuất

Trường ĐH SPKT TP. HCM http://www.hcmute.edu.vn
Thư viện ĐH SPKT TP. HCM - http://www.thuvienspkt.edu.vn
Bản quyền thuộc về Trường ĐH SPKT TP. HCM

An toàn lao động và môi trường công nghiệp

Trang 105

XI.4. NHỮNG ĐẶC ĐIỂM MÔI TRƯỜNG CỦA YẾU TỐ SẢN XUẤT
 Môi trường là sản phẩm tự do
Ở góc độ kinh tế doanh nghiệp thì môi trường được coi là một sản phẩm tự do, nếu như việc sử
dụng nó không phải chi phí. Điều đó cũng có giá trò, nếu như nó gây nên chi phí chung cho nền
kinh tế và để điều chỉnh thiệt hại đó, nó được điều tiết qua thuế và các loại lệ phí và như vậy, chi
phí được phân bổ lại cho các đối tượng chòu thuế và chi phí. Thế nhưng, như trong mục II để giải
trình giá thành của các yếu tố kinh điển cơ bản tăng lên với sự khan hiếm của yếu tố môi trường,
thì đó là kết quả của quá trình phân bổ chi phí. Nguyên nhân của nó là chi phí cần thiết để bảo vệ
môi trường, như lệ phí, chi phí theo yêu cầu cụ thể và chi phí cho rủi ro ngày càng tăng.
 Môi trường là sản phẩm của cộng đồng
Một thực tế là đại bộ phận sản phẩm của môi trường là sản phẩm của cộng đồng. Điều đó dẫn

Một vấn đề tiêu biểu khi coi môi trường là yếu tố sản xuất ( kể cả khía cạnh là nơi cung cấp
đầu vào và cả khía cạnh là nơi tiếp nhận đầu ra ) đã dẫn đến khái niệm mới về sự khan hiếm. Đối
với những nguyên liệu tái tạo được ( như cây và con) sẽ cho thấy sự khan hiếm về đònh suất. Điều
đó có nghóa là nhu cầu đòi hỏi về mặt môi trường được coi là vấn đề, một khi đònh suất khai thác
thường xuyên vượt quá đònh mức tái tạo. Điều đó cũng có giá trò đối với môi trường là nơi thu nhận
lại đầu ra không mong muốn, ví dụ: Đất, không khí và nước chỉ có khả năng hấp thụ một lượng ô
nhiễm nhất đònh nào đó. Nếu như đònh suất ô nhiễm không vượt quá mức giới hạn thì nó vẫn chưa
bò ô nhiễm vónh cửu, mặc dù có ô nhiễm. Trong trường hợp đó mặc dù môi trường vẫn được xem là
yếu tố sản xuất không thể bỏ qua được nhưng nó không gây nên chi phí gì cho nền kinh tế chung
hay cho từng đơn vò kinh tế riêng lẻ. Chỉ một khi sự ô nhiễm vượt quá ngưỡng đònh suất khai thác
hay đònh suất tiếp nhận, có nghóa là vượt quá khả năng tái tạo hô hấp của môi trường thiên nhiên,
thì nó mới gây nên chi phí về sự khan hiếm. Ví dụ: khai thác gỗ trong rừng, chất thải hữu cơ trong
nước và đất, đánh bắt cá, săn bắn
Khác với sự khan hiếm đònh suất là nhu cầu về môi trường mà trong đó, sự tái tạo thiên nhiên
chỉ có thể thực hiện được trong một khoảng thời gian rất dài và cũng có khi là không thực hiện
đïc, trong khan hiếm tích tụ thì yêu cầu của môi trường có khác và về bản chất, nó là một quá
trình không tái tạo lại được. Ví dụ : ở đây là việc khai thác nguyên liệu khoáng sản và nguyên liệu
hoá thạch ( kim loại, dầu mỏ, than) và trả lại thiên nhiên những chất thải trong đó có chất độc hại
như: kim loại nặng, tia xạ, …
XI.5. CƠ SỞ KHỐI LƯNG VÀ GIÁ TRỊ CỦA YẾU TỐ SẢN XUẤT LÀ MÔI TRƯỜNG
Việc đưa môi trường là yếu tố sản xuất độc lập là khuôn khổ của lý thuyết sản xuất và chi phí
cần phải có sự xem xét tách bạch và tổng hợp về tính phụ thuộc của nó. Trong đó cần đặc biệt lưu
ý đến:
-
Hệ số chất thải: cho một đơn vò sản phẩm, trong đó chất thải được phân loại theo đặc tính nguy
hiểm của nó đối vơi môi trường.
- Đònh suất tái sinh: là khối lượng chất thải có thể tái sinh đïc tính trên một đơn vò sản phẩm. Ở
đây cũng cần lưu ý đên ô nhiểm môi trường do việc tái sinh gây nên.
-
Đònh suất chuyển hoá: là khối lượng chất thải gây ô nhiễm môi trường nếu qua xử lý về mặt sinh

của môi trường và đồng thời, với một giá trò như thế nào để có thể thoả mãn được yêu cầu của môi
trường. Vấn đề này cho đến nay vẫn chưa thấy nguyên cứu nào đề cập đến. Tiền đề qui đònh về chi
phí cho sự đòi hỏi của môi trường có thể là :
-
Qui nộp ( nó sẽ dẫn đến mục “lệ phí”, ví dụ như qui nộp về nước thải).
- Hoạt động theo chứng chỉ môi trường.
- Kiểm toán sinh thái làm cơ sở cho việc đánh thuế.
- Luật về trách nhiệm của chủ thể gây ra tổn thương cho môi trượng.
Trường ĐH SPKT TP. HCM http://www.hcmute.edu.vn
Thư viện ĐH SPKT TP. HCM - http://www.thuvienspkt.edu.vn
Bản quyền thuộc về Trường ĐH SPKT TP. HCM


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status