tiểu luận Bước đầu tìm hiểu truyền thống khoa bảng của nhân dân huyện Đức Thọ ( Hà Tĩnh ) thời kì phong kiến - Pdf 26

Khoá luận tốt nghiệp Đào Thị Hồng
Thắm
A - PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài.
Giáo dục là nhân tố tích cực thúc đẩy quá trình phát triển của dân tộc,
quốc gia. Giáo dục Nho học ở Việt Nam trong hàng ngàn năm tồn tại đã góp
phần không nhỏ vào việc phát triển xã hội và con người Việt Nam. Ý thức
tầm quan trọng của giáo dục, từ nửa thế kỉ trước các bậc minh quân đã khẳng
định rằng: “ Hiền tài là nguyên khí của quốc gia, nguyên khí thịnh thì thế
nước mạnh và vươn cao; nguyên khí suy thì thế nước yếu mà xuống thấp,
cho nên quý trọng kẻ sỹ không biết thế nào là cùng " [24;25] hay “ muốn
có nhân tài trước hết phải chọn người có học, phép chọn người có học thì
thi cử là đầu ". Vì vậy trong lịch sử phong kiến Việt Nam, chế độ giáo dục -
khoa cử giữ một vị trí đặc biệt quan trọng. Các sĩ tử “ cửa Khổng sõn Trình ",
các nhà khoa bảng trên mọi miền đất nước đã viết tờn mỡnh lờn những tấm
bia đá của sự cầu tài, cầu thị do các triều đại phong kiến dựng nên, họ chính
là sản phẩm cao cấp của nền giáo dục Nho học, là “ nguyên khí "đưa đất nước
ta “ thịnh " sánh vai với phong kiến Trung Hoa.
Ngày nay trong cuộc so tài chạy đua giữa các quốc gia mà thực chất là
cuộc chạy đua về sức mạnh kinh tế và sức mạnh trí tuệ thì những bài học về
truyền thống giáo dục thi cử của cha ông ta trong 500 năm qua vẫn còn nóng
bỏng tính thời sự của nó. Đảng và Nhà nước ta luôn quán triệt “ Lấy giáo dục
- đào tạo, khoa học - công nghệ làm những quốc sách hàng đầu", “Chúng
ta đang cùng nhân loại bước vào thiên niên kỉ mới, vào thời đại của nền
văn minh trí tuệ. Trong bối cảnh mới đó, giáo dục càng có vai trò quan
trọng đặc biệt, có thể nói là nhân tố quan trọng quyết định tương lai của
dân tộc ”. Nghị quyết 2 khóa VIII của Ban chấp hành Trung ương Đảng một
Líp B - K53 Khoa Lịch sử Trường ĐHSP Hà
Nội
Khoá luận tốt nghiệp Đào Thị Hồng
Thắm

Cuốn “ Địa chí huyện Đức Thọ " do Thái Kim Đỉnh chủ biên, NXB
Lao Động, Hà Nội, 2004. Đây là công trình nghiên cứu toàn diện, công phu
về Đức Thọ với hơn 700 trang, được chia làm nhiều mục, tiểu mục. Đặc biệt,
cuốn sách đã dành một dung lượng khá lớn cho việc nghiên cứu về tình hình
văn hóa, giáo dục của nhân dân trong huyện với con số và số liệu khá chi tiết;
ngoài ra tác giả còn cung cấp cho chúng ta cái nhìn khái quát về lịch sử chính
trị - kinh tế - xã hội của huyện Đức Thọ từ khi thành lập cho đến năm 2004.
Cuốn “ Danh nhân Hà Tĩnh " do Đức Ban chủ biên, Sở Văn hóa
Thông tin Hà Tĩnh xuất bản năm 1996, tác phẩm đã đề cập một cách khá cụ
thể đến sự nghiệp của một số danh nhân Đức Thọ từng đỗ đạt trong thời kì
phong kiến.
Cuốn “ Lịch sử Hà Tĩnh " ( tập I ) do Đặng Duy báu chủ biên, NXB
Chính trị Quốc Gia, Hà Nội, 2000; cung cấp nhiều tư liệu và nhận định quan
trọng về tình hình kinh tế - văn hóa Đức Thọ nửa đầu thế kỉ XIX đặt trong
bối cảnh sự phát triển của các huyện trong tỉnh.
Cuốn “ Các nhà khoa bảng Hà Tĩnh từ đời Trần đến đời Nguyễn "
do Thái Kim Đỉnh biên soạn, Hội Liên hiệp Văn hóa nghệ thuật Hà Tĩnh xuất
bản năm 2004; tập sách là nguồn tư liệu quý giá tập hợp những nét tiểu sử
của các nhà khoa bảng trong toàn huyện, trong đó số lượng các vị khoa bảng
Đức Thọ được trình bày khá đầy đủ với những cứ liệu khoa học chính xác.
Ngoài ra cũn cú cỏc tác phẩm “ Sự phát triển giáo dục và chế độ thi
cử ở Việt Nam thời phong kiến ” của Nguyễn Tiến Cường, NXB Giáo Dục,
Hà Nội 1998; “ Các nhà khoa bảng Việt Nam (1075- 1919) " do Ngô Đức
Thọ biên soạn, NXB Văn học, Hà Nội 1993; cuốn “ Hương khoa lục Nghệ
Tĩnh thời Nguyễn " bản dỏnh mỏy của thư viện Hà Tĩnh và “ Quốc triều
Hương khoa lục ", của Cao Xuân Dục, NXB Thành phố Hồ Chí Minh năm
1993…là những công trình khoa học có giá trị trong việc tìm hiểu về tình
Líp B - K53 Khoa Lịch sử Trường ĐHSP Hà
Nội
Khoá luận tốt nghiệp Đào Thị Hồng

Khoá luận tốt nghiệp Đào Thị Hồng
Thắm
nghiên cứu của một sinh viên, đề tài không tham vọng tìm hiểu hết chiều dài
của truyền thống khoa cử của nhân dân huyện Đức Thọ từ trước đến nay mà
chỉ giới hạn trong thời kì phong kiến từ thế kỉ XI đến cuối XIX.
4. Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu.
Nguồn tư liệu: Truyền thống khoa bảng là một vấn đề xảy ra cách
ngày nay rất lâu. Vì vậy việc nghiên cứu đề tài cần đảm bảo chính xác phải
dựa vào nguồn tư liệu gốc như:
- “ Lịch triều hiến chương loại chí " phần Khoa mục chí - Phan Huy
Chú - NXB Khoa học và xã hội, Hà Nội 1992.
- “ Quốc triều hương khoa lục " - Cao Xuân Dục – NXB Thành phố
Hồ Chí Minh, 1993.
Nhưng quan trọng hơn là nguồn tư liệu sưu tầm ở địa phương như:
“Địa chí huyện Đức Thọ", “ Các nhà khoa bảng Hà Tĩnh từ đời Trần đến
đời Nguyễn " do Thái Kim Đỉnh biên soạn; “ Lịch sử Đảng bộ huyện Đức
Thọ "…
Phương pháp nghiên cứu: Trong nghiên cứu các vấn đề lịch sử,
phương pháp hàng đầu và quan trọng nhất là phương pháp logic và phương
pháp lịch sử. Tuy nhiên do việc ghi chép hay nhận thức vấn đề của mỗi tác
giả đôi chỗ không giống nhau, phạm vi nghiên cứu cũng khác nhau. Do đó,
ngoài hai phương pháp chủ yếu trờn thỡ cũn được kết hợp với các phương
pháp khác như phương pháp điền dã, sưu tầm tư liệu địa phương, so sánh đối
chiếu, phân tích tổng hợp…để rút ra kết luận, nhận xét đúng đắn nhất.
5. Đóng góp của khóa luận.
- Đây là một công trình nghiên cứu mang tính chất “chuyên" về vấn đề
giáo dục khoa cử ở huyện Đức Thọ trong thời kì phong kiến cụ thể là từ thế
kỉ XI đến cuối XIX.
Líp B - K53 Khoa Lịch sử Trường ĐHSP Hà
Nội

những phác vật rìu này đã có hình dáng cân đối “ chúng thường có hình tứ
giác, có những phác vật rìu dài đến 16cm chiều rộng từ 6 đến 8cm ”
[21;62]. Những chiếc rìu này được chở đi nơi khác để trao đổi và hoàn thiện.
Sở dĩ có thể chở đi trao đổi là vì ngay dưới chân rú Dầu có một con sông
thông với Ngàn Sâu. Như vậy “ ngay từ thời đại Đá Mới, ở rú Dầu - Đức
Thọ đó cú những hoạt động trao đổi hàng hoá - hoạt động thương mại đầu
tiên ” [12;14].
Trong giai đoạn văn hoá tiền Đông Sơn, trên đất Đức Thọ người ta cũng
tìm thấy bộ công cụ bằng đồng thau rất độc đáo ở xã Đức Đồng. Ở đây có đến
hai chiếc rỡu cú họng, một chiếc dài 8,5cm, một chiếc dài 11cm, cả hai có lưỡi
xoè rộng. Đặc biệt tại đây còn phát hiện các công cụ đồng thau khác như rìu
lưỡi xộo cú họng hình bầu dục, loại gót nhọn, gút trũn, gút vuụng, giỏo đồng…
Líp B - K53 Khoa Lịch sử Trường ĐHSP Hà
Nội
Khoá luận tốt nghiệp Đào Thị Hồng
Thắm
Cỏc công cụ và vũ khí đồng thau tìm thấy ở Đức Thọ nói riêng và Hà Tĩnh nói
chung trong thời kì này, chúng ta thấy có những đặc điểm giống với di vật văn
hoỏ Đụng Sơn ở các khu vực khác, ngoài ra cũn cú những đặc điểm riêng chỉ
giống với đồ đồng ở một số tỉnh cận kề như Nghệ An, Quảng Bỡnh…tạo thành
loại hình văn hoá địa phương: loại hình cực Nam.
Trong thời kì văn hoá tiền sử và sơ sử trên đất Đức Thọ còn tìm thấy
các mảnh gốm thô, hạt chuỗi bằng đá ngọc, các khuyên tai hai đầu thú,
khuyên tai ba mấu bằng đất nung…Những hiện vật trên minh chứng cho tính
bản địa từ rất sớm của cư dân nơi đây. Những dấu vết của họ tìm thấy chưa
nhiều, do việc nghiên cứu khảo cổ trờn vựng đất này chưa đầy đủ nhưng
chúng ta đã có thể hình dung những bước đi cơ bản của họ trên con đường
dài dằng dặc của thời nguyên thuỷ và buổi đầu dựng nước.
Trong thời Hùng Vương dựng nước, vùng Hà Tĩnh xứ Nghệ nói chung
và vùng đất Đức Thọ nói riêng thuộc bộ Cửu Đức trong 15 bộ của nhà nước

ngày nay có thể ứng với đất của các huyện này. Năm Bính Tý niên hiệu
Thông Thuỵ, đời vua Lý Thỏi Tụng, đổi Hoan Châu thành châu Nghệ An, rồi
Lý Nhõn Tụng lại đổi thành phủ Nghệ An gồm có 4 châu và 13 huyện. Vùng
đất Đức Thọ lúc đó có tên gọi chính thức là huyện Cổ La [28;49].
Đến nhà Trần đổi phủ Nghệ An thành trấn Nghệ An rồi lại chia làm
các lộ là Nghệ An nam, Nghệ An bắc, Nghệ An trung và lộ Nhật Nam. Năm
Quang Thái thứ 10 ( 1397) Trần Thuận Tông đổi Nghệ An thành trấn Lâm
An. Theo Bùi Dương Lịch, ở cả trong “ Nghệ An kí ” và “ Yên Hội thụn
chớ” thì La Sơn thời Trần gọi là Chi La, thời Minh cũng gọi thế, thời Lê Sơ
gọi là La Giang, đến thời Lê Trung Hưng để trỏnh tờn chỳa Trịnh Giang nên
đổi là La Sơn, thuộc phủ Đức Quang.
Thời Gia Long, vùng đất này vẫn có danh là La Sơn nhưng đến năm
Minh Mệnh thứ 3 ( 1822 ) vì kiờng huý nên đổi phủ Đức Quang thành phủ
Đức Thọ, địa danh Đức Thọ có từ đó đến nay.
Líp B - K53 Khoa Lịch sử Trường ĐHSP Hà
Nội
Khoá luận tốt nghiệp Đào Thị Hồng
Thắm
Gần 200 năm tuy vẫn giữ địa danh Đức Thọ nhưng địa giới đã nhiều
lần thay đổi, điều chỉnh và tách hợp. Vào đầu thế kỉ XX, Đức Thọ gồm 7
tổng, 60 xó, thụn, trang:
- Tổng Việt Yờn cú 15 xó, thụn
- Tổng Yên Hồ có 8 xã
- Tổng Hoa Lõm cú 14 xó, thụn, trang.
- Tổng Lai Thạch có 5 xã
-Tổng Thịnh Quả có 6 xó, thụn
- Tổng Tự Đồng có 7 xó, thụn
- Tổng Thượng Bồng có 6 xã, phường.
Đến năm 1923 tổng Lai Thạch nhập về huyện Can Lộc, vì thế trước
cách mạng tháng Tám thì Đức Thọ có 6 tổng với số dân là 80.000 người. Và

giữa sông và núi: phía Tây Bắc kề dưới chân Thiên Nhẫn và Trà Sơn, phía
Đông là Thiên Tượng và núi Cài, phía Bắc là sông La - Lam, tạo thành một
vùng trũng mà nhà Địa chí học Bùi Dương Lịch gọi nó là Đại Oa (nghĩa là
cái ổ khổng lồ, cái lòng chảo). Nó được nhận phù sa từ các nguồn Ngàn Sâu -
Ngàn Phố hợp lưu với sông La đổ xuống, cùng với các chi lưu khác như sụng
Mờnh, rào Hào, hói Trai, hói Hào đổ về, bồi đắp thành một đồng bằng màu
mỡ vào loại nhất nhì tỉnh.
Ở Đức Thọ đồng bằng được chia làm hai loại dựa vào địa hình của vùng
này: đồng bằng bồi tích ven sông La và đồng bằng thung lũng Ngàn Sâu.
Đồng bằng bồi tích ven sông La là một trong những đồng bằng rộng
lớn nhất Hà Tĩnh. Vùng ngoài đê La Giang được bồi đắp phù sa nên màu mỡ,
cây trồng tốt tươi.
Đồng bằng thung lũng Ngàn Sâu nhỏ hẹp và rải rác, độ phì nhiêu của
đất thấp hơn.
Núi đồi ở Đức Thọ chiếm một diện tích khá lớn, trong huyện có 11/27
xã là vùng núi. Theo “ Nghệ An kí ” của Bùi Dương Lịch thỡ cỏc nỳi ở Nghệ
Tĩnh đều bắt nguồn từ Mường Thanh - Ninh Biên ( Điện Biên ) và chia làm
hai hệ khác nhau.
Như vậy địa hình của huyện Đức Thọ trước đây có ba hệ nỳi: cỏc khối
núi ở Thượng Bồng thuộc đới Trường Sơn, nay đã cắt về huyện Vũ Quang,
khối núi nhỏ lẻ như núi Ngọc Sơn, Tiên Sơn nay đã cắt sang thị xã Hồng
Lĩnh, chỉ cũn cỏc khối nỳi Thiờn Nhẫn, Trà Sơn thuộc đới Hoành Sơn.
Líp B - K53 Khoa Lịch sử Trường ĐHSP Hà
Nội
Khoá luận tốt nghiệp Đào Thị Hồng
Thắm
Sông ngòi của huyện Đức Thọ có điểm khác biệt hơn so với các huyện
khác trong tỉnh, đây là một huyện nhiều sông ngòi nhất trong tỉnh, do nằm
giữa hai triền núi là Trà Sơn và Thiên Nhẫn nên sông ngòi chảy theo hướng
các vùng trũng thấp ấy, sông dài nhất không quá 30km.

Đức Thọ có cấu tạo khá phức tạp, độ dày không đều, phân bố khác nhau và
có độ phì nhiêu khác nhau.
Đất đai của huyện có thể chia làm ba khu vực khác nhau: đất đồng
bằng ven sông, đất đồng bằng thung lũng, núi và đất đồi núi.
Theo kết quả của đợt điều tra thổ nhưỡng năm 1972- 1973 thu được thì
Đức Thọ gồm có các 9 loại đất như sau:
1. Đất bùn phù sa được bồi chua hằng năm.
Đây là loại đất bị ngập lụt hàng năm, và hàng năm đều được bồi thêm
một lớp phù sa mới. Đất nay có ở 17 xã vùng ngoài đờ sụng La và ven sông
Sâu (Đức Tùng, Đức Châu, Đức La, Đức Quang, Đức Vịnh, Đức Lạc, Đức
Hoà, Đức Đồng, Trường Sơn, Liên Minh, Yên Hồ, Đức Yờn, Bựi Xỏ, Đức
Nhân, Đức Lạng, Tùng Ảnh, Đức Long ).
2. Đất phù sa không được bồi, khụng glõy hoỏ hoặc glõy hoỏ yếu.
Đê ngăn không cho lũ vào nên độ PH thấp, đất trở thành đất chua,
lượng mùn trung bình. Đất này có ở cỏc xó Đức Dũng, Đức Lập, Đức An,
Đức Yên, Đức Thanh, Yên Hồ.
3. Đất phù sa không được bồi, glõy hoỏ mạnh.
Loại đất này nằm ở các đồng thấp trong đê, phần lớn là đất sét, lượng
mùn là 1,99%. Loại này có ở cỏc xó như: Đức Lâm, Trung Lễ, Đức Thuỷ,
Đức Thanh, Thỏi Yờn, Đức Yờn, Bựi Xỏ, Đức Nhân, Đức An, Đức Dũng,
Đức Lập, Yên Hồ, Tùng Ảnh.
4. Đất phù sa cũ bạc màu có sản phẩm feratilic.
Loại đất này chỉ có ven núi phía Nam xã Đức Dũng
5. Đất phù sa glõy hoỏ mạnh.
Líp B - K53 Khoa Lịch sử Trường ĐHSP Hà
Nội
Khoá luận tốt nghiệp Đào Thị Hồng
Thắm
Đất này nước ngập mùa mưa hoặc quanh năm, nằm ở các vùng trũng,
nhiều nhất ở Đức Thanh, Đức Thuỷ.

chung của hai thôn trong bản xã, đều do tư nhân mua bán làm của riêng ”
(Yên Hội thụn chớ). Ở La Sơn - Đức Thọ ruộng đất công không nhiều lắm,
chỉ chiếm 10% diện tích ruộng đất.
Ruộng đất tư: chế độ tư hữu về ruộng đất đã được nhà nước thừa
nhận cùng với quyền mua bán và nghĩa vụ đóng thuế ruộng đất từ thời Lý
vào thế kỉ X. Đến thế kỉ XIX, ruộng đất tư ở La Sơn - Đức Thọ bao gồm các
loại: làng xã bỏ tiền tậu mua, đền chùa tậu mua hay được tư nhân cúng hiến,
ruộng đất của phe giáp mua tậu từ ruộng tư nhân, và của cá nhân mua.
Tình hình sử dụng ruộng đất: Hiện nay ở Đức Thọ thì trong tổng số
đất tự nhiên thì đất dùng vào Nông nghiệp là 9.445ha; đất dùng vào Lâm
nghiệp 1.807ha bằng 8,91%; đất chuyên dùng 2.352ha bằng 11,59%; đất thổ
cư 690ha bằng 3,40%; và đất chưa sử dụng 5.993ha bằng 29,54% tổng số
diện tích đất của huyện [12;80] .
Diện tích đất chủ yếu sử dụng để sản xuất nông nghiệp, và nuôi
trồng. Cây trồng chủ yếu là lúa, ngoài ra cũn cú cỏc loại hoa màu khác như:
khoai lang, ngô, vừng, mía, sắn…Sản lượng lương thực quy thóc ( tấn ) năm
1995 là 50.700 (tấn) trong đó thóc chiếm 46.642, năm 2000 là 63.000 và thóc
chiếm 57.000 tấn.
Về chăn nuôi, các loài vật nuôi chủ yếu là lợn, bũ, trõu, gà, vịt,
ngan, ngỗng…Ngoài ra cũn nuụi nhiều loại thuỷ sản khác, theo thống kê thì
diện tích nuôi trồng mặt nước chiếm đến năm 1996 là 37,02ha; năm 2000 là
36,41ha. Trong đó diện tích ao nuôi cá là 2,8ha.
1.3.2 Thủ công nghiệp.
Nghề thủ công nghiệp xuất hiện khá sớm ở vùng đất Đức Thọ, và
“nơi đây được xem là một trong những huyện có nghề thủ công nghiệp và
buôn bán sản phẩm phát đạt nhất tỉnh Hà Tĩnh ” [12;86]. Đức Thọ nổi
tiếng với các ngành nghề thủ công như: nghề mộc Thỏi Yờn, gốm Cẩm
Trang, miến bột Bựi Xỏ, mật đường chợ Trổ, lụa Việt Yên, đóng thuyền
Líp B - K53 Khoa Lịch sử Trường ĐHSP Hà
Nội

Nội
Khoá luận tốt nghiệp Đào Thị Hồng
Thắm
Hiện tại chỉ còn 17 chợ trong đó có 11 chợ cũ và 6 chợ mới. Trong
số 11 chợ mất thỡ cú những chợ cổ, trước đây rất phồn thịnh, tấp nập, có
tiếng như chợ Hạ, chợ Cầu. Trong số các chợ mới thì chợ Thượng, chợ Hạ,
chợ Trổ là những chợ lớn hơn cả.
Chợ là nơi phản ánh đời sống vật chất và nếp sống văn hoá của cư
dân sở tại, và nhân dân huyện Đức Thọ đã xây dựng cho mình một đời sống
vật chất khá đầy đủ và một đời sống tinh thần phong phú bằng hệ thống 7 tụ
điểm giao lưu kinh tế:
- Cụm cầu Kênh - Linh Cảm ( Tùng Ảnh )
- Cụm cầu Nghiêng - ngã ba Lạc Thiện ( Trung Lễ )
- Cụm Ngã ba Trổ ( Đức Nhân - Yờn Hồ )
- Cụm chợ Chay ( Đức An )
- Cụm chợ Đàng ( Đức Đồng )
- Cụm chợ Giấy ( Đức Dũng )
- Cụm chợ Nhà Trắng ( Đức Lâm )
Sự phát triển của đời sống kinh tế nhân dân trong huyện là tiền đề,
cơ sở vật chất quan trọng để phục vụ cho sự phát triển của đời sống văn hóa
tinh thần phong phú đa dạng, mà quan trọng nhất là phát huy truyền thống
khoa hoạn lâu đời của miền “ đất học ".
1.4 Con người Đức Thọ.
Cư dân sống trên đất Đức Thọ chủ yếu là người Kinh; ngoài ra còn
có con cháu người Chàm, người Hoa, họ là di duệ của người Chăm đến đây
từ thế kỷ XIII, XIV.
Theo các gia phả của các dòng họ lớn ở La Sơn – Đức Thọ hiện nay
thỡ lõu nhất cũng chỉ mới có từ 24 đến 25 đời ( tức khoảng 500 năm đến 600
năm ). Làm một phép tính đơn giản, chúng ta có thể biết rằng hầu hết lớp
người hiện nay đều đến đây từ đời Lê đến triều Nguyễn. Họ là con cháu các

trong tỉnh, và nó trở thành một nét truyền thống rất đẹp trong đời sống văn
hoá của nhân dân Đức Thọ.
Líp B - K53 Khoa Lịch sử Trường ĐHSP Hà
Nội
Khoá luận tốt nghiệp Đào Thị Hồng
Thắm
Nhắc đến Đức Thọ, người ta lại nhắc đến vùng đất dân gian giàu
đời sống tinh thần, người Đức Thọ sống tình nghĩa là vậy, lịch thiệp là vậy,
nó được thể hiện sống động qua các lễ hội truyền thống, điển hình là “lễ tế
sống cha mẹ” để tỏ lòng thành kính, biết ơn đấng sinh thành. Ngoài ra cũn
cỏc phong tục tập quán thuần hậu khác như: hát ả đào ở Du Đồng, phường
tuồng ở Trường Xuân, hát ghẹo ở Mỹ Xuyờn…
Vẻ đẹp của đời sống tinh thần nơi đây được sách xưa ghi lại rằng:
“phong tục nơi đây đều trọng hậu, chỗ nào cũng có văn học, khoa giáp đỗ
đạt thì huyện Thiên Lộc ( tức Can Lộc), huyện Nghi Xuân, huyện La Sơn
(Đức Thọ) là thịnh hơn cả. Những người làm tôi có tiếng tốt, giúp nước có
đức hiền hơn cả một châu” [4;63].
Hình ảnh của con người Đức Thọ còn thể hiện trong quá trình chiến
đấu kẻ thù, bảo vệ quê hương đất nước, từ kẻ thù phong kiến phương Bắc đến
thực dân phương Tây. Và ngày nay vẻ đẹp đú cũn toỏt lờn trong công cuộc
xây dựng và phát triển đất nước, nhân dân Đức Thọ anh hùng đã góp phần to
lớn vào sự nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước, xây dựng một
Đức Thọ theo hướng hiện đại hóa nông thôn.
Tiểu kết chương I:
Như vậy chúng ta đó cú một cái nhìn khái quát nhất về bức tranh
chung của huyện Đức Thọ dưới nhiều góc độ khác nhau, những yếu tố trờn
đó tạo nên một Đức Thọ có bề dày lịch sử hàng nghìn năm, một bản sắc văn
hóa riêng độc đáo, một tính cách rất “Nghệ tĩnh" : cần cù, chụi khó trong lao
động, anh hùng quả cảm trong đấu tranh chống kẻ thù. Chính sức mạnh tổng
hợp này đã góp phần xây đắp nên một vùng quê văn hiến với truyền thống

chữ Hán và đạo Nho vào nền văn hoá dân tộc ta của quân xâm lược. Trong
“Khoa cử và giáo dục Việt Nam ” xuất bản năm 1993, Nguyễn Quyết Thắng
Líp B - K53 Khoa Lịch sử Trường ĐHSP Hà
Nội
Khoá luận tốt nghiệp Đào Thị Hồng
Thắm
ghi rằng: “Cứ theo sử chộp thỡ từ thời Bắc thuộc lần thứ nhất, nghĩa là
trong khoảng năm thú 3 trước Tây lịch đến năm 39 sau Tây lịch, chữ Nho
cựng Hỏn học mới được truyền vào nước ta ”. Những quan lại phong kiến
Trung Hoa sang cai trị nước ta trong thời Bắc thuộc quan niệm việc học chữ
Hán không cần thiết cho việc khai hoỏ dõn ta, mà chỉ cần trong vòng thực
dụng. Đó là cốt sao dạy cho người Việt Nam biết sử dụng chữ Hán văn trong
các đơn từ, khế ước, công văn…đồng thời để truyền bá những nguyên tắc lí
luận thông thường nhằm cai trị dân ta theo thể chế phong kiến chư hầu.
Trong buổi đầu đất nước tự chủ, Nho giáo với phương tiện truyền
bá là kinh điển chữ Hán, tỏ ra có hiệu lực trong việc xây dựng một chế độ
phong kiến tập quyền. Vì vậy các triều đại Việt Nam, từng bước sử dụng Nho
học và chữ Hán làm phương tiện đào tạo, lựa chọn nhân tài theo mô hình
Phương Bắc. Dưới ảnh hưởng mạnh mẽ của tư tưởng Hán học, các “ụng
Nghè, ông Cống” Việt Nam đã vươn lên và khẳng định tài năng của mình
“không thua kém gì người Trung Nguyên” [11;7].
Trong bối cảnh nền giáo dục nước nhà chụi ảnh hưởng sâu sắc của
nền văn hoá - giáo dục Hỏn, thỡ cỏc sĩ tử Hà Tĩnh nói chung và Đức Thọ nói
riêng đã nhanh chóng thích nghi, khắc phục khó khăn để “quyết chí thành
tài”, những thành tựu khoa bảng của họ đạt được trong cỏc kỡ khoa hoạn thời
phong kiến đã minh chứng cho điều đó.
Chữ Hán là một loại chữ tượng hình rất khó học, nhưng các triều
đại Trung Quốc cũng như các quốc gia trên thế giới cũng phải thừa nhận rằng
người Việt Nam học chữ Hán rất nhanh và rất giỏi. Trong thời kì bị đô hộ,
người Việt đã chấp nhận chữ Hán làm văn tự chính thức, tiếp thu những giáo

Trường học của huyện Đức Thọ, vào thời Lê được đặt ở xã Phi
Cảo, đời Nguyễn lại dời sang xó Bựi Xỏ, năm Thiệu Trị thứ nhất ( 1840 ) dời
đến xó Yờn Trung, phía Tây phủ lỵ, đến năm 1918 thì bãi bỏ cùng với chế độ
khoa cử chữ Hán. Đời Lê trường này do một Huấn đạo hàm Chánh cửu
phẩm, đời Nguyễn đặt một Giáo thụ hàm thất phẩm coi việc học và giảng
dạy, sát hạch chọn học trò đi thi.
Líp B - K53 Khoa Lịch sử Trường ĐHSP Hà
Nội
Khoá luận tốt nghiệp Đào Thị Hồng
Thắm
Chương trình học tập của các nho sinh trong huyện Đức Thọ cũng
giống như các trường ở tỉnh, phủ và huyện khác trong cả nước được chia ra
như sau:
- Việc giảng sách: Mỗi thỏng cỏc học quan quy định những kì giảng
sách nhất định. Theo lệ này, các học trò từ các Hương cống cùng với các học
trò trường Giáo ( trường cấp Giáo thọ ), trường Huấn ( trường cấp Huấn đạo )
đến đông đủ để nghe các vị học quan giảng sách kinh truyện.
- Việc tập văn: Mỗi tháng cũng định những kì làm văn như giảng
sách vậy. Vào ngày hôm ấy, các vị học quan ra đầu bài cho học sinh làm, có
hai lối tập văn: văn kì và văn nhật khắc.
Theo lối văn kỡ thỡ học sinh đem đầu bài về nhà làm và đỳng kỡ
hạn đem nộp bài. Lối văn nhật khắc thì buộc học sinh làm bài xong tại trường
ngay trong ngày hôm đó.
- Việc bình văn: học sinh nộp quyển cho học quan, khi đã chấm xong
định ngày hội học sinh trở lại để phê bình. Những đoạn văn hay, những bài
đặc sắc sẽ được đọc lên cho học sinh nghe. Kì bình văn thường được đặt vào
cuối tháng [23;62 - 63].
Bên cạnh sự thành lập của trường công thì để đáp ứng nhu cầu học tập
của con em nhân dân trong huyện nhà thì một hệ thống trường tư đã ra đời.
2.1.2.2 Trường Tư.

Khai tâm: trong thời gian một vài tháng đầu thầy dạy cho đứa trẻ
những thói quen tốt, những cử chỉ và lời nói trong khi giao tiếp. Dạy cho trẻ
“sải tảo, ứng đối, tấn thối ” nghĩa là phải biết những công việc thông thường,
cách thức thưa hỏi; cách thức dạy học này thể hiện qua câu nói “ Tiên học lễ,
hậu học văn ”. Nội dung học là cỏc sỏch: Nhất thiên tự, Tam thiên tự, Tam tự
kinh…
Kỉ luật: Thầy đồ cử ra hai người, trường tràng nội và trường tràng
ngoại giúp thầy trông coi việc trong và ngoài trường, có việc gì phải báo cáo
với thầy để thầy giải quyết. Phương pháp dạy học của thầy là học trò lớp lớn
dạy học trò lớp nhỏ, và thầy sẽ dạy bảo thêm.
Líp B - K53 Khoa Lịch sử Trường ĐHSP Hà
Nội

Trích đoạn Phan Nhật Tỉn h( 1816 ? ). Họ Phan Đìn hở làng Đụng Thỏi xó Tựng Ảnh. Về thành tựu khoa bảng của nhân dân huyện Đức Thọ trong thời kì phong kiến. Đóng góp trên lĩnh vực văn chương – nghệ thuật Nguyên nhân của truyền thống hiếu học và khoa bảng của huyện Đức Thọ.
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status