Bước đầu tìm hiểu truyện kể dân gian về các đòa danh ở Nam Bộ
LỜI CẢM TẠ
Tơi xin chân thành cảm tạ và tri ân sự nhiệt tình giúp đỡ của Ban giám hiệu
Trường Đại Học Sư Phạm Thành Phố Hồ Chí Minh, Phòng Khoa Học Cơng Nghệ-Sau
Đại Học; sự đóng góp q báu chân tình của PGS. Chu Xn Diên, GS.Nguyễn Tấn
Đắc, GS.Trần Hữu Tá, TSKH.Đồn Thị Thu Vân và tập thể Thầy, Cơ Khoa Ngữ Văn,
cùng tất cả các bạn đồng học đã nhiệt tình giúp đỡ tơi hồn tất luận án.
Tơi xin đặ
c biệt tỏ lòng kính trọng biết ơn Tiến Sĩ Khoa Học Bùi Mạnh Nhị, Thầy
đã tận tụy chỉ bảo và hướng dẫn cho tơi trong q trình học tập, nghiên cứu và hồn
thành luận án tốt nghiệp.
Tuy chỉ được nghiên cứu trong thời gian ngắn, nhưng với sự hỗ trợ rất lớn của
Gia Đình, sự giúp đỡ tận tình của q Thầy Cơ và sự cố gắng hết sức mình, tơi đã có
điều kiện tiếp thu được những kiến thức và phương pháp vơ cùng q báu.
Vấn đề của đề tài ít nhiều đã được các nhà nghiên cứu đề cập và gợi ý. Luận
án đã cố gắng kế thừa và hệ thống lại những cơng trình nghiên cứu trước để bước đầu
tìm hiểu một số đặc điểm thi pháp của truyện kể địa danh Nam Bộ, nhằm tạo tiề
n đề cho
những nghiên cứu chun sâu về sau.
Một lần nữa xin chân thành cảm tạ.
An Giang, tháng 6/2000
Trần Tùng Chinh
Bước đầu tìm hiểu truyện kể dân gian về các đòa danh ở Nam Bộ
II. Nhóm tư liệu nghiên cứu 38
II.1. Những tư liệu về xã hội, những sưu khảo về địa danh xưa và nay 38
II.2. Những tư liệu địa lý (Địa chí, Địa phương chí) 40
II.3. Những t
ư liệu lịch sử 42
II.4. Những tư liệu nghiên cứu địa danh dưới cái nhìn ngơn ngữ học 46
II.5. Một số bài nghiên cứu truyện kể địa danh trên các tạp chí chun
ngành
50
CHƯƠNG 3: Bước đầu tìm hiểu những đặc điểm thi pháp của truyện kể địa
danh Nam Bộ
52
I. Phân loại truyện kể địa danh 52
II. Bước đầu tìm hiểu những đặc điểm thi pháp của truyện kể
địa danh Nam
Bộ
54
II.1. Cốt truyện 56
1.1. Mơ hình cốt truyện của nhóm truyện kể địa danh về đề tài con người
đấu tranh với thiên nhiên
58
1.2. Mơ hình cốt truyện của nhóm truyện kể địa danh về đề tài con người
đấu tranh chống thù trong giặc ngồi
63
1.3. Mơ hình cốt truyện của nhóm truyện kể địa danh về đề tài con người
với những quan hệ xã hội thế sự đời thường
68
II.2. Thờ
i gian và khơng gian nghệ thuật 76
2.1. Thời gian và khơng gian nghệ thuật của nhóm truyện kể địa danh về
ười đấu tranh chống thù trong
giặc ngồi. 160
3. Nhóm truyện kể địa danh về đề tài con người với những quan hệ xã hội
thế sự đời thường. 1943
Bước đầu tìm hiểu truyện kể dân gian về các đòa danh ở Nam Bộ
A. PHẦN DẪN NHẬP
1.
Lý do chọn đề tài:
Nhắc đến Nam Bộ là nhắc đến một vùng đất văn hóa vừa thống nhất so với văn
hóa dân tộc, vừa có những điểm độc đáo riêng mà tộc người Việt cùng các dân tộc anh
em đã gầy dựng trên dưới 300 năm qua. Khắc họa chân dung văn hóa Nam Bộ đã có
rất nhiều cơng trình nghiên cứu, nhưng mảnh đất ấy vẫn còn nhiều điều mới mẻ, gợi
nhiều khao khát khám phá, tìm hiểu.
Trong q trình tiếp cận nền văn hóa dân gian Nam Bộ, chúng tơi lưu ý đến một
mảng truyện kể về địa danh tồn tại bền vững cùng với sự hình thành và phát triển của
vùng đất mới. Mặc cho bao thăng trầm của lịch sử và thử thách của thời gian, mảng
truyện kể dân gian ấy đã tự nhiên tồn tại, lưu truyền và phát triển với những đặc tr
ưng
cơ bản của một loại hình văn hóa dân gian đặc sắc. Các truyện kể đi vào giải thích
nguồn gốc tên đất, tên làng, tên sơng, tên núi, tên những vị trí địa lý, địa hình của đất
phương Nam. Những cốt truyện giải thích nguồn gốc kèm theo những địa danh quen
thuộc đã ngân nga lên bao u thương trìu mến trong lòng người dân Việt. Thế nhưng,
tập hợp các truyện kể về địa danh ấy lại, khảo sát và nghiên c
ứu bằng phương pháp
luận nghiên cứu khoa học văn học dân gian, soi sáng từ góc nhìn Folklore học ... vẫn
còn là điều hồn tồn mới mẻ. Các địa danh cùng tồn tại với một cốt truyện dân gian
địa danh ở Nam Bộ”.
2.
Mục đích và nhiệm vụ của luận án:
Đề tài này vừa mới, vừa rộng; tuy nhiên, trong giới hạn của luận án,
chúng tơi chỉ mong – và cố gắng – thực hiện các mục đích và nhiệm vụ bước đầu như
sau:
1. Tìm hiểu về vùng đất Nam Bộ – nơi hình thành và lưu truyền
những truyện kể dân gian giải thích nguồn gốc địa danh. Để thực hiện được mục
đích này, chúng tơi đã cố gắng trong chừng mực có thể, sư
u tầm những tư liệu
lịch sử, địa lý, văn hóa, xã hội, kinh tế, chính trị… về vùng đất này. Đặc biệt là
những cơng trình biên khảo cơng phu về Nam Bộ của những học giả đã gắn cả
cuộc đời mình với Nam Bộ, viết về Nam Bộ như cụ Vương Hồng Sển, nhà văn
Sơn Nam, các học giả Huỳnh Minh, Nguyễn Văn Hầu …
2. Lập mộ
t phụ lục, tập hợp những truyện kể dân gian về nguồn gốc
các địa danh Nam Bộ mà chúng tơi đã sưu tầm được (1). Để thực hiện điều này,
chúng tơi tìm kiếm và chọn lọc từ những tài liệu sưu tầm trong dân gian, những
truyện kể địa danh trong tác phẩm của các chun gia sưu tầm văn học dân gian
như Nguyễn Đổng Chi, Nguyễn Hữu Hiếu, Huỳnh Ngọc Trảng, Tr
ương Ngọc
Tường, tập thể khoa Ngữ văn trường Đại học Cần Thơ…
3. Tiến hành phân loại truyện kể địa danh Nam Bộ thành các nhóm
truyện khác nhau để thuận lợi hơn trong q trình khảo sát: Ở đây, nhiệm vụ khó
khăn là chúng tơi xác định những tiêu chí phân chia sao cho hợp lý mà bao qt
5
Bước đầu tìm hiểu truyện kể dân gian về các đòa danh ở Nam Bộ
được truyện kể địa danh Nam Bộ. Để từ đó mới có thể rút ra những hiện tượng
tầm có chú ý đến mảng truyện kể địa danh nhưng khơng có sự phân loại rõ ràng. Vì thế
mảng tư liệu này nằm lẫn lộn trong những truyện kể dân gian khác. Và cho đến nay, vẫn
chưa có một cơng trình sưu tầm nào dành riêng cho một sự tập hợp các truyện kể địa
danh Nam Bộ.
6
Bước đầu tìm hiểu truyện kể dân gian về các đòa danh ở Nam Bộ
B. Nhóm tư liệu nghiên cứu:
− Những tư liệu xã hội, những sưu khảo về địa danh xưa và nay:
Những cơng trình này hồn tồn chưa xác định con đường đi sâu nghiên cứu địa
danh dù là ở góc độ nào. Vì thế, các tác giả viết về các địa danh một cách sơ lược theo
kiểu điểm danh địa danh, mà khơng hề có chủ đích sưu tầm cũng như nghiên cứu
truyện kể địa danh.
− Những tư liệu địa chí:
Như tên gọi, các cơng trình địa chí là những cơng trình nghiên cứu tổng hợp về
nhiều lĩnh vực ở một địa phương nào đó. Sự xuất hiện khơng nhiều của một vài truyện
kể địa danh – kể cả ở phần phụ lục – được coi như những tài liệu sưu tầm chưa tập
trung
− Những tư liệu lịch sử:
Phần tư liệu này, chủ yếu, nhìn địa danh ở góc độ địa bạ, hành chính, nhằm xác
định địa danh ở một độ lùi lịch sử nhất định và góp phần so sánh địa danh (Tên Hán và
tục danh, truyền thuyết và lịch sử…). Dù khơng đi vào nghiên cứu địa danh nhưng các
tư liệu này lại giúp ích cho cơng việc nghiên cứu địa danh – dù ở góc độ nào. Và đặc
biệt chúng có ý nghĩa với việc khảo sát vùng đất – nơi hình thành và lưu truy
ền những
truyện kể địa danh.
danh ở Nam Bộ, chưa có một cơng trình nào trước đó đặt vấn đề nghiên cứu một cách
có hệ thống. Kể cả đối với truyện kể dân gian Nam Bộ nói chung.
4. Đối tượng nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu trong luận án này là những truyện kể dân gian về các địa
danh Nam Bộ. Trong một số bài nghiên cứu về địa danh dưới góc độ Folklore học,
chúng tơi nhận thấy một số nhà nghiên cứu có dùng thuật ngữ “Truyền thuyết địa danh”
(32 và 120). Tuy nhiên, khi khảo sát các tư liệu sưu tầm được, có một thực tế là có
mảng truyện giải thích khá hoang đường về sự hình thành địa danh, có mảng truyện lại
gắ
n liền với các nhân vật, sự kiện lịch sử, lại có mảng truyện thiên về chuyện thế sự đời
thường. Xét thấy ranh giới giữa thần thoại, truyền thuyết lịch sử và cổ tích khơng có sự
phân định rõ ràng trong các tác phẩm dân gian giải thích nguồn gốc các địa danh Nam
Bộ nên chúng tơi lạm nghĩ thuật ngữ “Truyện kể dân gian về các địa danh ở Nam
Bộ” - mà chúng tơi xin được phép gọi tắt là "Truy
ện kể địa danh Nam Bộ" – là một
thuật ngữ phù hợp và bao hàm đối tượng nghiên cứu của luận án này.
- Đây là những truyện kể dân gian về địa danh Nam Bộ. Nói một cách đầy đủ
hơn, đó là những truyện kể dân gian giải thích về nguồn gốc các địa danh Nam Bộ.
Chúng ra đời, lưu truyền và tồn tại như một chỉnh thể nghệ thuật, có cốt truyện, có
khơng gian và thờ
i gian nghệ thuật và có nhân vật, sự kiện (79).
- Địa danh khơng có cốt truyện(1) khơng phải là đối tượng cũng như phạm vi
nghiên cứu của luận án này.
8
Bước đầu tìm hiểu truyện kể dân gian về các đòa danh ở Nam Bộ
- Những địa danh có cốt truyện phải là những địa danh xuất hiện ở Nam Bộ và
về những địa danh ở Nam Bộ – đặc biệt là ở vùng đồng bằng sơng Cửu Long. Gọi một
ương pháp phân tích – đối chiếu: Khơng chỉ phân tích các truyện kể,
người viết còn đối chiếu với các thể loại khác của văn học dân gian như thần thoại, cổ
9
Bước đầu tìm hiểu truyện kể dân gian về các đòa danh ở Nam Bộ
tích, truyền thuyết lịch sử... để từ đó thấy rõ sự khác biệt, mối quan hệ, góp phần tìm
hiểu phát hiện những đặc điểm nổi bật của thi pháp truyện kể địa danh.
− Phương pháp sưu tầm và thẩm định tư liệu: Tập hợp, chọn lọc sắp xếp
nguồn tư liệu truyện kể địa danh Nam Bộ. Và trong điều kiện cho phép, ng
ười viết đã
thẩm định một số tư liệu ở địa phương. Đồng thời xác định cái "cốt dân gian" trong
những truyện kể có tồn tại dị bản và cả những truyện đã được nhào nặn qua tay người
sưu tầm.
− Trình tự nghiên cứu:
+ Đi vào những vấn đề cơ bản:
Xác định đối tượng ( sưu tầm, chọn l
ọc).
Phân loại tư liệu (sắp xếp, hệ thống).
Tìm hiểu vùng đất (tham khảo).
+ Nghiên cứu các đặc điểm: Bằng cách sử dụng khai thác một cách hiệu
quả các phương pháp đã nêu
− Đảm bảo các ngun tắc khi nghiên cứu:
Am hiểu vùng đất – nơi sản sinh và lưu truyền truyện kể địa danh.
Phân loại thành các nhóm truyện theo một tiêu chí hợp lý.
Bám sát văn bả
n truyện kể – đặc biệt là cái "cốt dân gian"
Chú ý những hiện tượng mang tính lặp lại hoặc những hiện tượng
xuất hiện với tần số cao, với một tỷ lệ đáng lưu ý.
6. Đóng góp của luận án:
danh Nam Bộ (52 trang).
Kết Luận: 5 Trang
Ngồi ra, luận án còn có:
Phầ
n danh mục tài liệu tham khảo 11 Trang
Phần phụ lục 148 Trang
11
Bước đầu tìm hiểu truyện kể dân gian về các đòa danh ở Nam BộB. PHẦN NỘI DUNG
Chương 1
TÌM HIỂU VÙNG ĐẤT – NƠI HÌNH THÀNH, LƯU TRUYỀN NHỮNG TRUYỆN KỂ
DÂN GIAN VỀ CÁC ĐỊA DANH Ở NAM BỘ
I. VÙNG ĐẤT NAM BỘ
I.1 Vùng đất Nam Bộ:
Men theo dải đất hẹp kéo dài một bên là Trường Sơn sừng sững, một bên là
biển Đơng uốn khúc, đi về phía Nam, chợt vỡ ra một vùng đất rộng: Vùng cao với
phù sa cổ nằm trên lưu vực sơng Đồng Nai. Vùng thấp giang ra đón lấy từng luồng
phù sa mới của hạ lưu dòng Cửu Long– dòng sơng khởi hành ở Tây Tạng đổ ra
Nam Hải kết thúc cuộc hành trình.
Vùng đất ấy là một phần hậu c
ứ quan trọng của xứ Đàng Trong cũ để nhà
Nguyễn đối phó với họ Trịnh ở bên kia sơng Gianh. Nằm ở phía Nam nên được
mệnh danh là vùng đất phương Nam – nơi những người thuở nào mang gươm đi
mở cõi. Và trải qua nhiều giai đoạn lịch sử, địa giới và tên gọi của vùng đất này có
nhiều sự đổi thay.
Đầu tiên, vào năm 1698 (65,20), khi bắt đầu có tổ chức hành chính ở đây, bãi
Bộ, mặt ngạo nghễ hướng thẳng ra phía biển Đơng, mảnh đất này cứ lấn dần ra
biển. Vùng đất Nam Bộ cứ
thế mà tồn tại với bao tác động của thời tiết, khí hậu để
kiến tạo định dạng địa hình riêng biệt của mình.
Trước khi người Việt đặt chân đến đây, vùng đất Nam Bộ hãy còn là một
miền đất hoang vu hiểm trở.
Sử Trung Quốc còn lưu lại những dòng ấn tượng của một vị quan đời
Ngun - Châu Đạt Quan trong “Chân Lạp Phong thổ ký”(88,24) để ta hình dung ra
Nam Bộ ngày nào. Từ góc nhìn c
ủa những chuyến thuyền rong ruổi từ biển Đơng
ngược Cửu Long Giang, Nam Bộ hiện ra với “những bụi mây dài, cây to, cát
vàng, lau sậy trắng” ở hai bờ. Những chòm cây rậm rạp của những khu rừng thấp
làm chổ ẩn nấp lý tưởng cho chim chóc và mng thú . Cảnh tượng hoang dã ấy còn
được chấm phá, điểm xuyết thêm hình ảnh của hàng ngàn con trâu rừng họp từng
bầy trên những cánh đồng cỏ lúa bạ
t ngàn.
Khác với vùng đất cao ráo dễ làm ăn (65,8), nguồn lợi nhiều tơm cá biển hồ ở
phía trên (là lãnh thổ Campuchia hiện nay), Nam Bộ thuở ấy còn hoang vu lắm.
Khơng mỏ vàng, mỏ bạc, khơng đậu khấu trầm hương tơ lụa hồ tiêu, vùng đất cứ thế
mà phơi ra sự hoang sơ, thâm u, nê địa của mình.
Những giồng đất cao ráo hiếm hoi ở cánh sơng Tiền thì phần lớn đất đai vẫn
còn là rừng rậm
đầy thú dữ. Những vùng trũng gần sơng Hậu thì sình lầy bùn đọng
quanh năm làm muỗi mòng rắn rết sanh sơi nảy nở (61,9). Nam Bộ có vùng tồn
nước mặn, nước phèn, có vùng thì tràn trề nước ngọt; nơi ngập lụt sình lầy quanh
năm suốt tháng, nơi cao ráo màu mỡ phì nhiêu; chỗ có thể canh tác ruộng vườn,
chỗ thì hoang vu cỏ lát, cỏ năn...
Khí hậu, thời tiết ở Nam Bộ có khác biệt với miền Bắc. “Gia Định thành
thơng chí”
ở mục Tinh dã chí (17,16), Trịnh Hồi Đức có chép: "Cuối mùa xn
i những điều kiện chính trị, kinh tế, văn hóa dưới thời Chân
Lạp, tình trạng chiến tranh liên miên giữa Chân Lạp và Champa trên địa bàn
Trung Nam Bộ và Đơng Nam Bộ”.
Thời gian trước khi có lưu dân Việt đến đây, vùng đất này đã có các cư dân
Khơ me và các dân tộc ít người sống lẻ tẻ rải rác trên các giồng đất cao, các vùng
đồi núi, nhưng khơng đáng kể. "Do đó Sài Gòn – Gia Định vẫn là đất tự do của các
dân tộc và h
ầu như vơ chủ, là đất hoang nhàn cả về kinh tế lẫn chủ quyền”
(18).
Như trên đã dẫn, thế kỷ XIII, Châu Đạt Quan khi đi sứ Chân Lạp đã ghi nhận
thời khai sơ của vùng đất này như sau: “Bắt đầu vào Châu Bồ (vùng biển Vũng Tàu
ngày nay – chú thích ND), gần hết cả vùng là bụi rậm của rừng thấp, những
cửa rộng của con sơng lớn chảy dài hàng trăm dặm, bóng mát um tùm củ
a
những gốc cổ thụ và cây mây dài tạo thành những chỗ trú xum x. Khắp nơi
vang tiếng chim hót, thú kêu. Vào nửa đường trong sơng, thấy những cánh
17
Bước đầu tìm hiểu truyện kể dân gian về các đòa danh ở Nam Bộđồng hoang khơng có một gốc cây. xa nữa, tầm mắt chỉ thấy tồn cỏ cây đầy
rẫy...” (88,24).
Trong “Phủ biên tạp lục”, Lê Q Đơn chép rằng: "Từ cửa biển Cần Giờ, Sài
Rạp, Cửa Tiểu, Cửa Đại trở lên tồn là rừng rậm hàng ngàn dặm”. (15,6,345).
Những bậc tiền hiền khai khẩn người Việt đã có mặt ở đó từ rất sớm, khơng
ngừng khai hoang mở đấ
t, lập làng dựng ấp.
Năm 1679, những di dân người Hoa xuất hiện ở Cù Lao Phố, Biên Hòa và
sau đó là cửa biển Mỹ Tho.
Bước đầu tìm hiểu truyện kể dân gian về các đòa danh ở Nam BộChúa Nguyễn tham ơ hà khắc, lâm vào cảnh “mười dê đến chín người chăn”,
"nghèo khổ thất nghiệp rất là đáng thương” (Nguyễn Cư Trinh) (65,16).
Vùng đất xa lạ mà cũng khơng kém phần hoang dã khắc nghiệt kia khơng
phải là thiên đường nếu khơng muốn nói là ác mộng cho những cư dân mới đã từng
quen phong thổ xứ sở miền Trung. Nhưng dẫu sao ở đây, cái ác liệt của thiên nhiên,
của thú dữ cũng khơng đáng sợ
bằng nanh vuốt của tập đồn phong kiến chúa
Nguyễn áp bức tàn bạo. Vì lẽ đó, di dân vào Nam cũng khơng hề giảm – nhất là từ
nửa cuối thế kỉ XVIII.
Nhưng bên cạnh đó, và sau đó, xác định được vùng đất rộng lớn mênh mơng
tiềm ẩn nhiều tài ngun giàu có, triều đình chúa Nguyễn vừa là ngun nhân khơng
có ý thức đưa đẩy dân Việt di cư vào Nam, vừa là một chủ trương có ý thức thể hiệ
n
tầm nhìn xa rộng và chiến lược về vùng đất mới này. Theo chủ trương – mà về sau
được coi là rất đúng đắn này – của chúa Nguyễn, một cuộc di dân khá qui mơ, tự
giác trực chỉ “Đất Phương Nam” thẳng tiến.
“Phủ biên tạp lục” – Lê Q Đơn nói rõ họ Nguyễn chiêu mộ những người
dân “có vật lực”(1) và “có nhân lực”(2) ở xứ Quảng Nam. Họ thu nhận nơ tì, điền nơ
và đặc biệt là “lưu dân”(3) để
làm một cuộc ra qn hùng hậu. Tuy nhiên, tưởng
cũng cần nói qua một số thành phần cơ bản của các lực lượng được chiêu mộ trên
bởi điều này rất quan trọng; nó chi phối và tác động đến tính cách người Nam Bộ
sau này.
Có thể nói thành phần “Lưu dân” là thành phần đơng đảo nhất. “Lưu dân” là
những người bị đày đi xa từ 2000, 2500 đến 3000 dặm, lấy kinh đơ làm trung tâm.
“Tội lưu” khác v
ới “Tội đồ” ở chỗ vĩnh viễn khơng được trở về ngun qn, vì vậy
đến khai khẩn đất Hà Tiên.
Kh
ơ me rồi Việt, Hoa, Chăm... những tộc người, những nguồn di dân khác
nhau đã gặp, nhau sống chung với nhau và tất cả đã tựa lưng nhau để đối đầu với
những gian nan thử thách của vùng đất mới.
I.5 Văn hóa vùng đất
Đất phương Nam là nơi hợp lưu của nhiều lớp, nhiều dòng văn hóa. Từ
những phát hiện của khảo cổ học về gần 100 các di tích cư trú, các thành cổ, các
khu mộ cổ của lớp cư dân đầu tiên, các nhà nghiên cứu cho rằng 4000 ( 5000 năm
trước Nam Bộ – đặc biệt là Đơng Nam Bộ, vùng trên của đồng bằng sơng Cửu Long
– thực sự là một trung tâm cư dân đơng đảo và trù phú.
Dấu vết c
ủa một nền văn hóa lâu đời còn sót lại ở kiểu cư trú nhà sàn trên
cột, trên gò nổi, hệ thống thủy đạo, thành đất...
Điều thú vị là nền văn hóa Ĩc Eo đã từng rực rỡ suốt từ thế kỷ thứ I đến thế
kỷ thứ VII ở đồng bằng sơng Cửu Long (111,248). Mặc dù sau này ngành khảo cổ
chứng minh rằng có những dấu vết là những di vật còn sót lại c
ủa một số vương
triều khác nhưng vùng đất ấy thời bấy giờ chủ yếu đã tiếp thu mạnh mẽ và sâu sắc
văn hố Ấn Độ-mà bản thân nền văn hố ấy đã rất phong phú và đa dạng. Và rồi vì
20
Bước đầu tìm hiểu truyện kể dân gian về các đòa danh ở Nam Bộmột biến động nào đó – đến nay vẫn còn bí ẩn, thời gian đã phủ lên Ĩc Eo một lớp
bụi dày. Một nền văn hóa kế tiếp phát triển.
Tầng văn hóa này tương đối đa dạng bởi sự hòa hợp văn hóa ngay từ những
giai đoạn đầu của sự hình thành khơng gian cư trú. Đó là Chiêng, Mạ đặc biệt ảnh
Q trình khai khẩn đất đai bằng sự cộng sức đồng lòng của nhiều tộc người
khác nhau đã đồng thời tạo lập nên m
ột nền văn hóa phương Nam đặc sắc. Sự khai
phá khẩn hoang trong hòa hợp đồn kết và đầy tình thân ái ấy đã khơng hề có sự
21
Bước đầu tìm hiểu truyện kể dân gian về các đòa danh ở Nam Bộloại trừ cũng như xung đột lẫn nhau về văn hóa giữa người Việt và các tộc người
khác.“Sớm biết thích ứng với hồn cảnh, thổ ngơi, tận dụng địa lợi, tạo ra nhân
hòa, sáng tạo vượt khó khăn, giao hòa với con người và văn hóa khác mà vẫn
giữ được phong cách của mình là việc mà tổ tiên ta đã làm được từ lúc đầu đi
khai thác vùng đất mới” (65,78).
II. CON NGƯỜI
II.1 Đối đầu với thiên nhiên
“Phủ biên tạp lục” chép rằng: “Những người di cư ra sức chặt phá cây
cối, cắt cỏ rậm và mở mang đất đai thành những vùng đất bằng phẳng, thổ địa
phì nhiêu” (15,4,249).
Những bậc tiền hiền khai khẩn đã đổ bao nhiêu mồ hơi nước mắt và cả máu
xương trong cuộc đối đầu khơng cân sức với một thiên nhiên còn thâm u hoang dã.
Từ buổi đầ
u đến đây khai phá, ơng cha ta đã ý thức rất rõ quan hệ đối đầu này.
Ban đầu, dân cư còn thưa thớt, số lượng người khai khẩn còn ít, thiên nhiên
vẫn đầy thách thức với những vùng trũng thấp sình lầy, đầy cơn trùng, cỏ lác. Đất
đồng, đất trũng ngày trước nhiều sản vật nhưng được che chắn đầy hiểm trở bởi
đường đi lại khó khăn, “tàn hà đái thấp, chiết liễ
u triêm nê” (Sen tàn nơi ẩm thấp,
khí hậu độc địa, nhánh thủy liễu – tức cây bần – gãy rơi xuống bùn) (Nguyễn Cư
Trinh) (65,16).
ững tác động tích cực của triều đình nhà
Nguyễn đã phát động những người dân có nhân lực, có vật lực hùng hậu vào khai
khẩn. Dù với những chính sách thơng thống ngõ hầu khuyến khích những lưỡi
phảng khẩn hoang nhưng rõ ràng, cũng khơng thể chối được rằng, nhà Nguyễn –
sau thời gian đầu khuyến khích đó – sẽ sắp xếp địa bạ hành chính vùng Nam Bộ để
biến nơi này thành một hậu cứ chắc ch
ắn nhằm đối phó với nhà Trịnh trong cuộc
phân tranh.
(1)
Những lần đụng độ lặp đi lặp lại đã cướp đi bao nhiêu sinh mạng của người
dân vơ tội. Trải qua thời gian, điều đó khơng hề mất để trả lại cho dân đen sự bình
n. Chiến tranh vẫn cứ là nỗi ám ảnh treo lơ lửng trên đầu họ.
Bên cạnh đó, sự phân hóa giai cấp trong nơng thơn làm cho vấn đề ruộng đất
được đặt ra gay gắt. Bọn đị
a chủ giàu có được ni dưỡng vào thời các chúa
Nguyễn - dựa vào thế lực kinh tế xã hội, dần dần bao chiếm đất đai, tước đoạt cả
những mảnh ruộng nhỏ bé của người nơng dân nghèo khổ...
Mâu thuẫn giai cấp nảy sinh, phát triển gay gắt đeo đuổi truy bức người dân trong
cuộc mưu sinh tồn tại sống còn.
Và còn nhiều lần giao tranh giữa Tây Sơn và tập đồn Nguyễ
n Ánh cũng ln
đặt ra trước người Nam Bộ những thử thách thật sự nghiêm trọng, kéo dài.
Rồi sự xuất hiện của giặc Xiêm xâm lược. Chỉ trong vòng sáu thập kỷ của thế
kỷ XVIII, sáu lần qn Xiêm xâm lấn vùng Nam Bộ với bao cảnh máu chảy đầu rơi,
tan da nát thịt, núi xương sơng máu... (111,243)
Và bi kịch của trăm năm mất nước vào tay thực dân Pháp mở màn với khúc
dạo đầu đau thương bi tráng cũng cấ
t lên từ vùng đất phương Nam “đi trước về sau”
này.
phương Nam. “Thiên nhiên Nam Bộ còn khá rộng rãi và hào phóng với con
người, đã thế ở đây lại khơng có tâm lý phân biệt người chính cư và người ngụ
cư nên người dân sẵn sàng bỏ đi nơi khác nếu ở n
ơi cũ, họ cảm thấy khơng
còn sống được nữa, cả về vật chất lẫn tinh thần” (111,13). Họ sống khơng bị
ràng buộc, và cũng khơng bao giờ chấp nhận sự ràng buộc. Điều này còn có ngun
nhân sâu sa vì tất cả những lưu dân có mặt ở nơi đây đều có chung một mục đích là
khát vọng tự do, khát vọng được giải phóng.
Ngày họ đến đây thuở “phá sơn lâm
đâm hà bá” ban đầu, nhà Nguyễn chưa
thể vươn dài bàn tay phong kiến của mình để chế ngự hết đất đai điền thổ. Vì vậy,
họ cảm thấy thực sự được tự do, thực sự được giải phóng, cả trong ý thức:
Trời sinh cây cứng lá dai
Gió lay mặc gió chiều ai chẳng chiều
Cái ý thức vẫy vùng sơng nước ấy, cái hùng tâm tráng chí của những con
người khơng khép mình khuất phục ấy đ
ã được nung đúc trong hồn cảnh mới
24
Bước đầu tìm hiểu truyện kể dân gian về các đòa danh ở Nam Bộthành ý chí kiên cường, thành tinh thần bất khuất hiên ngang, thành tâm thế cứng
cỏi ngang tàng quyết liệt và táo bạo. Từ đó, họ khơng hề lùi bước mà dấn thân chế
ngự thiên nhiên khắc nghiệt, khơng luồn cúi mà sẵn sàng đương đầu với sức mạnh
của cả những thế lực tối đen phi nghĩa.
Mà Nam Bộ, dù thiên nhiên có ưu đãi thì thuở “tiền sử” của nó cũng là một
nơi “dưới sơng sấu lộ
i, trên rừng cọp đua”, cũng là một nơi “muỗi kêu như sáo
thổi, đỉa lềnh tựa bánh canh”. Nói rõ hơn, đó là một nơi thật sự có thử thách, có
25
Bước đầu tìm hiểu truyện kể dân gian về các đòa danh ở Nam Bộmang những dấu ấn mới mẻ của một vùng đất còn non trẻ. Sự giao thoa giữa cái đã
có và cái chưa có, cái tiếp tục diễn tiến và cái mới khởi thủy, cái đang tồn tại và cái
vừa bắt đầu đã tạo thành một nét riêng của sự hình thành và lưu truyền văn học dân
gian Nam Bộ – đặc biệt là truyện kể địa danh Nam Bộ.
Điều này lý giải vì sao khoảng cách ra đời giữa các thể
loại văn học dân gian
- ở đây nhấn mạnh thể tài truyện kể bằng văn xi – rất gần nhau, thậm chí cùng
song song tồn tại với nhau.
Các thể loại cơ bản như thần thoại, truyền thuyết lịch sử, truyện cổ tích dân
gian Nam Bộ đều được ra đời và lưu truyền trên dưới 300 năm khi những người Việt
đầu tiên có mặt ở vùng đất này để làm cuộc kh
ẩn hoang.
Dựa vào phần lịch sử vùng đất đã nêu, ta thừa nhận rằng trong kho tàng
truyện kể ở vùng đất mới, tư duy của những cư dân cổ - thuộc các vương quốc khác
- cũng đã để lại ít nhiều dấu ấn qua những câu truyện kể của dân tộc họ. Nhưng
theo tư liệu mà chúng tơi sưu tầm được và sẽ cơng bố trong phần phụ lục của luậ
n
án này thì số lượng truyện kể xa xưa ấy - tức là những truyện ít nhiều mang màu sắc
của các lớp văn hóa cổ ấy - khơng phải là nhiều.
Phần lớn các truyện mà cốt truyện, nhân vật, chi tiết, tình tiết của nó đã là
một dấu hiệu khá rõ ràng để xác định thời điểm ra đời. Thậm chí, một số lượng
khơng nhỏ các truyện còn có cả thời gian vơ cùng cụ thể (nh
ư ngày... tháng ... năm
nào đó chẳng hạn).
Vậy thì nói về q trình hình thành và lưu truyền những truyện kể địa danh
ng trước thiên nhiên bí ẩn vừa là sự tỉnh táo vượt thốt ra phần lớn
những yếu tố hoang đường. Bởi buổi khai sinh cùng thời kỳ niên thiếu của người
Việt cổ dẫu sao cũng đã lùi vào q khứ. Con người cầm vũ khí bằng đơi cánh tay
gân guốc rắn rỏi dạn dĩ đi vào vùng đất phương Nam đã rất trưởng thành. Có chăng
chỉ là thống ngỡ ngàng khi tiếp nhận với q nhiều
điều mới mẻ mà vùng đất văn
vật xứ Đàng Ngồi khơng còn nữa, hoặc chưa hề có.
Trên chỉ phác họa vài nét sơ lược về sự hình thành và lưu truyền của truyện
kể địa danh Nam Bộ. Chúng tơi sẽ còn đề cập đến cụ thể hơn khi khảo sát các
truyện kể ấy ở phần sau.
27
Bước đầu tìm hiểu truyện kể dân gian về các đòa danh ở Nam BộChương 2
NHẬN XÉT TƯ LIỆU
Trong chương dẫn nhập về lịch sử đề tài, chúng tơi đã điểm qua hệ thống tư
liệu nghiên cứu về địa danh. Tuy nhiên, đề tài cùng vấn đề này đặt ra quả là còn rất
mới mẻ. Thực ra, việc nghiên cứu địa danh khơng phải là mới. Cái mới là luận án
vạch ra một hướng nghiên cứu về địa danh Nam Bộ dưới cái nhìn Folklore học. Nói
như vậy
để thấy rằng các góc độ nghiên cứu trước đây về địa danh hoặc chỉ nhìn ở
góc độ ngơn ngữ học - địa danh học, dân tộc học - phong tục học... hoặc chỉ khoanh
vùng ở những truyện kể địa danh Bắc bộ - nơi có bề dày văn hóa lâu đời khá ổn
định. Từ đó, vơ hình trung chưa chú ý đúng mức một mảng truyện đáng kể đã nảy
sinh theo dấu chân nh
ững ngày đầu cha ơng đi mở đất trong khi mảng truyện ấy
ngày càng phát triển nhiều hơn.
Vì vậy, có thể coi chương II – chương nhận xét tư liệu – như cách mà người