PHẦN MỘT: ĐẶT VẤN ĐỀ
1. Lí do chọn đề tài.
Lịch sử nhận loại phát triển qua năm hỡnh thái kinh tế xã hội – theo quan
niệm của chủ nghĩa duy vật lịch sử - đó là: cộng sản nguyên thuỷ, chiếm hữu nô
lệ, phong kiến, tư bản chủ nghĩa và xã hội chủ nghĩa. Từng hình thái kinh tế xã
hội là một bước tiến trong lịch sử tiến hoá của nhân loại. Mỗi hình thái là một
nấc thang phát triển nên sự chuyển biến từ hình thái kinh tế xã hội này sang một
hình thái kinh tế xã hội khác không thể dễ dàng mà phải vật lộn khó khăn quyết
liệt, đó chỉ có thể là các cuộc cách mạng xã hội. Do vậy các cuộc cách mạng xã
hội có ý nghĩa vô cùng to lớn, như những bước ngoặt trong sự phát triển của lịch
sử. Cách mạng tư sản cũng vậy. Nó đó chuyển nhân loại từ đêm trường trung cổ
tối tăm bước đến ánh bình minh của trình độ phát triển cao của sản xuất, khoa
học kĩ thuật, văn hoá, tư tưởng… Marx phải thừa nhận chỉ mấy mươi năm của
CNTB đã sản xuất ra một khối lượng của cải vật chất bằng mấy nghìn năm trước
đó cộng lại. Do vậy tìm hiểu về cách mạng tư sản là một đề tài có ý nghĩa lớn
đối với việc nghiên cứu lịch sử và có nhiều vấn đề lớ thỳ.
Nghiên cứu lịch sử không chỉ nhằm biết lịch sử đã diễn ra như thế nào
mà mục đích là phải đánh giá được bản thân lịch sử và rút ra được bài học kinh
nghiệm gì cho cuộc sống hiện tại của mình. Đánh giá cách mạng tư sản có thể
dưới nhiều khía cạnh khác nhau nhưng việc xem xét mức độ triệt để trong việc
thực hiện các nhiệm vụ của nó có ý nghĩa cực kì quan trọng xem nó đã đi đến
đâu trên con đường của mình?
Đề tài sẽ góp phần lí giải căn nguyên của những nét khác biệt giữa các
nước tư bản trong sự phát triển của nó cả về kinh tế đến chính trị, văn hoỏ xó
hội… Nó cũn cho ta hiểu sâu sắc đặc điểm của từng nước tư bản trong thế giới
hiện nay. Điều này là rất cần thiết với xu hướng hiện nay của quan hệ quốc tế:
muốn hợp tác cùng phát triển thỡ cỏc bên phải thực sự thấu hiểu nhau. Bởi vì
nhiều vấn đề thuộc về đặc điểm quốc gia dân tộc sẽ trở nên dễ hiểu và có thể lí
giải được khi ta quay về tìm căn nguyên của nó từ quá khứ. Nhất là cách mạng
tư sản chính là mốc mở đầu mà từ đó CNTB ra đời ở từng nước khác nhau.
Nghiên cứu vấn đề cho phép ta trả lời những câu hỏi như: Tại sao Anh lại là
ảnh hưởng với sợ phát triển của CNTB, và tất nhiên cũng chưa chú ý tới việc so
sánh với các cuộc cách mạng khác về tính triệt để và về ảnh hưởng của nó.
Hầu hết các nhà nghiên cứu mới chỉ đi vào tính triệt để trên việc giải quyết
nhiệm vụ dân chủ mà chưa chú ý đến vấn đề dân tộc, một trong những nhiệm vụ,
2
một nguyên nhân bùng nổ cách mạng. Trong việc đánh giá ảnh hưởng, tác động
của vấn đề cũng chưa đặt chân chính thức đến con đường của chúng ta: ảnh hưởng
đối với sự phát triển riêng của từng nước tư bản. Điều đó có nghĩa là: đây là một đề
tài mới, còn khoảng trống cho em hướng ngòi bút của mình tới đó.
3. Đối tượng, phạm vi, nhiệm vụ nghiên cứu.
Đề tài hướng đến đối tượng là: trờn cái nền của những vấn đề lí luận
chung về cách mạng tư sản, đề tài nghiên cứu chủ yếu là tính triệt để của các
cuộc cách mạng tư sản, trong đó có chú ý đặc biệt đến tác động ảnh hưởng của
nó đối với sự phát triển của CNTB.
Do giới hạn về số lượng nên đề tài chỉ xin đề cập chủ yếu đến tính triệt
để. Những vấn đề lí luận chung về cách mạng tư sản em chỉ đi vào những nét sơ
lược nhất để làm nền cho việc nghiên cứu tính triệt để của cách mạng tư sản.
Tuy nhiên, trong việc nghiờn cứu tính triệt để, em cũng không đi sâu tất cả mà
chỉ tập trung vào những nội dung có tác động trực tiếp đến sự phát triển của
CNTB, đến đặc trưng cụ thể của các nước khác nhau. Trên cơ sở phương hướng
chung ấy, em cũng chỉ có thể tập trung vào một số cuộc cách mạng tư sản tiêu
biểu như: cách mạng Pháp, chiến tranh giành độc lập của 13 thuộc địa Anh ở
Bắc Mỹ, thống nhất Đức. Cũn cỏc cuộc nội chiến Mỹ, Minh Trị duy tân, cải
cách nông nô ở Nga cũng chỉ được bàn ở một mức độ nào đó.
Trên cơ sở đó, em tự xác định cho đề tài những nhiệm vụ sau đây:
1. Thể hiện được những hiểu biết cơ bản nhất về cách mạng tư sản, đảm
bảo thuận lợi cho việc nghiên cứu tính triệt để của nó.
2. Trình bày được những những vấn đề chung về tính triệt để hay không
triệt để của cách mạng tư sản về: nguyên nhân, biểu hiện, đặc biệt là tác động.
3. Thấy được ảnh hưởng của việc giải quyết triệt để hay không của các cuộc
chung của tất cả các cuộc cách mạng ấy đều nhằm lật đổ chế độ phong kiến, tạo
điều kiện cho CNTB phát triển.
Vì định nghĩa hẹp còn loại ra ngoài nhiều trường hợp ngoại lệ nên chúng
ta cần có một định nghĩa theo nghĩa rộng. Cách mạng tư sản là một sự kiện
nhằm gạt bỏ những cản trở trên con đường phát triển của CNTB. Cách định
nghĩa này cho phép ta có thể xá định được đâu là cuộc cách mạng tư sản mà còn
xem xét được mức độ triệt để của nó.
Vấn đề là: theo định nghĩa rộng này thỡ cỏc phong trào trước cách mạng
tư sản Netherland như: Phong trào Văn hoá Phục hưng, phong trào Cải cách Tụn
giáo, Chiến tranh nông dân ở Đức có được coi là các cuộc cách mạng tư sản hay
4
không? Vỡ cỏc phong trào ấy tuy không thành công trong việc lật đổ chế độ
phong kiến, lập chính quyền tư bản hay xác lập được quan hệ sản xuất tư bản
chủ nghĩa nhưng chúng đều đặt ra mục tiêu tấn công vào chế độ phong kiến, xoá
bỏ những cơ sở tồn tại của nó mà đầu tiên là hệ tư tưởng, văn hoỏ,… Những
người lãnh đạo hay khởi xướng phong trào tuy không phải là giai cấp tư sản
thực sự nhưng đều đại diện cho quyền lợi, tư tưởng của giai cấp tư sản. Vậy thì
phải chăng chúng chỉ có thể được coi là các phong trào tiền cách mạng, những
cuộc đấu tranh giai cấp? Nếu không thì nhất định phải cú lớ do nào đó lí giải cho
điều này. Phải chăng vỡ cỏc phong trào đấu tranh chưa giành được thắng lợi
hiện hữu nên chưa được coi là cách mạng tư sản (vì chỉ là cách mạng khi nó đó
làm thay đổi chế độ chính trị, xã hội). Mặc dù ở những mặt nào đó, các phong
trào này đã thắng lợi: lập được tôn giáo riêng đại diện cho tư tưởng của giai cấp
tư sản, đập tan nhiều thuyết lí cố hữu của nhà thờ, giáo hội phong trào văn hoá
phục hưng… Nhưng cuối cùng thì hệ tư tưởng phong kiến vẫn cũn đó và đàn áp
tư tưởng tư sản; tôn giáo trong sạch của tư sản thì rút cuộc cũng chỉ dựa theo tôn
giáo của phong kiến mà thôi (Đạo Tin Lành phát triển trên cơ sở giỏo lớ, giáo
luật của Thiên chúa giáo). Mục tiêu của một cuộc cách mạng là vấn đề chính
quyền thỡ cỏc cuộc đấu tranh này đầu chưa thực hiện được nên chưa thể coi là
các cuộc cách mạng tư sản.
đặt ra cấp thiết, đặc biệt là giữa thế kỉ XIX. Nhu cầu ấy biến thành một cuộc
cách mạng do Bismark chỉ đạo đến thắng lợi. Nước Pháp thời Luois XIV được
coi là đỉnh cao, chuẩn mực của chế độ phong kiến châu Âu, nhưng ngay cả khi
ấy, “nước Pháp hình thành không phải do nhu cầu phát triển của lịch sử mà là do
truyền thống” - truyền thống trung thành với vua. Bởi nước Pháp không có ngôn
ngữ chung mà tồn tại nhiều thổ ngữ, không có hệ thống chính trị, giáo dục
chung mà chỉ có vua chung nắm quân đội và luật pháp. Vua chỉ tượng trưng cho
tất cả những gì được gọi là “Phỏp”. Cũn cuộc cách mạng tư sản Mĩ I (1775 –
1783], ngoài nhiệm vụ giành độc lập còn phải thống nhất 13 bang thuộc địa
thành một quốc gia thống nhất, lớn mạnh thì mới tiện cho phát triển CNTB và
bảo vệ được nền độc lập giành được từ.
Với nước thuộc địa hay bị thống trị của phong kiến nước ngoài thì nhiệm
vụ trước tiên là phải giải phóng đất nước, giành độc lập dân tộc. Đó là trường
hợp của Netherland, cuộc chiến tranh giành độc lập của 13 bang thuộc địa của
Anh ở Bắc Mĩ (1775 – 1783), cuộc cách mạng Tân Hợi 1911 ở Trung Quốc, cải
cách Minh Trị ở Nhật (1868 – 1873). Việc xoá bỏ ách trống trị thực dân của
6
phong kiến bên ngoài cũng chính là gạt bỏ cản trở vô cùng lớn bên ngoài với sự
phát triển của CNTB trong nước. Đó đồng thời cũng chính là lật đổ thế lực kinh
tế phong kiến được chính quyền thuộc địa bảo hộ. Ở các nước thuộc địa này,
thường đồng thời phải kết hợp cùng một lúc hai nhiệm vụ dận tộc: giành độc lập
và cả thống nhất thị trường quốc gia dân tộc. Bởi vì để tiện cho việc cai trị thuộc
địa, các nước đế quốc phong kiến thường áp dụng chính sách chia để trị: chia cắt
các địa phương không chỉ về chính trị mà còn cả về kinh tế. Mà bản thân thị
trường phong kiến vốn đã có tính chất phân tán, không thống nhất nên rất khó
khăn cho phát triển kinh tế TBCN.
Thứ hai là nhiệm vụ dân chủ. Đây là nhiệm vụ trước tiên cần đạt tới của
mọi cuộc cách mạng tư sản, thể hiện bản chất của nó phân biệt với các cuộc cách
mạng xã hội khác. Nhiệm vụ này còn được thể hiện trong tên gọi: “cách mạng tư
sản”, tức là phải phục vụ quyền lợi của giai cấp tư sản. Nói đến quyền lợi giai
trong lịch sử. Nhưng chúng ta cũng cần phải hiểu: tính cách mạng đó chỉ có ý
nghĩa ấy khi đặt nó vào trong bối cảnh lịch sử ấy: như ánh mặt trời là trước đêm
trường trung cổ của chế độ phong kiến. Ánh sáng của nền dân chủ đó sẽ bị lu
mờ, mất tính tiến bộ khi đứng cạnh nền dân chủ XHCN trong xu thế phát triển
đi lên của lịch sử.
1.2. Giai cấp lãnh đạo trong cách mạng tư sản.
Phục vụ cho quyền lợi của tư sản nên trong cách mạng tư sản thì chuẩn
mực phải do giai cấp tư sản lãnh đạo. Điển hình là cách mạng Pháp: hoàn toàn
do tư sản lãnh đạo, qua nhiều giai đoạn là do các bộ phận khác nhau của tư sản
thay nhau lãnh đạo. Sự phõn hoỏ của giai cấp tư sản ở Pháp chứng tỏ sự trưởng
thành của nó. Đây là nguyên nhân khiến cuộc cách mạng này là điển hình và
triệt để nhất. Giai cấp tư sản đại diện cho phương thức sản xuất mới nờn nó tiến
bộ và đại diện cho xu thế phát triển đi lên của lịch sử nhân loại.
Nhưng cũng có những cuộc cách mạng tư sản không phải do giai cấp tư
sản lãnh đạo hoặc tư sản phải liên minh với một giai cấp, tầng lớp khác, cụ thể là
tầng lớp quý tộc tư sản hoá. Ví như ở nước Anh, tư sản không đủ mạnh nên phải
liên minh với tầng lớp quý tộc mới là những quý tộc phong kiến kinh doanh tư
bản trong lĩnh vực nông nghiệp. Trường hợp tương tự là nước Đức, tầng lớp quý
tộc quý tộc Iuncơ lãnh đạo sự nghiệp thống nhất đất nước theo con đường “từ
trên xuống”. Điển hình nhất là Nga, cải cách chế độ nông nô, mở đường cho
CNTB phát triển lại do nhà vua và quý tộc phong kiến tiến hành khi nhận thức
được xu hướng mới của thời đại là không thể đảo ngược: tư sản hoá toàn châu
8
Âu và thế giới. Những trường hợp đó do hoàn cảnh lịch sử cụ thể của từng nước
quy định, mà chủ yếu là do CNTB chưa phát triển lắm.
1.3. Động lực và xu thế phát triển của cách mạng tư sản.
Cách mạng tư sản có khả năng lôi kéo mọi tầng lớp nhân dân tham gia
như: nông dân, công nhân, tiểu tư sản, binh lớnh,… Bởi vì mục tiêu, nhiệm vụ
của cuộc cách mạng này nhằm tiêu diệt chế độ phong kiến vốn đã trở thành kẻ
thù của mọi tầng lớp nhân dân (chỳng đã tỏ ra quá phản động). Tuy nhiên sự
của cách mạng tư sản nờn nó tất yếu phải nổ ra. Mặt khác cách mạng tư sản
(CMTS) tất yếu phải diễn ra để khẳng định quan hệ sản xuất TBCN đã được xác
lập (nhiệm vụ dân chủ: công nhận pháp lí chế độ tư hữu, chế độ lao động làm
thuê, quan hệ phân phối TBCN) nhằm tạo nên sự vững chắc của phương thức
sản xuất TBCN. LLSX, QHSX TBCN ngày càng mâu thuẫn gay gắt với chế độ
phong kiến đang tạo ra những lực cản, kìm hãm đối với cái mới của lịch sử. Mâu
thuẫn ngày càng sâu sắc đến mức không thể điều hoà được. Đây là nguyên nhân
phải có một cuộc CMTS để giải quyết, xoá bỏ cái cũ lạc hậu, mở đường cho cái
mới tiến bộ.
Tiền đề xã hội. Giai cấp tư sản là đại diện cho PTSX mới đã ra đời và
trưởng thành ngày càng mâu thuẫn gay gắt với chế độ phong kiến, muốn đứng
lên lật đổ nó. Tư sản kinh doanh và trở nên vô cùng giàu có nhưng họ không có
quyền chính trị, đó là không kể đến việc phong kiến đã gây ra nhiều trở lực đối
với sự phát triển của kinh tế TBCN. Chính vì vậy tư sản muốn lật đổ chế độ
phong kiến, lập nền chuyên chính tư sản. Tư sản lớn mạnh về thế lực kinh tế, có
số lượng đông, đoàn kết, đặc biệt là có hệ tư tưởng riờng, cú những lí luận cách
mạng cần thiết chuẩn bị cho việc nắm chính quyền cách mạng trong tương lai.
Do đặc điểm của từng nước nên có thể còn phải xét đến các tầng lớp khác
như: quý tộc mới ở Anh, chủ nô miền nam ở Mỹ, quý tộc Iuncơ ở Đức…đó
chuyển hướng kinh doanh theo lối TBCN.
Tiền đề tư tưởng. Giai cấp tư sản ra đời đồng thời phải có hệ tư tưởng dân
chủ tư sản. Thực tế hệ tư tưởng tư sản đó cú nền tảng từ phong trào Văn hoá
phục hưng. Đến thế kỉ Ánh sáng (thế kỉ XVIII), với trào lưu triết học Ánh sáng
(thế kỉ XVII – XVIII) đã như ánh đèn pha soi sáng cho con đường tiến lên của
tư sản, cổ vũ cho mọi tầng lớp quần chúng tham gia đấu tranh chống phong kiến
vì một tương lai tươi sáng, bình đẳng, dân chủ, hạnh phúc. Ở những cuộc CMTS
đầu tiên chưa có hệ tư tưởng tư sản soi đường (như cách mạng Netherland,
10
CMTS Anh), giai cấp tư sản đã sử dụng tôn giáo cảo cách: đạo Tin Lành, Thanh
giáo để lôi kéo các tầng lớp nhõn khỏc tham gia.
lộn đầy khó khăn, quyết liệt vì có tính sống còn, đúng như từ dùng của Lenine:
“những cơn đau đẻ kéo dài”.
Tiến trình của các cuộc CMTS thời cận đại có thể chia thành bốn giai
đoạn sau:
1. Những cuộc CMTS đầu tiờn(thế kỉ XVI – XVIII). Thời kì này có: cách
mạng Netherland (1566 – 1648), CMTS Anh (1640 – 1689), cuộc chiến tranh
giành độc lập của mười ba thuộc địa cua Anh ở Bắc Mỹ (1775 – 1783), đỉnh cao
là cách mạng Pháp (1789 – 1799). Đó là những cuộc cách mạng điển hình, đặc
biệt là điển hình về việc sử dụng bạo lực cách mạng, về thành quả cách mạng triệt
để và bất hủ. Bởi vì đây là những cuộc cách mạng đầu tiên gặp rất nhiều khó khăn
khi mà chế độ phong kiến còn mạnh nên tư sản phải thể hiện rõ ưu thế nổi trội của
mình, phải có những nhượng bộ nhất định thoả mãn nhu cầu của quần chúng để
lôi kéo họ theo sự nghiệp của mình đến thắng lợi. Thời kì này có những tuyên
ngôn, hiến pháp bất hủ, chế độ chính trị mẫu cho các cuộc CMTS sau đó. Đó là
hai bản Tuyên ngôn của Mỹ và Pháp, Hiến pháp Mỹ, chế độ quân chủ lập hiến,
thể chế tam quyền phân lập theo kiểu cộng hoà tổng thống của Mỹ…
2. Nửa đầu thế kỉ XIX: thời kì giằng co quyết định sự sống còn cua hai
chế độ xã hội: tư bản và phong kiến. Thời kì này, có khi CMTS đã thất bại ở
nhiều nơi, nhưng rồi lại cú lỳc thắng lợi (đỉnh cao là cao trào cách mạng 1848 –
1849 lan rộng cả châu Âu). Sở dĩ cuộc giằng co lại quyết liệt, khó khăn như vậy
vì thời kì này phong kiến toàn châu Âu đã thống nhất với nhau trong việc tiêu
diệt cách mạng tư sản đang lan ra như những tử thần đáng sợ đối với chúng. Một
trật tự thế giới đã được lập nên: Trật tự Viên, và có cả những định chế đặt ra
(“Liờn minh thần thỏnh” hay còn gọi là “ Liên minh Tam hoàng”). Tấy cả chỉ để
nhằm chống lại các cuộc CMTS. Cụ thể, liên minh này đã cho quân đội đến đàn
áp cách mạng ở mọi nơi khắp châu Âu.
3. Trong những năm 1850s đến 1870s: CMTS hoàn thành rên toàn thế
giới dưới nhiều hình thức. Hình thức nội chiến như ở Mỹ (1861 – 1865), đấu
tranh thống nhất đất nước như ở Đức và Italia, cải cách như: cải cách nông nô ở
Nga, cải cách Minh Trị của Nhật. Đặc điểm khác biệt của thời kì này là: Tất cả
được quyền bình đẳng như nó vẫn thường nói nhưng ở đó con người đã có nhiều
quyền dân chủ: quyền tư hữu, quyền tự do ngôn luận,…
CNTB thực sự là một bước tiến vượt bậc của lịch sử. Ở đó mọi khoảng
cách biên giới đều như thu hẹp lại, con người giao lưu rộng rãi với nhau với tư
cách như là một sinh vật sống trên trái đất có trình độ phát triển cao nhất. Đó là
13
sự hiểu nhau, đoàn kết, giao lưu phát triển biến cả thế giới giống như một chỉnh
thể với xu thế toàn cầu hoá tiến bộ hiện nay. Dưới chế độ TBCN, mặc dù việc
Phát kiến địa lí hay xâm lược thực dân nhưng đều có ý nghĩa ở mặt văn hoá: sự
giao lưu giữa các nền văn hoá với nhau để phát triển.
CMTS đã để lại cho lịch sử nhân loại những tư tưởng, triết lí, những nhà
triết học vĩ đại như Mụngteskiơ, Vonte, Rutxo… Đồng thời là những hiến pháp,
tuyên ngôn có giá trị bất hủ: “Tuyờn ngụn độc lập” của nước Mỹ, “Tuyờn ngụn
nhân quyền và dân quyền”, Hiến pháp Mỹ tồn tại suốt hơn 300 năm… Cũng từ
CMTS đã để lại hình thức tổ chức chính quyền theo nguyên tắc “Tam quyền phân
lập” mà đến nay tiếp tục được nhiều nước hiện đại vận dụng hoặc học tập theo.
CMTS còn để lại nhiều bài học kinh nghiệm cách mạng, bạo lực, xây
dựng chính quyền… cho giai cấp vô sản vận dụng cho cuộc đấu tranh của mình
đưa xã hội tiến lên.
14
Chương 2
TÍNH TRIỆT ĐỂ - KHÔNG TRIỆT ĐỂ CỦA CÁC CUỘC
CÁCH MẠNG TƯ SẢN
1. Lí luận về tính triệt để, không triệt để của cách mạng tư sản.
Cách mạng là sự kiện làm chuyển biến xó hụi sâu sắc, toàn diện. Sự
chuyển biến ấy có thể làm thay đổi toàn diện sang một cái mới hoàn toàn nhưng
cũng có thể còn để lại nhiều tàn dư của cái cũ. Người ta gọi đó là tính triệt để
của cách mạng. Cách mạng tư sản cũng thuộc phạm trù đú nờn cũng có tính triệt
để không triệt để.
Có nhiều ý kiến khác nhau về tiêu chí xác định tính triệt để của một cuộc
LLSX TBCN nước Anh chưa cao nên tư sản còn yếu thế, phải liờn minh với quý
tộc mới. Đó là lí do khiến cách mạng Anh có nhiều điểm chưa triệt để. Cũn Pháp
là điển hình về tính triệt để so với các cuộc cách mạng tư sản khác. Vì giai cấp
tư sản nước này đã trưởng thành mọi mặt, về thế lực kinh tế, xã hội, chính trị, và
tư tưởng.
2. Do giai cấp lãnh đạo cách mạng tiến bộ đến mức độ nào, thái độ cách
mạng của họ, thái độ và khả năng lôi kéo đối với quần chúng nhân dân.
3. Mức độ tham gia của quần chúng nhân dân trong cách mạng quyết định
mức độ triệt để của cách mạng theo tỉ lệ thuận. Cách mạng Đức, Nhật, Nga hầu
như vắng bóng vai trò của quần chúng nhân dân nên những thành tựu mà nó đạt
được trên lĩnh vực dân chủ vô cùng hạn chế. Cũng vì vậy, các nước đó đều là
những đế quốc quân phiệt hiếu chiến. Còn Anh, giai đoạn đầu cách mạng đã đạt
được nhiều bước tiến. Nhưng cuộc chính biến 1689 mà tư sản gọi đó là cuộc
“cỏch mạng vinh quang” không có tham gia của nhân dân nờn nó lại vận động
quay trở lại gần với trước cách mạng: lại là chế độ quân chủ, dù chỉ là quân chủ
lập hiến. Cách mạng Anh vận động theo hình con lắc đơn vì mức độ tham gia
của quần chúng ngày càng giảm.
4. Do những yếu tố khách quan: các thế lực bên ngoài, hay chế độ phong
kiến trong nước mạnh hay yếu. Trong các nhân tố bên ngoài có cả trợ lực và có
cả cản lực. Trợ lực là sự giúp đỡ của các nước khác, như sự giúp đỡ của Pháp và
đồng minh châu Âu giúp Mỹ giành độc lập. Có thể là do hoàn cảnh địa lí của đất
nước: Anh là một quốc đảo nên khó có sự can thiệp vào cách mạng từ bên ngoài.
Đó có thể là do bối cảnh của xu thế thời đại. Nga làm cách mạng khi CMTS,
CNTB đã trở thành xu thế của thời đại. Nhưng cũng bối cảnh lịch sử chung ấy
16
đã gây khó khăn cho Pháp khi cả châu Âu chống lại CMTS. Cản lực là ở đó: sự
can thiệp của các thế lục chống đối cách mạng, hoặc với các cuộc cách mạng mở
đầu sẽ gặp nhiều khó khăn vì bị nằm trong vòng vây của phong kiến.
3. Tính triệt để, không triệt để của cách mạng tư sản - những tác
động, ảnh hưởng đối với sự phát triển của chủ nghĩa tư bản.
mạng này. Bởi vì có làm được như vậy thì cuộc đấu tranh mới thắng lợi được,
và khi đó mới được gọi là cách mạng. Sau cách mạng các nước này, hoặc giành
được độc lập, hoặc bảo vệ thành công được nền độc lập dân tộc. Điển hình là
cách mạng Pháp (1789 – 1799) và Mỹ lần thứ nhất (1775 – 1783).
Cuộc chiến tranh giành độc lập của 13 bang thuộc địa Anh ở Bắc Mỹ là
điển hình trong việc giải quyết nhiệm vụ giải phóng dân tộc. Mười ba bang
thuộc địa này của Anh chịu chính sách cai trị của phong kiến và cả tư bản Anh.
Vì sợ thuộc địa phát triển sẽ cạnh tranh với kinh tế với chính quốc nên Anh đã
thực hiện ở đây những chính sách chèn ép ngăn trở. Điển hình là các chính sách
thuế khoỏ vụ lớ: đánh thuế nặng vào hàng thuộc địa xuất khẩu sang chính quốc
(thuế tem, thuế chố…). Trong khi đó, ở Bắc Mỹ, PTSX TBCN đã được du nhập
và phát triển rất mạnh nên họ càng bất bình với sự thống trị của Anh. Thế lực
mạnh mẽ của tư sản đã nổi dậy đấu tranh giành độc lập cũng chính là mở đường
cho CNTB phát triển. Tư sản và chủ nô Bắc Mỹ đã tập hợp được đông đảo các
tầng lớp nhân dân cùng đấu tranh vì mục đích dân tộc thông qua Đại hội lục địa
có tư cách như là Quốc hội mới. Sau quá trình đấu tranh bạo lực quyết liệt, thậm
chí chiến tranh đã diễn ra, với hai chiến thắng ở Xaratogard và Yorktown, Anh
buộc phải công nhận nền độc lập của 13 bang này. Kết quả cách mạng được
khẳng định trên pháp lí rõ ràng với Hiệp ước Vecxai (3/9/1783). Anh không chỉ
công nhận độc lập mà còn giao cho 13 bang này cả miền Tây Missisipi rộng lớn.
Do đó trong một thời gian dài sau đó, nước Mỹ dù rất phát triển (thời đế quốc
chủ nghĩa), vẫn thu mình trong chủ nghĩa biệt lập. Đó là “chủ nghĩa biệt lập”
theo kiểu Mỹ vì thực tế trong khi Mỹ không bành trướng ra bên ngoài vẫn liên
tục bành trướng lãnh thổ của mình sang miền Tây rộng lớn. Cho đến khi lãnh
thổ chạm bờ bên kia của Thái Bình Dương, tư bản Mỹ mới hướng ra thế giới.
Nước Pháp thời kì cách mạng vĩ đại đã bị các nước phong kiến chõu Âu
cùng nước Anh liên minh hòng can thiệp tiêu diệt nước tư bản non trẻ. Trong suốt
thời cận đại, để chống lại cách mạng Phỏp, cỏc thế lực phản động ở châu Âu đã
thành lập 7 liên minh chống Pháp. Thời cách mạng 1789, châu Âu đã hai lần lập
18
Chính nhờ cách mạng đã bảo vệ được nên độc lập của nước Pháp nên
cách mạng nước này mới có thể thắng lợi được. Bởi vì nếu các nước châu Âu
19
chiếm được Pháp sẽ tiêu diệt cách mạng - mục đích đầu tiên của họ. Nếu như
vậy cách mạng sẽ vô cùng khó khăn, thậm chí không thể xác lập được chế độ tư
bản. Điều đó cũng sẽ ảnh hưởng lớn đến châu Âu cách mạng khi đó, bởi thực tế
cách mạng Phỏp đó ảnh hưởng cũng như cổ vũ rất lớn đối với các cuộc CMTS
khỏc. Cũn với Nhật Bản, Minh Trị cải cách thắng lợi không chỉ đưa QHSX
TBCN phát triển ở Nhật, mà một nước Nhật mạnh lên sau cải cách đã buộc các
nước đế quốc phải xoá bỏ các hiệp ước bất bình đẳng. Nhờ đó Nhật đã phát triển
thành một đế quốc lớn trên thế giới, thậm chí còn xâm lược các nước khác. Điều
này chỉ có được khi Nhật giành được độc lập, nếu không cũng lại rơi vào thận
phận như các nước Á, Phi, Mỹ latin khác. Có thể núi chớnh cuộc CMTS này đã
làm đổi đời tên Nhật quý tộc võ bị cầm tù: đưa Nhật vượt lên khỏi thân phận các
nước đồng cảnh (một bước tiến vượt bậc). Sự kiện này có ý nghĩa lớn đối với
lịch sử của một quốc gia trong cả tiến trình phát triển của nó.
Cách mạng Tân Hợi không giải phóng được dân tộc. Đất nước này cũng
phải mất một thời gian dài 4 thập kỉ sau đó, lẽ ra có thể phát triển đất nước lên
hùng mạnh, nhưng lại phải tiếp tục đấu tranh giải phóng, thậm chí phải đấu tranh
quyết định quyền lãnh đạo cách mạng. Vì vậy phải đến năm 1945, Trung quốc
cơ bản mới được độc lập theo quyết định của hội nghị Yalta. Và cũng phải đến
10/1949, cách mạng thành công Trung Quốc mới chính thức bước vào xây dựng
đất nước mà không phải là năm 1911 như nó đó có thể. Cuộc cách mạng này
không triệt để đã kéo lùi sự phát triển của đất nước này nhiều thập kỉ, mà cũng
quy định con đường mà nó lựa chọn: từ xã hội thuộc địa quá độ gián tiếp lên
CNXH chứ không phải là hình thức quá độ trực tiếp.
3.1.2. Nhiệm vụ thống nhất thị trường dân tộc.
Thống nhất thị trường dân tộc cũng là nhiệm vụ của mọi cuộc CMTS.
Như những phân tích ở phần nhiệm vụ cách mạng ta thấy: hoàn cảnh lịch sử đặt
nhiệm vụ cho tư sản là phải xoá bỏ tình trạng chia rẽ, cát cứ cản trở sự phát triển
cửu của liên minh). Theo đó, Hợp chúng quốc châu Mỹ (USA) chỉ là một quốc
gia liên bang của nhiều quốc gia chứ không phải là một quốc gia nhất thể. Có
nghĩa là: nước Mỹ chỉ là tập hợp các quốc gia có cùng ý chí, nguyện vọng với
nhau (muốn độc lập trước Anh và muốn phát triển CNTB). Mười ba bang thuộc
địa cũ vẫn còn nguyên tính tự trị mà chính sách chia để trị của Anh tạo Thái Lan.
Chúng như những quốc gia có chủ quyền trong một chính phủ chung. Chính
quyền quốc gia USA thời đó có thể hiểu giống như quốc gia liên bang châu Âu
(EU) hiện nay, hay khối Liên hiệp Anh với những nước thuộc địa cũ ở Á, Phi,…
21
Đã vậy, thiết chế chung của sự thống nhất quốc gia lại không rõ. Đã chưa
có Hiến pháp, mà chính quyền này quyền lực rất hạn chế, chỉ có quyền: tuyên
chiến, kớ cỏc hoà ước, cử tổng tư lệnh lục quân và hải quân. Chính quyền Liên
bang không được thông qua ngân sách các bang. Quyền các bang rất lớn: quyền
quy định thuế và thu thuế, thông qua, phê duyệt và sử dụng ngân sách các bang.
Thậm chí các bang còn có quyền tổ chức quân đội và hạm đội riêng. Theo lí
luận macxớt, kinh tế quyết định đối với các yếu tố khác. Do đó, các bang vẫn
nắm quyền đặt thuế, thu thuế sử dụng ngân sách là hoàn toàn có quyền tự chủ.
Thậm chí từng bang cũn cú quõn đội riờng thỡ chính quyền liên bang chỉ là cái
vỏ bề ngoài, không hơn.
Vẫn còn hạn chế ấy do mâu thuẫn về quyền lợi và sức mạnh của các bang
là khác nhau. Mâu thuẫn không thể dung hoà được để thống nhất ý chí trong một
chính quyền thực sự có hiệu lực.
Đến năm 1787, sau cách mạng, Mỹ đó cú bản Hiến pháp 1787 - bản hiến
pháp bất hủ. Đây là một bước tiến lớn trong việc thống nhất thị trường dân tộc ở
Mỹ: Nó đó đưa nước Mỹ từ một “Liờn bang nhiều quốc gia thành một quốc gia
gồm nhiều bang”. Đó là một sự thay đổi về chất làm cho quốc gia này thực sự là
một chỉnh thể thống nhất mặc dù vẫn được tổ chức dưới hình thức nhà nước
Liên bang. Tuy nhiên khi đú nó vẫn còn hạn chế vì chính quyền trung ương
chưa thực sự đủ mạnh để buộc các địa phương phải theo một cái khung chung:
quyền tự trị của các bang còn khá rộng rãi trong các vấn đề địa phương.
lịch sử" nờn cỏc tỉnh vẫn duy trì tính chất riêng biệt về thuế khoá, đo lường, luật
lệ, giá cả…[8, 61] Tháng 5 và 6 năm 1790, chính phủ Lập hiến tổ chức chính
phủ theo quy chế mới: chia cả nước làm 83 quận có diện tích gần bằng nhau
(chứ không phải các công quốc) với cơ cấu tổ chức thống nhất, xoá bỏ thuế quan
nội địa, … Việc làm này có ý nghĩa lớn, nó “gúp phần vào việc hình thành dân
tộc Phỏp” [8 , 78]
Nước Đức trước cách mạng có tới hơn 265 công quốc. Trật tự Viờn đó tạo
nên liên bang Đức với 32 tiểu vương quốc và 4 thành phố tự do. Tuy nhiên cơ
quan tối cao của Liên bang: Hội nghị Liên bang không có quyền lực thực tế và
mối liên hệ chặt chẽ, không có quyền lập pháp, hành pháp, ngoại giao, quân đội
tài chính chung… Nói chung, Đức vẫn chỉ là một danh từ địa lí không hơn.
Cuộc cách mạng từ trên xuống qua con đường gây chiến tranh đã thống nhất
được thị trường dân tộc.
23
Giải quyết triệt để nhiệm vụ thống nhất thị trường dân tộc đó cú tỏc dựng
lớn đến sự phát triển của kinh tế nói riêng và của TBCN nói chung. Nhờ đó mà
đó giỳp kinh tế tư bản chủ nghĩa phát triển vượt bậc chuẩn bị cơ sở vật chất cần
thiết cho cách mạng công nghiệp, cho việc tiến lên giai đoạn đế quốc chủ nghĩa:
thời kì tập quyền của CNTB. Mặt khác, nó góp phần hình thành nên dân tộc tư
sản ở từng nước - điều không bao giờ có được với sự cát cứ phong kiến.
3.2. Việc giải quyết nhiệm vụ dân chủ.
Nhiệm vụ dân chủ thể hiện bản chất, tính chất của mọi cuộc cách mạng xã
hội. Do vậy, mọi cách mạng đều phải thực hiện, vấn đề chỉ là giải quyết đến
mức độ nào mà thôi. Thực ra mục đích đầu tiên mà cũng là cuối cùng của mọi
cuộc cách mạng xã hội chính là vấn đề dân chủ. Như chúng ta thấy, các cuộc
cách mạng xã hội đều là biểu hiện đỉnh cao của cuộc đấu tranh giai cấp, nó làm
nhiệm vụ tiêu diệt chế độ xã hội cũ của giai cấp cũ lỗi thời để lập nền chuyên
chính của giai cấp tiến bộ. Có nghĩa là mục tiêu đầu tiên và cuối cùng của mọi
cuộc cách mạng là vấn đề chính quyền. Nguyên mục tiêu chính quyền đã thể
hiện vấn đề dân chủ trong đó. Nhưng dân chủ là một vấn đề khó không phải
bị lệ thuộc vào Quốc Hội. Vua chỉ còn như cái bóng mà quyết định của vua chỉ
có hiệu lực khi có chữ kí của Thủ tướng. Tất cả các công việc của đất nước đều
do Quốc hội quyết định, các bộ trưởng không chịu trách nhiệm trước vua mà
trước Thủ tướng và Quốc hội. Nghĩa là quyền lực chuyển từ tay vua vào tay
Quốc hội. Thể chế đó được gọi là nền Quân chủ lập hiến.
Như vậy, sau cách mạng chế độ quân chủ lập hiến được thiết lập ở nước
Anh thay cho chế độ quân chủ chuyên chế của dòng họ Stuart. Chớnh trị nước
Anh là nền quân chủ lập hiến, nhà nước được tổ chức theo chế độ đại nghị. Đại
nghị là thể chế nhà nước mà nghị viện quyền lực tối cao. Do đó chế độ đại nghị
thể hiện tính dân chủ hơn hẳn của chính quyền tư sản. Bởi vì thay vì quyết định
mọi công việc của đất nước là một cá nhân (vua chuyên chế), là cả một tập thể
người đại diện cho nhiều tầng lớp nhân dân. Ta thường hiểu chính quyền nào
càng đại diện cho quyền lợi của số đông người thì càng tiến bộ. Tuy nhiên, nền
chính trị nước Anh không phải thục sự tiến bộ bởi vì trong Quốc hội chỉ có hai
thành phần của quý tộc mới và tư sản lớn. Do vậy chính quyền chỉ là chính
quyền của hai bộ phận này. Chính vì thế chính quyền đó đã không giải quyết
vấn đề ruộng đất cho nông dân, thực hiện ít quyền dân chủ cho nhân dân.
Quốc hội nắm quyền chính và bộ máy nhà nước được phân tán thành ba
quyền cơ bản: lập pháp của Quốc Hội, Hành pháp của Chính phủ và cả tư pháp
25