A. MỞ ĐẦU
I . LÝ do chọn đề tài:
Dân tộc Việt Nam kể từ thời kỳ Hùng Vương dựng nước cho đến bây giờ
đã trải qua nhiều thăng trầm lịch sử. Qua việc học tập, nghiên cứu đã khẳng định
được truyền thống của con người Việt Nam là : không chỉ cần cù, chịu khó, bền
bỉ, mà còn rất yêu nước, có tinh thần chống giặc ngoại xâm, dám hy sinh cả tính
mạng của mình để bảo vệ cho Tổ quốc,…
Trải qua nhiều triều đại với từng giai đoạn lịch sử khác nhau. Dù đã có
nhiều biến động, nhiều thay đổi, hay đó là sự thành công hoặc thất bại, cũng có
thể là sự chuyển biến từ chế độ này sang chế độ khác nhưng dù ở triều đại nào
cũng đã có nhiều cống hiến cho lịch sử để đời sau còn lưu truyền mãi, ghi nhớ,
học tập và phát huy những điều tốt đẹp, có thể ở một nhân vật lịch sử hoặc một
vấn đề nào đó của lịch sử.
Trong lịch sử thời kì trung đại nói riêng và lịch sử của dân tộc nói chung,
chóng ta biết rằng có rất nhiều cuộc cải cách lớn của những nhân tài Việt Nam
đã dám đứng ra cầm quyền, lãnh đạo và tổ chức tiến hành. Tuỳ vào tình hình của
mỗi giai đoạn lịch sử nhưng nói chung mỗi khi đất nước có nhu cầu canh tân để
phát triển thì đồng thời xuất hiện những tư tưởng cải cách lớn. Tiêu biểu của
thời trung đại có cuộc cải cách của Khúc Hạo(907), của Hồ Quý Ly (cuối thế kỷ
XIV- đầu thế kỷ XV), của Lê Thánh Tông( cuối thế kỷ XV), của Quang Trung –
Nguyễn Huệ ( cuối thế kỷ XVIII ), cuộc cải cách hành chính của Minh
Mạng( nửa đầu thế kỷ XIX). Nh vậy, nghiên cứu về đề tài cải cách này chúng ta
sẽ hiểu biết được đầy đủ hơn, sâu sắc hơn về lịch sử Việt Nam thời Trung đại.
Cụ thể, vào cuối thế kỷ XIV khi Triều Trần lâm vào tình trạng khủng
hoảng, thối nát thì Hồ Quý Ly đã xuất hiện và cứu vớt tình thế đó của đất
nước.Ông đã lên ngôi vua và tiến hành cuộc cải cách toàn diện chỉ trong vòng
một thời gian ngắn(1400-1407).Tuy rằng cuộc cải cách đã thất bại nhưng khi
nghiên cứu về Triều Hồ chúng ta phần nào hiểu được nhiều hơn về tình hình xã
hội lúc bấy giờ, hiểu được thân thế của một nhân vật lịch sử tầm cỡ hiếm có
trong sử sách từ cổ chí kim, một nhân cách đặc biệt, một tài năng hơn người.Đó
chính là Hồ Quý Ly, người đã gây dựng nên nhà Hồ - một triều đại có vị trí khá
giả sử học đã dồn hết tâm huyết, lòng đam mê của mình để viết về Hồ Quý Ly.
Tuy vậy, phải đến sau khi cuộc kháng chiến chống Pháp thắng lợi(1954)
thì vấn đề Hồ Quý Ly mới được giới sử học nói chung đề cập đến một cách sâu
sắc, toàn diện. Trên các hiệu sách đã có nhiều cuốn sách được trưng bán như
sách nghiên cứu, sách chuyên khảo…Đặc biệt, đã có nhiều cuộc tranh luận về
2
Hồ Quý Ly trên tạp chí”Nghiên cứu lịch sử” (1961); chuyên san “Nghiên cứu
lịch sử số 6” (1990) về “ cải cách của Hồ Quý Ly”. Đồng thời, cũng đã có một
cuộc hội thảo khoa học về “Hồ Quý Ly và nhà Hồ” do Ban nghiên cứu và biên
soạn lịch sử Thanh Hoá kết hợp với hội khoa học lịch sử Việt Nam tiến hành.
Như vậy, mặc dù có nhiều quan điểm khác nhau khi nghiên cứu về Hồ
Quý Ly song phần nào đã giúp cho những người yêu lịch sử dân tộc, quan tâm
đến Hồ Quý Ly dễ dàng hơn trong việc nghiên cứu, học tập và hiểu biết được
nhiều hơn. Đó là phải kể đến sự đóng góp công sức của các nhà nghiên cứu sử
học, các tạp chí, nhà xuất bản với nội dung sách tương đối toàn diện, đánh giá
khá sâu sắc.
III.Mục đích nghiên cứu đề tài
- Giúp sinh viên hiểu biết rõ hơn về tình hình đất nước cuối thời Trần, về sự
thành lập triều Hồ, đặc biệt là về thân thế của Hồ Quý Ly và cuộc cải cách của
ông (1400 - 1407).
- Qua đó để giáo dục lòng yêu nước, tinh thần dân tộc, đặc biệt là phải biết
kế thừa và phát huy tinh thần truyền thống tốt đẹp của dân tộc ta cho sinh viên.
- Nghiên cứu về đề tài nhằm rèn luyện cho sinh viên tính học tập độc lập,
sáng tạo, tự tìm tòi,tự nghiên cứu. Đồng thời rèn luyện tính bền bỉ, kiên trì của
sinh viên, rèn luyện kỉ năng tra cứu, phân tích và lựa chọn tài liệu.Từ đó viết
thành một bài hoàn chỉnh, có đánh giá và ý kiến của cá nhân.
IV.Phương pháp nghiên cứu đề tài:
- Phương pháp luận sử học
- Phương pháp phân tích tổng hợp, quy nạp và diễn dịch
V.Bố cục tiểu luận:
Nếu xảy ra những cuộc khủng hoảng sâu sắc, toàn diện thì yêu cầu phải
giải quyết bằng cách mạng, tức phải dùng đến bạo lực vũ trang và kết hợp với
đấu tranh trên mặt trận chính trị, mặt trận ngoại giao.
Còn nếu cuộc khủng hoảng bộ phận thì chỉ cần khắc phục bằng cải cách
hoặc đổi mới.
Dù ở hình thức nào, cách mạng, cải cách hay đổi mới thì đều do hành
động của quần chúng nhân dân lao động tiến hành nhằm làm thay đổi xã hội từ
thấp đến cao, từ lạc hậu đến tiến bộ…Cả ba hình thức đó có mối liên hệ biện
chứng với nhau, tuỳ vào điều kiện lịch sử thì có các cuộc cách mạng nhất định
4
phải bùng nổ nhưng cũng có những điều kiện lịch sử mà cải cách đổi mới trở
thành những hình thức để tiến hành canh tân đất nước.
Cải cách và đổi mới là những bước chuẩn bị cần thiết để dẫn đến một
cuộc cách mạng xã hội. Ví dụ cuộc cách mạng Duy tân ( Trung Quốc) vào thế kỉ
19 do khang Hữu Vi, Lê Khải Siêu… tiến hành đã dẫn đến cuộc cách mạng Tân
Hợi năm 1911( Trung Quốc ).
Cải cách, đổi mới là những bước phát triển tiếp theo để thực hiện các
thành quả của một cuộc cách mạng.Ví dụ: cuộc cải cách ruộng đất ở Việt Nam
đã góp phần làm hoàn thành nhiệm vụ dân chủ của cuộc cách mạng tháng 8 -
1945.
Tóm lại, cách mạng sẽ nổ ra khi phương thức sản xuất cũ đã lỗi thời mâu
thuẫn với phương thức sản xuất mới tiến bộ đã đến độ chín muồi, khủng hoảng
xã hội đã diễn ra toàn diện trên mọi lĩnh vực yêu cầu cần phải giải quyết thì
hành động quyết tâm và triệt để của quần chúng nhân dân sẽ dẫn đến bước phát
triển nhảy vọt của xã hội. Đây được gọi là cuộc cách mạng.Thời gian ngắn hay
dài còn tuỳ thuộc vào tình hình chiến trận.Gồm có nhiều cuộc cách mạng: cách
mạng tư sản, cách mạng giải phóng đân tộc, cách mạng xã hội chủ nghĩa…
Còn cải cách khác với cách mạng là không đòi hỏi phải tiến hành một
cách khẩn trương, toàn diện và triệt để nh cách mạng và đặc biệt là loại trừ khả
năng bạo lực vũ trang.
họ Hồ làm chủ miền đất này. Đến đời thứ 12 của họ Hồ là Hồ Liêm đã di cư ra
vùng Đại Lại ( Thanh Hoá ) làm con nuôi của quan Tuyên Uý Lê Huấn nên ông
đã mang họ Lê. Vì thế sử củ còn gọi Hồ Quý Ly là Lê Quý Ly, ông là cháu 4 đời
của Hồ Liêm .
Thuở nhá, Hồ Quý Ly theo học võ nghệ với Sư Tề .Sư tề là một người họ
Nguyễn, có con trai là Nguyễn Đa Phương rất giỏi võ nghệ. Sau cả quá trình học
võ và sống cùng nhau, Hồ Quý Ly và Nguyễn Đa Phương đã kết nghĩa anh em .
Hồ Quý Ly có hai người cô đều là vợ của vua Trần Minh Tông và là mẹ
của ba vua Trần Hiến Tông, Trần Nghệ Tông và Trần Duệ Tông. Nhờ đó ông
được vua Trần Nghệ Tông rất tin yêu. Vào năm 1371, Hồ Quý Ly được vua
Trần Nghệ Tông phong tước Trung tuyên quốc thượng hầu, chức khu mật viện
đại sứ. Năm 1375, ông được Thượng Hoàng Trần Nghệ Tông và vua Trần Duệ
Tông thăng chức tham mưu quân sự . Năm 1379, được Thượng Hoàng Trần
Nghệ Tông và vua Trần Phế Đế thăng chức Tiểu tư không kiêm khu mật viện
đại sứ . Năm 1380, được thăng chức Nguyên Nhung , quản việc Hải Tây Đô
thống chế. Năm 1387, ông giữ chức Đồng bình chương sự ( là thành viên cơ
1
"Toàn thư" - năm 1405: "Quý Ly thấy mình tuổi đã 70 "
Sđd - trang 212 - Tính ra 1405 - 70 + 1 = 1336.
6
quan tối cao của nhà nước ). Năm 1395, được thăng Tước Tuyên Trung vệ quốc
Đại Vương . Năm 1397, ông đã Ðp vua Trần Thuận Tông phải nhường ngôi cho
Trần Thiếu Đế lúc đó mới 3 tuổi . Năm 1399, Hồ Quý Ly cho người giết vua
Trần Thuận Tông, sau đó giết thêm 370 người mà Hồ Quý Ly cho là thuộc phe
đối nghịch với mình, bao gồm các tướng như : Trần Khát Chân ,Trần Nguyên
Hãn ,Trụ quốc Trần Nhật Đôn vv…, rồi tự xưng là Quốc tổ Chương Hoàng .
Năm 1400, ông đã truất ngôi vua Trần Thiếu Đế ( là cháu ngoại của Hồ
Quý Ly ), tự lập làm vua và đặt Quốc hiệu mới là Đại Ngu, lấy niên hiệu là
Thánh Nguyên. Từ đây nhà Hồ được thành lập .
Nh vậy, chóng ta đã biết được gốc tích, thân thế của Hồ Quý Ly, còng nh
Cậy binh gây hấn, tội ác chưa ngot 20 năm”.
Cuộc kháng chiến do nhà hồ lãnh đạo đã bị thất bại , thượng hoàng Hồ
Quý Ly , vua Hồ Hán Thương và một loạt các đại thần của nhà Hồ đã bị nhà
Minh bắt về Trung Quốc làm tù binh . Đến đây, nước ta đã bị nhà Minh đô hộ
trong vòng 20 năm (1407 - 1427). Tuy nhà Hồ chỉ tồn tại được vẻn vẹn chưa đầy
7 năm (1400 - 1407) nhưng lại là triều đại có lắm chuyện đáng lưu tâm. Chóng
ta phải thấy được những thành tựu mà nhà Hồ đã đạt được qua cuộc cải cách của
Hồ Quý Ly về tất cả mọi lĩnh vực của đời sống xã hội .Qua đó để rót ra những
hậu quả , nguyên nhân thất bại và bài học kinh nghiệm quý giá .
III. Tình hình xã hội Việt Nam vào cuối thế kỷ XIV :
Xã hội Đại Việt sau một thời kỳ phát triển phồn vinh từ thế kỷ XI thì
đến nửa sau thế kỷ XIV tức cuối đời Trần đã lâm vào một cuộc khủng hoảng
khá sâu sắc, trì trệ trên tất cả các lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hội .Cụ thể :
1. Sù sa đoạ của tầng líp quý tộc cầm quyền :
Tầng líp quý tộc cầm quyền , họ là những người đứng đầu của
một nước , đáng ra họ phải hoàn thành nhiệm vụ chăm lo cho đời sống nhân
dân, củng cố và xây dựng đất nước ngày càng phát triển .Vậy mà ngược lại ,
trong vương triều Trần , từ Trần Dụ Tông (1341 - 1369) trở đi ngày càng đi vào
con đường suy thoái .Vua quan đua nhau ăn chơi hưởng lạc, không còn chăm lo
đến đời sống nhân dân như trước .
Vua Trần Dụ Tông sai người “đào hồ lớn ở vườn ngự nơi hậu cung ,
trong hồ chất đá làm núi , bên bờ hồ trồng thông , trúc và nhiều thứ cây khác,
thêm vào đấy nào là cỏ lạ , hoa thơm , muông kỳ , chim quý . Bốn mặt khai
thông cho nước sông vào . Lại đào hồ khác, bắt dân chở nước mặn chứa vào hồ
để nuôi cá , các hải sản . Bắt người Hoả Châu chở cá sấu thả vào đấy .Lại làm
dãy hành lang ở Tây Điện thẳng đến cửa Hoàng Phúc … Nay xây cất, mai tu
đạo , không lúc nào ngớt việc” . Nhà vua còn “ buông tuồng vô độ , tính nghiện
8
rượu , thường sai các quan vào uống rượu cùng .Người nào uống được nhiều thì
được ban thưởng . Bùi Khoan đã dùng kế giả vờ uống hết trăm thùng rượu ,
kỷ XIV, do mất mùa đói kém, nông dân đã phải bán vợ đợ con, bán mình làm nô
tỳ cho các quý tộc, địa chủ giàu có. Lợi dụng tình trạng khốn cùng đó của nông
9
dân, bọn chúng đã xâm chiếm hoặc mua rẻ ruộng đất, mở rộng điền trang, tăng
thêm số người làm. Nhiều nhà chùa cũng trở thành chủ đất lớn với rất nhiều điền
nô.
Đời sống của nhân dân càng trở nên đói kém không chỉ vì bị bóc
lột, bị chiến tranh mà còn phải hứng chịu những trận thiên tai hoành hành. Do
nhà nước không còn sức quan tâm đến sản xuất nông nghiệp, sửa đắp và bảo vệ
các công trình thuỷ lợi, đê điều. Cho nên , trong nửa sau thế kỷ XIV đã có 9 lần
đê vỡ, lụt lớn, 11 lần hạn hán. Cụ thể, có những năm vừa lũ lụt vừa hạn hán
như : 1348, 1355, 1393, vv….Hậu quả của tình trạng này, chỉ tính từ đầu thế kỷ
XIV cho đến năm 1379 đã có hơn 10 nạn đói lớn, ngân quỹ trống rỗng, nhà
nước nhiều lần cho nhà giàu nộp tiền, thóc để nhận quan tước nhưng không giải
quyết nổi nạn đói và thiếu thốn. Đời sống điêu đứng của người dân được phản
ánh rất rõ qua mấy câu thơ của tướng quốc triều Trần Trần Nguyên Đán:
Dịch nghĩa: “Năm nay hè hạn, thu nước to,
Mạ thối lúa khô hại biết bao
Đọc sách triệu trang mà bất lực
Bạc đầu xin phụ nổi thương dân .”
Còn trong bức thư của Thái học sinh Nguyễn Phi Khanh gửi cha,viết:
”Ruộng lúa ngàn dặm đỏ nh cháy
Đồng quê than vãn trông vào đâu
…Lưới chài quan lại còn vơ vét
Máu thịt nhân dân cạn nửa rồi.”
Có “áp bức thì có đấu tranh”, “tức nước thì vỡ bờ”, khi cụôc sống của
người dân đã đến mức bần cùng, không còn con đường nào khác là họ phải vùng
dậy đấu tranh. Đây cũng chính là nguyên nhân dẫn đến mâu thuẫn xã hội sâu sắc
và phong trào khởi nghĩa nông dân cuối thế kỷ XIV. Năm 1343, do đại hạn, mất
mùa, dân nghèo đã nổi dậy khắp nơi. Năm 1344, khởi nghĩa của Ngô Bệ nổ ra ở
cục vua Trần Duệ Tông tử trận, Ngự câu Vương Húc đầu hàng. Năm 1378, quân
của Hồ Quý Ly đã đánh bại quân Champa khi chúng đánh ra Nghệ An . Năm
1383, trong quá trình chiến đấu đã bị thua trận, tướng Lê Mật Ôn bị chết, vua
Trần Nghệ Tông phải rời kinh thành lên Đông Ngàn (Bắc Ninh), chỉ còn tướng
Nguyễn Đa Phương ở lại trấn giữ. Riêng trận đánh tháng 10/1389 do Hồ Quý
Ly chỉ huy khi quân Champa đánh ra Thanh Hoá đã bị thua , hơn 70 tướng bị
chết. Nh vậy, cuộc chiến tranh với Champa vừa nói lên sự suy yếu của nhà Trần
vừa gây thêm nhiều khó khăn cho triều đình và nhân dân đương thời. Cuộc
khủng hoảng xã hội càng thêm trầm trọng.
Lợi dông sự suy yếu của nhà Trần, vào năm 1384, quân Minh đã kéo quân
vào đánh Vân Nam, bắt nhà Trần phải cung cấp lương thực cho chóng. Vua
11
Trần buộc phải cho người vận chuyển 5000 thạch lương lên nộp. Năm 1388, nhà
Minh sai sứ sang đòi ta nộp các thứ quả ngon vật lạ và mượn đường đi đánh
Champa bằng cách bắt nhà Trần nộp 50 thít voi. Năm 1395, nhà Minh bắt ta nép
50 con voi, 50 vạn hộc lương . Tất cả những đòi hỏi nhằm thực hiện âm mưu
xâm lược của nhà Minh diễn ra liên tục cho đến đầu thế kỷ XV.Trước tình hình
như vậy, triều Trần đành bất lực, không còn đủ khả năng để tổ chức, lãnh đạo
nhân dân kháng chiến chống lại giặc ngoại xâm. Vì thế, nước ta đã rơi vào tay
nhà Minh, chịu sự đàn áp dã man của bọn cướp nước.
Tóm lại, xã hội Đại Việt cuối thế kỷ XIV đang lâm vào một cuộc khủng
hoảng sâu sắc, chính quyền thì suy yếu, bọn nịnh thần chuyên quyền, dòng họ
thống trị phân tán, sa đoạ, kinh tế nhà nước sa sút nghiêm trọng .Tất cả những
điều đó đã dẫn đến lục đục trong nội bộ như chia thành phe phái, còn nông dân
thì nổi dậy khởi nghĩa khắp nơi. Trong lúc đó lại bị sự chống phá của Champa
và âm mưu xâm lược của giặc ngoại xâm nhà Minh (Trung Quốc). Hậu quả là
đời sống của nhân dân ngày càng khổ cực, còn triêù chính thì rối ren, tài chinh
kiệt quệ. Đây chính là những tiền đề dẫn đến cuộc cải cách cuả Hồ Quý Ly
nhằm cứu vớt tình hình đang bị khủng hoảng.
4.Thiết chế chính trị thời Trần :
Trần Dụ Tông (1341 – 1369) và Trần Nghệ Tông (1370 – 1372) bác bá.
Cuộc đấu tranh giữa hai khuynh hướng tư tưởng và giữa hai thế lực đã
diễn ra lúc âm thầm, lúc quyết liệt liên tục suốt 30 năm (1371 – 1400). Đó là
khuynh hướng bảo thủ quân chủ quý tộc của tầng lớp quý tộc tôn thất nhà Trần
và khuynh hướng dân chủ tập trung quan liêu nho sĩ mà đại diện là Hồ Quý
Ly.Cuối cùng, khuynh hướng dân chủ tập trung quan liêu của lực lượng quan
liêu nho sĩ do Hồ Quý Ly tiến hành đã thực hiện một cuộc cải cách trên tất cả
các mặt của đời sống kinh tế – xã hội. Mặc dù cuộc cải cách đã thành công một
cách hạn chế song nó đã góp phần vào việc giải quyết tình trạng đất nước cuối
triều Trần, thấy được vai trò của Hồ Quý Ly và rót ra nhiều bài học kinh nghiệm
sâu sắc cho những cuộc cải cách sau này.
IV.Cuộc cải cách của Hồ Quý Ly:
Sau khi lên làm vua, Hồ Quý Ly đã tiến hành một cuộc cải cách đất nước
trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội:
1.Cải cách về chính trị, quân sự, và luật pháp:
a) Về chính trị:
Từ năm 1375, Hồ Quý Ly đã đề nghị xoá bỏ chế độ lấy người tôn thất làm
các chức chỉ huy quân sự cao cấp, định lại số quân, đưa lực lượng trẻ vào:”chọn
các quan viên, người nào có tài năng, luyện tập võ nghệ, thông hiểu thao lược thì
13
không cứ là tôn thất, đều cho làm tướng coi quân”.Năm 1378, trong sè 16 chỉ
huy các đạo quân ở trung ương, thì 12 người không phải là tôn thất nhà Trần. Hồ
Quý Ly đã loại bỏ dần tầng lớp quý tộc tôn thất nhà Trần khỏi bộ máy chính
quyền trung ương, thay thế dần bằng tầng lớp nho sĩ trí thức có tư tưởng cải
cách. Đưa Nguyễn Đa Phương làm tướng quân, Phạm Cự Luận làm Đô sự rồi
thăng đến chức Thiêm Thư Khu mật viện sứ, tâu với Thượng Hoàng Nghệ Tông
giết Trần Phế Đế (1388), giết Trang Định vương Ngạc giữ chức Thái uý (1391)
và lần lượt, chỉ trừ các quan lại, tướng lĩnh cao cấp khác là quý tộc tôn thất nhà
Trần: Trần Ngọc Cơ, Trần Ngọc Kiểm, Thượng tướng Trần Khát Chân ….
Năm 1397, Hồ Quý Ly cho đổi trấn Thanh Hoá làm trấn Thanh Đô, trấn
hoặc bằng đá, có sức xuyên phá và khả năng công phá lớn, có hiệu quả sát
thương cao. Ngoài ra còn có các loại pháo nhỏ, súng bắn bằng đạn ghém hoặc
đạn lửa.
Trong quân đội có các đội cung tên, giáo mác, máy bắn đá, một bộ phận
là pháo binh. Quân đội chia làm 12 vệ, mỗi vệ 18 đội mỗi đội 18 người do Đại
tướng quân thống lĩnh. So với các triều đại trước, trang bị của quân đội nhà Hồ
có một bước phát triển. Nhà Hồ còn mở xưởng đóng thuyền đinh sắt để chuẩn bị
đối phó với nhà Minh đang lăm le xâm lược nước ta. Có hai thuyền chiến lớn
gồm hai tầng mang tên hiệu là “ Lâu Thuyền Cổ Tải Lương” và “ Trung Tàu
Tải Lương”. Tầng trên của thuyền có sàn cho quân đội cơ động chiến đấu, tầng
dưới có một hệ thống mái chèo. Súng thần cơ và cổ lâu thuyền là những vũ khí
và chiến thuyền mới, lợi hại của nhà Hồ. Cả nước có 4 kho quân khí.
Hồ Quý Ly chủ trương xây dựng một hệ thống cứ điểm phòng thủ để
chống xâm lược. Những nơi xung yếu tại các cửa biển và các sông đều có đóng
cọc gỗ. Hệ thống phòng thủ kéo dài từ núi Tản Viên men theo sông Đà, sông
Hồng, sông Luộc đến cửa sông Thái Bình dài gần 400km. Nhiều đồn quân chốt
giữ các nơi xung yếu.
c) Về luật pháp :
Chỉ trong vòng bảy năm (1400 – 1407), nhà Hồ đã ban hành nhiều luật lệ
và thực thi nó làm công cụ tích cực cho việc thực hiện cải cách trên tất cả các
kĩnh vực kinh tế, chính trị, xã hội, văn hoá. Nhà Hồ đã có tới 30 lần ban hành
các luật lệ được ghi trong thư tịch cổ. Hoạt động lập pháp được chú ý tăng
cường. Nhà Hồ chủ trương tăng cường pháp trị nhằm khôi phục lại kỉ cương xã
hội bị rối loạn vào cuối thời nhà Trần. Các luật lệ của nhà Hồ còn tập trung vào
mục đích xây dựng và củng cố chế độ quân chủ quan liêu chuyên chế vừa mới
được thiết lập còn thiếu cơ sở kinh tế – xã hội vững chắc, trấn áp tầng lớp quý
tộc tôn thất nhà Trần chống đối, chống lại các cuộc khởi nghĩa của nhân dân.
Luật lệ của nhà nước Hồ vừa có sự kế thừa các quy định pháp luật thời Lý –
15
Trần, vừa có sự phát triển cao hơn về trình độ kĩ thuật, pháp lí thể hiện ở tính cụ
ruộng. Người nào ruộng chỉ có năm sào thì phải đóng năm tiền giấy, từ sáu sào
đến một mẫu thì nộp một quan, từ một mẫu một sào đến một mẫu năm sào thì
nộp một quan năm tiền, từ một mãu sáu sào đến hai mẫu thì nộp hai quan tiền ,
16
từ hai mẫu một sào đến hai mẫu năm sào thì nộp hai quan sáu tiền, từ hai mẫu
sáu trở lên thì thu ba quan tiền giấy.Đinh nam không có ruộng, trẻ con mồ côi,
đàn bà hoá chồng dù có ruộng đều không phải đóng.
3.Cải cách về văn hoá - giáo dục:
Nhà Hồ đã tiến hành sửa đổi nội dung, cách thức trong các kì thi. Năm
1396, xuống chiếu định cách thức thi cử nhân (thi hương ở các lộ ). Bãi bỏ phép
thi viết ám tả cổ văn, dùng thể văn bốn kì. Kì thứ nhất thi một bài kinh nghĩa từ
500 chữ trở lên, có các phần phá đề, tiếp ngữ, tiểu giảng, nguyên đề, đại giảng,
kết luận.Kì thứ hai thi một bài thơ Đường luật, một bài phú cổ thể hoặc thể ly
tao, thể văn tuyển từ 500 chữ trở lên. Kỳ ba thì một bài chiếu dùng thể Hán, một
bài chế, một bài biểu dùng thể tử lục đời Đường.Kỳ thứ tư thi một bài văn sách
lấy kinh sử hay thời vụ ra đề từ 1000 chữ trở lên. Cứ năm trước thi Hương thì
năm sau thi Hội (thi Tiến sĩ ), ai đỗ Tiến sĩ thì được vào dự kỳ thi Đình, làm một
bài văn sách để định cao thấp.
Năm 1397, Hồ Quý Ly chủ trương mở trường học ở các châu, phủ và cử
các quan Giáo thụ trông coi, đôn dốc việc học tập. Nhà nước quy định số lượng
ruộng đất cấp để sử dụng việc học ở các địa phương, gọi là học điền.Tuỳ theo
quy mô từng địa phương mà số ruộng được cấp từ 12 đến 15 mẫu. Năm 1404,
trong các kỳ thi hương có thêm kỳ thi môn toán nên gồm tổng số là 5 kỳ thi.
Nhà nước giao trách nhiệm cho các quan, các lộ, phủ, châu phải tuyển chọn
người giỏi đưa vào triều sát hạch để bổ sung.
Hồ Quý Ly rất đề cao chữ Nôm. Năm 1395, Hồ Quý Ly đã dịch thiên võ
dật ra chữ Nôm để dạy nhà vua. Năm 1396, dịch kinh thi để dạy cho các cung
phi và cung nhân, làm sách thi nghĩa bằng chữ Nôm để dạy cho các hậu phi,
cung nhân. Hồ Quý Ly đã làm sách “Minh đạo”( con đường sáng) để bày tỏ
quan điểm của ông về Nho giáo, hạ thấp vai trò của Khổng tử, phê phán Nho gia
thiếu sót.
Hồ Quý Ly bước vào vương triêù Trần bắt đầu từ chức Võ quan nhá, ra
khỏi vương triêù Trần với cương vị Hoàng đế và tiếp đến là Thượng Hoàng của
vương triều Hồ. Thế nhưng cái tầm cỡ của ông không phải ở chức tước phẩm
hàm, ở ngôi cao tuyệt đỉnh trong bộ máy nhà nước quân chủ trung ương tập
quyền cuối Trần và Hồ mà cái tầm cỡ đó được phản ánh sâu sắc qua các tác
động của ông đến thời thế lúc bấy giờ. Sau khi Trần Nghệ Tông qua đời mình
ông chinh chiến trên chính trường của một thời đầy sóng gió. Nhưng nhờ tài
năng của cá nhân ở vốn tri thức vô tận mà ông đã hoà nhập được vào thế giới
quan lại nơi cung đình đầy rẫy những vương hầu quyền uy. Vua Trẩn Nghệ
Tông đã ban cho ông lá cờ đề bốn chữ “ Văn võ toàn tài” cũng thể hiện rằng Hồ
Quý Ly có năng lực vựơt trội so với người đương thời. Thành công của Hồ Quý
Ly trong quá trình hoạt động là đã thắng quý tộc Trần, đẩy lùi quân Chiêm và
chỉ chịu thất bại trước quân xâm lược nhà Minh. Qua đó, chúng ta có thể khẳng
định rằng Hồ Quý Ly là nhân vật lịch sử tầm cỡ.
18
Trong tình thế nước nhà lâm vào khủng hoảng loạn lạc, bế tắc như vậy.
Hồ Quý Ly đã không lùi bước mà ngược lại ông giám nhìn thẳng vào sự thật,
dấn thân vào can thiệp và quyết tâm cải cách tình trạng hiện tại. Điều này thể
hiện ông vốn có một hoài bão lớn, chí khí hơn người, ông không phải là loại
người chỉ nghĩ đến vinh hoa phó quý, bổng lộc, tiền tài danh vọng. Mà những
việc làm của ông đều xuất phát từ mục tiêu cứu nước. Ông đă dũng cảm đương
đầu với bao khó khăn, trở ngại và bao mạo hiÓm. Để thực hiện các chủ trương,
chính sách đã đặt ra, Hồ Quý Ly đã áp dụng những biện pháp cứng rắn, cương
quyết đến tàn bạo. Qua việc ra tay đối với những ông vua hèn yếu cuối triều
Trần mở đường cho lịch sử tiến lên, chúng ta thấy được chữ “ Trung “ của đạo
Nho mà ông là đệ tử trung thành. Trong cuộc chống giặc ngoại xâm, Hồ Quý Ly
đă thể hiện là một người có lòng trung với nước hết mình. Ông tiêu diệt bất cứ ai
chống lại hoặc mưu toan chống lại mình. Ông không chịu đầu hàng, Hồ Quý Ly
là một người kiên định, nhất quán trong tư duy và hành động, sử dụng những
củng cố và tăng cường chế độ quân chủ tập quyền, giải quyết các mâu thuẫn
kinh tế - xã hội nhằm đáp ứng yêu cầu lịch sử do cuộc khủng hoảng đặt ra.
Qua cuộc cải cách chứng tỏ Hồ Quý Ly đã nhận thức được những nguyên
nhân sâu xa của cuộc khủng hoảng cuối Trần và mạnh dạn tiến hành các chính
sách và biện pháp cải cách. Ông đã đảm nhận vai trò người khởi xướng, tổ chức
và lãnh đạo công cuộc cải cách để thực hiện mục tiêu, định hướng đã đề ra. Có
thể khẳng định Hồ Quý Ly đã đóng vai trò là người mở đầu một thời điểm cải
cách quan trọng trong lịch sử Trung đại Việt Nam.
Cuộc cải cách đã loại bỏ được tầng lớp quý tộc Trần ra khỏi bộ máy nhà
nước, ngày càng bổ sung được một đội ngũ quan liêu - nho sĩ mới vào chính
quyền, bộ máy hành chính và quan lại từ trung ương đến dịa phương được chấn
chỉnh lại làm cho chế độ cai trị mang tính pháp trị cao hơn. Do đó đã có tác
dụng làm chuyển dần thiết chế chính trị từ chế độ quân chủ quý téc sang chế độ
quân chủ quan liêu. Tuy chưa xây dựng được một thiết chế quân chủ quan liêu
hoàn chỉnh dưới Triều Hồ, do hoàn cảnh khách quan cuộc xâm lược của nhà
Minh (cuối 1406 - đầu 1407) đã làm cho công cuộc cải cách bị bỏ dở, song nó sẽ
dược hoàn chỉnh dưới triều vua Lê Thánh Tông (1460 -1497). Như vậy, trong
điều kiện lịch sử Việt Nam bấy giờ, mục tiêu, định hướng và kÕt quả của công
cuộc cải cách là đúng đắn nhằm đáp ứng những yêu cầu khách quan trong xu
hướng phát triển nội tại của nước ta đang trên bước đường đi đến xác lập chế độ
phong kiến trung ương tập quyền chuyên chế. Đây cũng là xu thế chung của thời
đại.
Những cải cách của Hồ Quý Ly không chỉ nhằm làm thay đổi thiết chế
chính trị quân chủ quý tộc đã lâm vào con đường khủng hoảng, đã tạo được sự
chuyển mình đó bước sang thiết chế quân chủ quan liêu, phong kiến tập quyền
20
mà còn xoá bỏ loại hình kiến trúc điền trang đã trở nên lạc hậu, cản trở sự phát
triển sức sản suất và yêu cầu củng cố quốc gia thống nhất.
Xét về mặt cụ thể: chính sách hạn điền đã ngăn chặn khuynh hướng phát
triển của hình thức sở hữu phong kiến lớn, xác lập và khẳng định trên thực tế
nhiều mặt, vừa phải đối phó với nạn ngoại xâm đang đến gần và sự chống đối
quyết liệt của quý tộc, tôn thất nhà Trần, kể cả hành động tiêu diệt Hồ Quý Ly.
Nhà nước hạn chế trong công cuộc cải cách đã tác động xấu đến khả năng
thu phục nhân tâm và đoàn kết toàn dân để chống giặc ngoại xâm của nhà Hồ,
cùng với những sai lầm trong tổ chức và chỉ đạo chiến tranh, trong cả chiến lược
và chiến thuật, không tổ chức và thực hiện được một cuộc chiến tranh nhân dân.
Bởi vậy, chỉ sau hơn nửa năm ( cuối 1406 - đầu 1407) quân Minh đã tiến hành
xâm lược, cuộc kháng chiến do nhà Hồ lãnh đạo đã thất bại thảm hại , kéo theo
sự sụp đổ của vương triều Hồ và kết thúc cuộc cải cách dang dở của Hồ Quý
Ly. Chính vì cuộc xâm lược của nhà Minh là một nhân tố bên ngoài góp phần
làm cho công cuộc cải cách của Hồ Quý Ly nhanh chóng bị thất bại.
c.Bài học kinh nghiệm:
Sự thất bại trong cuộc cải cách của Hồ Quý Ly cũng là một bài học lớn, quý
giá mà các nhà cải cách sau này cần phải thấm nhuần và rút kinh nghiệm. Tuy
rằng các cuộc cải cách đựơc thực hiện đều xuất phát từ những mục tiêu có lợi
cho dân tộc, nhằm đưa đất nước thoát khỏi tình trạng bế tắc lúc bấy giờ. Thế
nhưng cũng phải có các chính sách, biện pháp cho phù hợp với hoàn cảnh tiêng
của từng thời kì lịch sử. Để thực hiện được điều đó thì đòi hỏi người đứng ra
lãnh đạo cũng phải là một người xuất chúng, có tài năng, ý chí và đặc biệt là có
tinh thần dân tộc, tự chủ, tự cường. Đồng thời, cũng cần tận dụng được tinh thần
ủng hộ của nhân dân để đoàn kết tạo nên sức mạnh cả về tinh thần cũng như vật
lực phục vụ cho cuộc cải cách được thành công. Có lẽ, lấy lòng dân là bài học
kinh nghiệm sâu sắc nhất rót ra từ cuộc cải cách của Hồ Quý Ly. Vì Hồ Quý Ly
đã không làm được điều đó nên phần nào đã dẫn đến thất bại. Đặc biệt là khi
giặc ngoại xâm đến trong tình cảnh cuộc cải cách còn dang dở nên không tập
hợp được lực lượng, thu phục được lòng dân, tinh thần cách mạng dũng cảm của
dân. Đây cũng là một bài học chính. Hơn nữa, trong quá trình cải cách, phát
triển đất nước, phải kết hợp chặt chẽ giữa các lĩnh vực với nhau như kinh tế với
chính trị, đặc biệt là với an ninh quốc phòng, về mẵt chuẩn bị lực lượng, vũ khí
trong quân đội để sẵn sàng chống giặc ngoại xâm và các thế lực thù địch khi cần
xuất phát từ việc đáp ứng yêu cầu của lịch sử mà vì mục tiêu bảo vệ, cũng cố
chế độ quân chủ - chuyên chế đã lỗi thời…
Qua tất cả các cuộc cải cách đó dù thành công hay thất bại cũng đã để lại
nhiều bài học kinh nghiệm quý giá. Đó là để tiến hành cải cách đạt kết quả thành
công thì phải có mục tiêu, định hướng đúng, nội dung của cuộc cải cách phải
toàn diện trên tất cả các mặt của đời sống xã hội, phải phù hợp với xu thế thời
đại, yêu cầu của đất nước, nguyện vọng của nhân dân; phải xuất phát và phù hợp
với điều kiện thực tiễn, biết kế thừa và phát huy truyền thống của dân tộc,đặc
điểm của đất nước, và lấy kinh nghiệm của quá khứ để tránh khỏi sai lầm, thiếu
sót. Từ đó phải có bước đi, hình thức và phương thức thực hiện đúng, thích hợp.
Sau cả một quá trình chống giặc ngoại xâm triền miên, liên tục thì trên đất
nước Việt Nam đã đến lúc không còn tiếng súng của chiến tranh. Dân tộc ta bắt
tay vào công cuộc khôi phục và xây dựng đất nước. Đặc biệt, từ 1986 Đảng và
24
Nhà nước ta đề ra công cuộc đổi mới đất nước. Cho đến nay, chóng ta đã và
đang gặt hái được nhiều thành tựu quan trọng, đưa dân tộc thoát khỏi tình trạng
khủng hoảng, trì trệ, bước vào thời kỳ công nghiệp hoá- hiện đại hoá đất nước,
từng bước làm cho dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng dân chủ, văn minh.
Để đạt được kết quả đó là nhờ Đảng cộng sản Việt Nam ngay từ khi ra đời cũng
đã thể hiện sứ mệnh lịch sử to lớn của mình, khẳng định vị trí của mình là đội
ngũ tiên phong của giai cấp công nhân Việt Nam. Đảng đã biết kế thừa và vận
dụng những bài học kinh nghiệm của các cuộc cải cách trong lịch sử. Đảng đã
kiên định chủ nghĩa Mác - Lê Nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, lấy đó làm kim chỉ
nam cho hoạt động .Đảng đã kiên định con đường độc lập dân tộc và chủ nghĩa
xã hội. Đảng đã vạch ra các chủ trương, đường lối phù hợp với quy luật, với
thực tế Việt Nam; phát huy sức mạnh của toàn dân, mở rộng mối quan hệ quốc
tế để không ngừng học hỏi, trao đổi với các nước bạn về mọi lĩnh vực, đặc biệt
là các thành tựu của khoa học công nghệ… Đồng thời chúng ta còng tham gia
vào nhiều tổ chức mang tính chất đoàn kết, giúp đỡ nhau cùng phát triển, giữ
vững hoà bình thế giới như tổ chức khu vực ASEAN, tổ chức thương mại Thế