Bài tập chuyên đề Trần Thị Thu Hà - K54 CLC -
Lịch sử
Đề bài: Hãy tìm hiểu về một đô thị cổ Việt Nam trong lịch sử và phân
tích những đặc điểm của nó trên cơ sở vận dụng các đặc điểm chung của
đô thị cổ Việt Nam.
BÀI LÀM
A. MỞ ĐẦU
Gắn liền với sự phát triển về kinh tế và chính trị của lịch sử chế độ
phong kiến Việt Nam chính là các đô thị. Việc nghiên cứu về đô thị cổ Việt
Nam cho đến nay vẫn là đề tài thu hút sự quan tâm của giới học thuật trong
và ngoài nước.
Thăng Long từ thế kỷ XI đã là một trung tâm chính trị quan trọng bậc
nhất của nước ta – với tư cách là kinh đô của nhiều triều đại phong kiến. Xét
một cách toàn diện, đây có thể coi là một đô thị tiêu biểu nhất của lịch sử
Việt Nam thời cổ trung đại. Trước những biến thiên của thời cuộc, vai trò và
vị trí của nó vẫn được khẳng định một cách chắc chắn trên nhiều phương
diện chính trị, kinh tế, văn hoá…Song trong bài tiểu luận này, do trình độ
điều kiện, thời gian và tư liệu còn nhiều hạn chế nên người viết xin được đề
cập đến một vài những đặc điểm chủ yếu của đô thị Thăng Long - Hà Nội.
B. NỘI DUNG
CHƯƠNG I
KHÁI QUÁT LỊCH SỬ ĐÔ THỊ THĂNG LONG - HÀ NỘI
Nét địa lý trường tồn của nghìn xưa của Thăng Long đó là cái đặc
trưng thành phố sông: thành phố ngã ba sông, nếu lấy cả hai dòng Nhị Hà –
Tô Lịch làm hệ quy chiếu, làm trục chủ đạo; thành phè một bờ sông (bờ
phải) nếu chỉ lấy một sông Nhị làm trục chính. Phần lãnh thổ chủ yếu của
Thăng Long xưa là phần đất bồi được bao bọc bởi sông Hồng ở phía bắc và
phía đông, bởi sông Tô Lịch và sông Kim Ngưu (nhánh sông Tô) ở phía tây
và phía nam. Lũy bọc ngoài là đê mà cũng là thành đất, là đường giao thông
1
Bài tập chuyên đề Trần Thị Thu Hà - K54 CLC -
1
T y cho n th k X Thng Long tr thnh dinh lu ch yu ca
chớnh quyn phng Bc, vi mt vũng thnh i La rng bao quanh.
õy ó tr thnh ni ginh git gia cỏc lc lng khi ngha: tiờu biu l
cuc khi ngha ca Phựng Hng cui th k VIII, cuc ni dy ca Dng
Thanh u th k IX, u th k X vi s kin h Khỳc dy nghip, Dng
ỡnh Ngh v cuc khỏng chin ca Ngụ Quyn nm 938 ó kt thỳc thi
i hng nghỡn nm Bc thuc.
n nm 1010, sau khi lờn ngụi vua m u nh Lý, Lý Cụng Un ri
ụ v i La v t tờn cho kinh ụ l Thng Long. Thnh i La trung
tõm b cừi t nc, c cỏi th rng cun, h ngi, v trớ gia bn
phng ụng, tõy, nam, bc; tin hỡnh th nỳi sụng sau trc. ú, a
th rng m bng phng, vựng t cao m sỏng sa, dõn c khụng kh v
ngp lt, muụn vt rt phong phỳ, tt ti. Xem khp nc Vit ta, ch
ấy l ni hn c, tht l ch hi hp ca bn phng, l ni ụ thnh bc
nht ca vng muụn i.
Vic nh ụ ca Lý Cụng Un Thng Long l quyt nh ht sc
sỏng sut trong s la chn mt kh nng an ton cao nht cho triu i mi.
Lý Cụng Un ch trng nh ụ Thng Long v t ú m ra mt thi k
mi trong lch s ngn nm vn hin v anh hựng ca Thng Long- thi k
Thng Long vi biu tng Rng bay va mang khớ th vn lờn mnh m
ca dõn tc, va cha ng ý nim thiờng liờng v ci ngun Rng-Tiờn v
c m v ngun nc, ma thun giú ho ca c dõn vn minh nụng
nghip trng lỳa nc. Nh vy, t một lng quờ, một k quờ khiờm tn bờn
b sụng Tụ, cnh gũ cao mang tờn lch s nỳi Nựng, thi i ng thau
hay thi i cỏc vua Hựng bt u dng nc Vn Lang; ến một th trn,
1
Trần Quốc Vợng, Tìm hiểu di sản văn hoá dân gian Hà Nội, NXB Hà Nội 1994, tr.70 .
3
Bài tập chuyên đề Trần Thị Thu Hà - K54 CLC -
Lịch sử
và nghệ sĩ Trung Quốc, trong đó có nghệ sĩ leo dây Đinh Bàng Đức, nghệ sĩ
tuồng Lý Nguyên Cát.
Thăng Long có Ýt nhiều dáng vẻ quốc tế của một kinh thành đô hội.
2
Mét vai trò lịch sử của Thăng Long là vị trí đặc biệt của đô thị trong
cả ban lần kháng chiến chống xâm lược Mông – Nguyên. Thăng Long từ
chối không cho Mông Cổ mượn đường đánh Chiêm Thành. Thăng Long gửi
quân vào giúp Chiêm Thành kháng chiến chống Nguyên Mông.
Vào năm 1397, khi nhà Trần sắp mất và nhà Hồ thay thế cầm quyền
bính thiên hạ, một thử rhách đã đến với Thăng Long sau gần 400 năm tồn tại
với tư cách là một quốc đô: một đô thành mới được xây dựng gấp ở miền
Tây Thanh Hoá để người sắp cướp ngôi nhà Trần là Hồ Qói Ly buộc vua
Trần dời đô - gọi là Tây Đô, còn Thăng Long đổi thành đông Đô.
Triều Lê thành lập sau cuộc kháng chiến chống quân Minh thắng lợi
và vẫn sử dụng Thăng Long - Đông Đô làm quốc đô, một lần nữa lại đổi tên
đô thị thành Đông Kinh vào năm 1430. Tồn tại trong vòng 100 năm nhà Lê
đã xây dựng một chế độ quân chủ chuyên chế theo mô hình Nho giáo, cũng
cho tu bổ và xây dựng lại Đông Kinh theo qui cách đế đô của một quốc gia
quân chủ chuyên chế. Tuy đã trở thành một đô thị và một quốc gia thịnh đạt
nhưng đồng thời cũng phải chứng kiến những tệ nạn: chuyên quyền, độc
đoán, tham nhũng, bè đảng tranh chấp…nhất là bước sang đầu thế kỷ XVI,
triều Lê suy thì Đông Kinh là diễn trường của những cuộc ăn chơi trác táng,
là chiến trường xung đột giữa các phe phái và mục tiêu tấn công của các
cuộc khởi nghĩa nông dân. Song đô thị cổ Hà Nội lúc này đã trưởng thành và
qui hoạch 36 phố phường được cố định.
Triều Mạc thay thế triều Lê (1572 - 1592) sử dụng lại Đông Kinh làm
quốc đô và quay trở lại tên gọi Thăng Long. Tuy có nhưng khủng hoảng về
2
Phan Huy Lª: Th¨ng Long - §«ng §« - §«ng Kinh- Hµ Néi thÕ kû XI-XIX. Trong: Th¨ng Long-Hµ Néi,
Bài tập chuyên đề Trần Thị Thu Hà - K54 CLC -
Lịch sử
CHƯƠNG 2
MỘT VÀI ĐẶC ĐIỂM CỦA ĐÔ THỊ CỔ THĂNG LONG - HÀ NỘI
1. Nguồn gốc
Đặc điểm chung nhất dễ nhận thấy của các đô thị cổ Việt Nam được
gói lại ở ngay trong hai từ tố hợp thành tên gọi, là phần lớn đều có hai bộ
phận: đô và thị.
Đô= thành, dinh, trấn = chính trị
Thị = phó, phường = kinh tế
Có thể yếu tố đô ra đời trước, sau đó là yếu tố thị. Hình dáng vật chất
và vẻ ngoài của đô thị, qui hoạch và kiến trúc đô thị đều được phản ánh qua
đấy, đặc biệt là mối quan hệ biện chứng giữa hai yếu tố Êy. Vấn đề đặt ra là
đô thị Thăng Long ra đời do nguyên nhân kinh tế có trước hay từ một trung
tâm chính trị hành chính mà thành, có nghĩa là do nhà nước quân chủ lập ra.
Năm 1010, Lý Thái Tổ đã định đô ở Đại La vì nơi đây “muôn vật cực
kỳ giàu thịnh”, tức là trước khi trở thành “đô” chỗ này đã thành “thị” rồi.
Song trong “Chiếu dời đô” đã nói rằng nơi đây là “đô” cũ của Cao Vương
(Biền), tức là đã thừa nhận tính chất chủ yếu của đô thị này vốn là một trung
tâm thống trị đất nước ở thời Bắc thuộc, đúng với sự mách bảo của các
nguồn sử liệu về đô thị Tống Bình - Đại La ở nơi đây, chính là nơi đặt
“dinh”, “trấn”, “thành” của các triều đại Tuỳ, Đường vào nửa sau thiên
niên kỷ thứ I. Luận về địa thế của Thăng Long và sự kiện Lý Công Uẩn dời
đô ra thành Tống Bình, Đại La cũ, nhà sử học thế kỷ XVIII, Ngô Thì Sĩ bàn:
“Đất Long Đỗ là nơi Cao Biền đóng ở đấy, núi Tản Viên chống vững một
cõi, sông Phú Lương như hào trời sinh ra, ngàn dặm bằng phẳng, trăm
họ giàu có: phía Tây thông với Sơn Tây, Tuyên Hưng; phía bắc thấu đến
Ninh Sóc, Kinh Bắc. Miền Đông Nam thì vận chuyển bằng thuyền, miền
7
Bài tập chuyên đề Trần Thị Thu Hà - K54 CLC -
§¹i ViÖt Sö Ký tiÒn biªn, NBX Khoa Häc X· Héi Hµ Néi 1994, tr.194.–
8
Bài tập chuyên đề Trần Thị Thu Hà - K54 CLC -
Lịch sử
thế kỷ XVIII, toàn bộ kinh thành Thăng Long đã được bao bọc bởi một hệ
thống thành luỹ (Đại Độ hay Đại La) khép kín, được thông với bên ngoài
bằng 16 cửa ô”
4
.
Quần thể kiến trúc lớn trong thành được chia làm hai khu: Hoàng thành
và Phủ Chúa. Giáo sĩ Marini đến Kẻ Chợ năm 1666, đã miêu tả đoạn Hoàng
Thành thời Lê - Trịnh như sau: “Nếu ta đi từ Kẻ Chợ và triều tức là Cung
điện của Nhà Vua, thì chúng ta sẽ trông thấy không những một toà cung điện
mà là cả một thành phố rất đẹp và rất rộng… Mặc dù các cung điện nhà Vua
chỉ làm bằng gỗ, người ta đã trông thấy ở đấy những đồ trang trí bằng vàng
và những đồ thêu, những tấm chiếu dệt rất mịn, trang trí các mầu sắc khác
nhau, cũng như hàng bao tấm thảm đẹp, tất cả mọi thứ đều không thể so
sánh được. Người ta còn trông thấy những cửa vòm bằng đá và những bức
tường thành dầy đến lạ lùng nơi cung vua ở. Cung điện đó được xây dựng
trên một rừng cột to lớn và chắc chắn, chỉ cao khoảng một tầng gác, có một
cầu thang bắc lên đó. Những rui kèo ở đây đẹp hơn tất cả mọi kiến trúc khác.
Các phòng thật rộng rãi, hành lang có mái che với những sân lớn rộng bao
la…”
5
.
Trọng tâm của kinh đô sau đó đã chính thức dịch chuyển ra phía ngoài
khu thành này, đó là quần thể phủ Chúa Trịnh. Phủ Chúa Trịnh là một dãy
lâu đài nguy nga, đồ sộ, bên trong còn được bố trí rất nhiều cảnh sắc thiên
nhiên để tô điểm. Samuel Baron đã mô tả về phủ chúa Trịnh mà ông gọi là
“Phủ tướng quân” là một công trình kiến trúc lớn ở kinh thành. “Phủ tướng
và kích thích đối với các địa phương xung quanh, khơi lên một luồng chuyển
dịch hanhg hoá và đưa đến sự hưng khởi của thành thị.
2. Hoạt động kinh tế
Phương diện chủ yếu của đời sống đô thị là những hoạt động kinh tế
mà nền tảng cốt lõi là kinh tế công thương và dịch vụ. Tuy nhiên trong suốt
hàng nghìn năm tồn tại của mình đô thị cổ Thăng Long còn có một đặc trưng
chủ yếu nữa là vị trí quốc đô của nó. Vai trò quốc đô này vừa qui định
những hoạt động đô thị chỉ riêng ở Thăng Long cổ mới có, về các phương
diện chính trị văn hoá vừa ảnh hưởng ngay đến cả tính chất của hoạt động
kinh tế đô thị.
6
S. Baron, S®d, tr. 692.
7
William Dampier, Du hµnh vµ kh¸m ph¸, S®d, tr. 52.
10
Bài tập chuyên đề Trần Thị Thu Hà - K54 CLC -
Lịch sử
Từ khi định đô ở thế kỷ XI cho đến ngay cả khi quốc đô đã rời về Huế
hồi thế kỷ XIX Thăng Long cổ vẫn là một đô thị tập trung những hoạt động
triều chính cung đình. Và sinh hoạt hàng nghìn năm của Thăng Long đã tạo
ra một đường hướng, một mô hình vận động theo kiến thức và tổ chức của
một đô thi kết hợp chợ – bến – phố- phường mà hạt nhân là những khu chợ.
Ngay từ khi mới định đô, hoạt động chợ búa ở Hà Nội cổ đã in dấu
vào sử sách: “mở chợ Tây Nhai với hành lang dài”
8
, “Mở phố chợ về cửa
đông, hàng quân chen chúc đến bên đến Bạch Mã rất là huyên náo”
9
. Sứ
giả nhà Nguyên khi đến Thăng Long cuối thế kỷ XIII , đã ghi chép về một
v thuyn
nh, cng khụng th no bng c s nhn nhp v ụng ỳc trờn sụng
K Ch, mc dự ú ch l s ngi cn thit li qun lý thuyn v bo
v hng hoỏ cũn li ca h: tt c cỏc lỏi buụn u cú nh riờng ca h
nhng lng xung quanh, khụng ai trong s h sng trờn nhng chic
thuyn.
Tuy ụng ỳc nh vy nhng nhng hot ng buụn bỏn ca ngi dõn
õy li rt quy c m Richard gi l mt trt t hon ho. Mi loi
hng hoỏ khỏc nhau c sp t vo mt ph nht nh, v nhng ph
ny mt ln na cng nhn hng bi mt, hai hay nhiu lng khỏc nhau;
nhng ngi dõn ti nhng lng ny mi cú c quyn m ca hiu
õy, cng phn nhiu ging vi mt s cụng ty hay nghip on nhng
thnh ph chõu u
(12)
. Hot ng buụn bỏn ca K Ch c chia ra thnh
nhng phng m c th l cú khong 36 phng. Nhiu trong số 36
phng ny (n v hnh chớnh) ca Thng Long c t di cỏi tờn
ca nhng sn phm th cụng c lm ra õy. Mi phng ny nm
gi mt ph nht nh vi nhng ca hng c dnh bỏn loi sn phm
ca h
(13)
. Nhng thng nhõn õy cng thnh lp nhng Hi buụn bỏn.
Nhng hi ny u cú ngi ng u, thu hỳt nhiu nhúm ngi khỏc
nhau, cú lc lng bo v v lut l riờng. Quy mụ buụn bỏn rt ln di
hỡnh thc ch yu l qua nhng ngi rao hng v nhng con thuyn
trờn con sụng rng chy qua thnh ph ny
(14)
.
Trong thi k thng mi, hot ng buụn bỏn ca K Ch khụng
ch bú hp trong nc m cũn c m rng giao lu quc t. Nhng
có ở đây rất nhiều. Người ta cũng đưa đến đây Ýt gạo. Nhưng có thể nói
rằng không tỉnh nào trong các tỉnh này thiếu những thứ Êy, tuy rằng tỉnh
nọ không có đầy đủ bằng tỉnh kia, do tính chất đất đai khác nhau”
(16)
.
Trong Dư địa chí của Nguyễn Trãi còn nhắc nhiều tới gốm sứ Bát
Tràng. Vào thế kỷ XVI, các lái buôn thường đến Thăng Long mua đồ gốm
sứ mang đi bán ở một số nước khác trong vùng Đông Nam Á.
Đến thế kỷ XVIII, nghề khảm xà cừ khá phát triển ở Thăng Long. Lê
Quý Đôn trong “Phủ biên tạp lục” cho rằng: Nghề khảm xà cừ từ rất lâu
trước đây đã vừa lan đến những miền xa xôi nhất của đất nước, tận những
vùng thuộc Chiêm Thành và Cao Miên, lại vừa hội tụ trong 36 phố phường
15
William Dampier, Mét chuyÕn du hµnh s¸ng B¾c Kú vµo n¨m 1688, S®d, tr. 11.
16
William Dampier, Mét chuyÕn du hµnh sang B¾c Kú vµo n¨m 1688, S®d, tr. 16, 17.
13
Bi tp chuyờn Trn Th Thu H - K54 CLC -
Lch s
ca t ụ, ó khng nh hựng hn s phỏt trin ca nú c v chiu rng
lónh th, c v s lng v cht lng.
3. V mt qun lớ xó hi ụ th Thng Long
3.1. B mỏy hnh chớnh Thng Long:
Thi Lý, qun lý ụ th H Ni l Ty Bỡnh Bc tn ti nh mt chớnh
quyn a phng c bit, trc thuc triu ỡnh trung ng. i Trn, nm
1265 i Ty Bỡnh Bc lm Kinh s An ph s, nm 1311 i lm kinh s
i doón, nm 1394 li i trung o doón. ụ thi c H Ni lỳc ny c
coi nh tng ng vi mt ph, mt l nhng do v trớ c bit ca nú nờn
ngi ng u chớnh quyn ụ th c tuyn chn rt ngt nghốo. Theo
qui nh nm 1265, ngi ny phi tri qua chc An ph s cỏc l, l
V c cu t chc ca b mỏy hnh chớnh ca Kinh thnh gm cú 1
ph Phng Thiờn, 2 huyn Th Xng (do Vnh Xng i ra) v Qung
c. ng u ph Phng Thiờn l chc Ph doón, cũn chc Thiu doón
trc õy thay bng chc lnh. Chc v v quyn hn ca hai viờn quan
ny c quy nh khỏ rừ rng.
Theo D a chớ v Hong Vit a d, thỡ mi huyn u cú 18
phng, tng cng l 36 phng. Tuy nhiờn, cho n nay chúng ta vn cha
th cú con s thng kờ danh sỏch ca 36 phng trờn. Da vo kt qu
nghiờn cu ca tỏc gi Nguyn Tha H, chỳng ta cú:
+ Huyn Th Xng:
Vua Lê Chúa Trịnh
Triều Đình
Lục Bộ: Binh; Hình;
Công; Lại; Lễ; Hộ
Phủ Liêu
Lục Phiên: Binh; Hình;
Công; Lại; Lễ; Hộ
Chính quyền
địa ph ơng các cấp
15
Bi tp chuyờn Trn Th Thu H - K54 CLC -
Lch s
- Cỏc phng phớa ụng Hong Thnh (gia Hong Thnh v
Sụng Hng): ng Xuõn, ụng H, H Khu, ụng Cỏc, Diờn
Hng, Thỏi Cc, C V, Kim C, Bỏo Thiờn.
- Cỏc phng phớa nam Hong Thnh: Vnh Xng, Bớch Cõu, Xó
n, Kim Hoa, Phỳc Lõm, Phc C, Hng Mai, Yờn Xỏ.
Cng 17 phng
+ Huyn Qung c:
- Cỏc phng phớa ụng H Tõy: Nht Chiờu, Qung Bỏ Tõy H,
chúng ta thấy quan Phủ doãn trong coi phủ Phụng Thiên về các mặt chính
trị, tổ chức quan lại, kinh tế, pháp luật dân sự và khoa cử.
Chức vụ của quan Đề lĩnh là “Trông nom sửa sang những đường xá và
cầu cống trong kinh đô; phải khơi ngòi để tháo nước chữa cháy và ngăn
ngừa bọn gian phi. Theo Phạm Đình Hổ trong Vò trung tuỳ bút, “đời Trịnh
An Vương (Trịnh Cương 1709-1729), Nguyễn Công Hãng làm Thượng thư
cầm quyền chính, mới chia hai huyện ra làm 8 khu, mỗi khu đặt một người
trưởng khu và phó khu; lại chia ra 5 nhà làm một ti; 2 ti là 1 lư; mỗi lư cũng
có một lư trưởng; 4 lư là 1 đoàn, mỗi đoàn đặt một quản giám, 2 quản điểm,
dưới quyền người khu trưởng và trực thuộc quan Đề lĩnh. Đó là phỏng cái ý
cổ nhân bảo trợ phù trì lẫn nhau. Phàm những việc phòng hoả phòng trộm và
nhất thiết những việc giao dịch thuế má đều uỷ trách cho khu trưởng, đoàn
trưởng cả. Bởi vậy, những con nhà quan thường không thèm làm, chỉ để cho
những côn đồ trong các xóm chợ làm. Bọn chúng cùng những kẻ ti thuộc
quan Đề lĩnh thông nhau làm càn, rất phiền nhiễu cho dân phố”
20
. Nh vậy,
chức Đề lĩnh đứng đầu về mặt quản lý bảo vệ trật tự trị an, trông nom tu sửa
các công trình công cộng.
Không chỉ có vậy, chúa Trịnh còn hướng tới mục tiêu đem lại sự công
bằng bằng những biện pháp hành chính rất tiến bộ. Năm 1747, “Trịnh
Doanh cho đặt chuông và mõ ở cái điếm cửa phủ đường. Trịnh Doanh
đương hăng hái về công việc chính trị, hạ lệnh đặt chuông và mõ ở cái
điếm về cửa phía tả phủ đường. Có người nào trình bày công việc hiện
thời và người nào có tài nghệ mà tự mình tiến cử, thì đánh chuông; người
nào bị bọn quyền quý ức hiếp và người nào có sự oan uổng chưa được
20
Ph¹m §×nh Hæ, Vò trung tuú bót, Nxb V¨n häc, H.1972, tr. 23
17
Bài tập chuyên đề Trần Thị Thu Hà - K54 CLC -
“Xét duyệt sổ dân đinh ở Phụng Thiên.
Nhà vua hạ lệnh xét duyệt những hạng quân, dân, đinh tráng ở tứ
chiếng hiện ngụ tại Phụng Thiên để lấy ngạch nhất định. Lúc Êy bọn cai
21
C¬ng Môc, tËp 2, tr. 593
22
C¬ng Môc, tËp 2, tr. 775
23
DÉn theo NguyÔn Thõa Hû, s®d, tr. 51
18
Bi tp chuyờn Trn Th Thu H - K54 CLC -
Lch s
qun a phng chuyờn vic búc lt, li lm phin nhiu dõn t ching v
vic i ct c cho voi. Dõn b kh s khụng sao k xit, nhiu ngi i theo
ng ngu cp búc
24
.
Nm 1658, theo Lờ triu chiu lnh thin chớnh, cú t tuyn quõn Cỏc
phng thuc ph Phng Thiờn c dõn s 100 ngi, ch ly hng quõn 20
ngi. Cng nm ú, cú quy nh v vic tuyn chn ngi cú hc thc:
Cỏc huyn, xó, phng trong cỏc x Thanh Hoỏ, Ngh An v cỏc x
phiờn trn thuc ph Phng Thiờn, lỳc im duyt cỏc hng nhõn dõn, cú
ngi no hi cú hc thc, cỏc quan x y phi hi ng kho hch qua, ai
hi thụng vn lý, thỡ cp cho bng nhiờu hc (cng nh khúa sinh) t cỏi
c ý ca triu ỡnh giỏo dng nhõn s.
25
Ngoi nhng t xột duyt dõn inh giỏm sỏt v qun lý d dng hn
(tuyn quõn, thu thu), trong cỏc b s, chỳng ta thy rt nhiu nhng c
gng qun lý dõn c v mt trt t tr an ca chớnh quyn phong kin:
- Nm 1649, thỏng 9, cú quy nh trong ni k (kinh ụ) cỏc quan
khụng th cỏm d thay i c ý chớ; trong nc khụng cú ngi dõn
phúng tỳng chi bi, thỡ phong tc t nhiờn thun hu. Vy nu xột thy cú
ngi no khụng theo v ngh nghip t dõn, tớnh tỡnh hung hón, chi bi c
bc, thỡ quan s ti trỡnh by n hc tr ti
28
Cựng vi nhng lnh cm l cỏc ch ti x lý i vi nhng ai v phm
cỏc t nn xó hi nh trờn.
Nm 1687, Vua Lờ cú lnh phũng ho tai: trong kinh thnh, phi
gi nghiờm cn. Giỏn hoc cú ngi no khụng gi cn thn n ni bc la
chỏy nh mỡnh, s b ti trng tỏm chc, nu chỏy lan ra nh ngi khỏc s
b riu i trc cụng chỳng ba ngy, v phi bt giam, tu vic nng nh
m khộp ti. Nu c ý t nh ngi ta, u b khộp vo ti n cp m x
trm. Ai bt c k t nh, s thng cho c tin 50 quan, t ý khuyn
khớch
29
3.3. Qun lý hot ng buụn bỏn:
Thng Long K Ch th k XVI-XVIII l mt trong nhng ụ th bc
nht v thng mi. Dõn gian cú cõu Th nht Kinh k, th nhỡ Ph Hin l
ch v s thnh vng ca cỏc hot ng buụn bỏn tp np ni õy.
khuyn khớch, to iu kin cho nhng ngi buụn bỏn, nh Lờ ó
ra mt iu lnh nm 1634: Cỏc ch v ca hng trong kinh k mua bỏn
27
Lê triều chiếu lịnh thiện chính, sđd, Q. 3, Lễ thuộc thợng, tr. 271
28
Cơng Mục, tập 2, tr. 635
29
Lê triều chiếu lịnh thiện chính, sđd, Q. 6, Hình thuộc, tr. 471
20
Bài tập chuyên đề Trần Thị Thu Hà - K54 CLC -
Lịch sử
nhà đang bị cháy, phải để cho đi. Nếu là quân gian lạ mặt, thì phải bắt tên ấy
cùng tang vật đem giải nộp, sẽ khép hắn vào tội ăn cướp, còn tang vật thì
30
Lª triÒu chiÕu lÞnh thiÖn chÝnh, s®d, Q. 2, Hé thuéc, tr. 75
31
Lª triÒu chiÕu lÞnh thiÖn chÝnh, s®d, Q. 2, Hé thuéc, tr. 77
32
Lª triÒu chiÕu lÞnh thiÖn chÝnh, s®d, Q. 2, Hé thuéc, tr. 79
21
Bài tập chuyên đề Trần Thị Thu Hà - K54 CLC -
Lịch sử
giao lại cho khổ chủ. Kẻ nào lấy trộm của ấy làm của mình, cho phép người
mất của được tố cáo, xét ra sự thực, cũng khép tên lấy trộm kia vào tội ăn
cướp. người nhà nào không giữ gìn cẩn thận, đến nỗi gây ra hoả hoạn, phải
chiếu luật khép vào tội trượng. Nếu là bị kẻ gian phóng hoả đốt nhà mình,
làm cho thiệt hại, thì phóng xá không bắt tội”
33
.
3.4. Một số điều khoản với người nước ngoài.
Bên cạnh những nguồn cư dân bản xứ, nội địa, Thăng Long thế kỷ
XVI-XVIII còn xuất hiện một bộ phận thương nhân nước ngoài đến đây
buôn bán và sinh sống.
Trước hết là việc xuất hiện những dãy nhà của khu thương điếm người
Anh, Pháp, Hà Lan… trong quần thể kiến trúc Thăng Long. Ngoài ra, còn có
cả những giáo sĩ đến kinh thành truyền đạo. Cũng cần phải kể đến những
thương nhân Hoa kiều, là những người có nhiều mối quan hệ làm ăn trong
nhiều đô thị sầm uất của Việt Nam giai đoạn đó.
Năm 1650, trong Lê triều chiếu lịnh thiện chính chép một đoạn dài về
những việc cấm liên quan đến người nước ngoài ở Kinh thành như sau: “Khi
có những tàu người các nước Hoa lang, Ô lan và Nhật Bản đến cửa bể nước
sang trỳ ng, nht lut phi tuõn theo phong tc nc ta.
T khi ngi nh Thanh vo lm vua Trung Quc, giúc túc, mc ỏo
vn, gi y nguyờn tp tc c Món chõu, l giỏo phong tc v ỏo m i
Tng, i Minh b b ht. Lỏi buụn phng Bc i li nc ta lõu ngy,
trong nc cng cú ngi bt chc. Triu ỡnh bốn nghiờm sc:
Cỏc ngi phng Bc, ngi no ó biờn tờn vo s sỏch nc ta, thỡ
t ng n mc nht lut phi theo phong tc nc ta.
Cỏc lỏi buụn phng Bc n trỳ ng nc ta, nu khụng cú ngi
quen bit hng dn, khụng c t tin vo kinh thnh.
Nhõn dõn ven biờn gii khụng c bt chc ting núi v mc
ca ngi phng Bc.
Ngi no trỏi sc lnh trờn s b tr ti
35
34
Lê triều chiếu lịnh thiện chính, sđd, Q. 3, Lễ thuộc thợng, tr. 177
35
Cơng Mục, tập 2, tr. 373
23
Bài tập chuyên đề Trần Thị Thu Hà - K54 CLC -
Lịch sử
4. Đô thị cổ Thăng Long chịu sù chi phối của nông thôn
Trong khi có hàng loạt các làng làm công thương thực hiện các chức
năng của thành phố thì thành Thăng Long thành phố lớn nhất và quan trọng
nhất của Việt Nam lại mang nhiều đặc tính của thôn làng và chịu chi phối
của các làng.
Phần lớn các phố của Thăng Long đều do các làng độc quyền chiếm
cứ. Những phố này bán các hàng sản xuất của làng hoặc dân làng ra thành
phố: vừa sản xuất vừa bán tại chỗ. Samuel Baron nhân xét về sự độc quyền
của một số làng đối với các phố phường của Thăng Long bằng mỗi phố đều
làng và ngưòi buôn bán ở các chợ quê Ýt hoặc nhiều vẫn tham gia vào sản
xuất nông nghiệp. Hơn nữa vì sống rải rác giữa đông đảo nông dân cho nên
về cơ bản họ vẫn suy nghĩ và ứng xử nh nông dân.
Ở Thăng Long – Kẻ Chợ thị dân vì chuyên sống bằng các nghề thủ
công mỹ nghệ, thương nghiệp, dịch vụ lại cư trú theo phường cho nên có
điều kiện thuận lợi hơn để rèn luyện tay nghề và chuyên nghiệp hoá cao hơn
thôn dân làm cùng nghề. Mặc dù đã có kinh tế hàng hoá chưa phát triển
nhưng cũng đủ để làm cho trong cách suy nghĩ và lối ứng xử thị dân ở đấy
khác với thôn dân. Ở Thăng Long – Kẻ Chợ hơn bất cứ vùng nào khác có sự
giao lưu rộng rãi và đa dạng với các vùng khác trong cả nước. Và Thăng
Long – Kẻ Chợ lại là một trong những nơi có sự giao lưu nhiều nhất với
nước ngoài vì vậy mà trìng độ hiểu biết và nhãn quan của thị dân có điều
thuận lợi hơn để được mở rộng hơn so với thôn dân.
Ngoài ra, Thăng Long – Kẻ Chợ là nơi trực tiếp bị ảnh hưởng bởi
những biến động về kinh tế chính trị xã hội và văn hoá hơn các vùng khác
trong nước ta và vậy mà xét về lối ững xử của thị dân ở Thăng Long – Kẻ
Chợ phải thích nghi với sự thay đổi nhiều hơn thôn dân. Và lối ứng xử của
họ hoạt bát năng động hơn thôn dân là điều dễ hiểu.
5. Tình hình văn hoá
25