MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Người Phương Đông chúng ta từ lâu rất coi trọng nghĩa vợ chồng và
được xem là “nghĩa trăm năm”. Chính vì vậy mà nhiều cặp vợ chồng đã sống
với nhau hạnh phúc đến trọn đời. Tuy nhiên trong những năm trở lại đây do
nền kinh tế thị trường phát triển mạnh mẽ, nhận thức của con người về vấn
đề này cũng thay đổi, cái nghĩa vợ chồng mỗi ngày lại được nhìn nhận có
khác đi. Hiện nay không coi trọng vấn đề này như nghĩa xưa, nên khi hai bên
(vợ, chồng) đặt bút ký vào đơn ly hôn không còn nặng nề nữa để giải phóng
cho nhau. Nếu tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn trầm trọng, cuộc
sống chung không thể duy trì được thì giải phóng cho nhau là điều tốt. Trên
thực tế, việc không còn coi trọng và không cố gắng gìn giữ nghĩa vợ chồng
mà nhiều cặp vợ chồng đã nhanh đưa ra quyết định chia tay, chấm dứt quan
hệ hôn nhân khi chưa cân nhắc kỷ. Do đó tình trạng ly hôn ngày càng tăng
dần và nó không còn là vấn đề trọng đại đối với nhiều cặp vợ chồng.
Mỗi gia đình là tế bào của xã hội, là một xã hội thu nhỏ, gia đình tác động
đến xã hội và ngược lại xã hội có ảnh hưởng mạnh mẽ đến gia đình. Vì vậy mà
khi xã hội thay đổi thì kéo theo mỗi con người, mỗi gia đình cũng thay đổi và
trong quan hệ vợ chồng đó là biểu hiện của sự gia tăng các vụ án ly hôn. Điều
này đã dẫn đến thực trạng các án HN&GĐ nói chung và án ly hôn nói riêng mà
các Tòa án phải thụ lý và giải quyết ngày càng nhiều. Tính chất đa dạng, phức
tạp trong quan hệ hôn nhân ngày càng tăng, nên việc giải quyết các án
HN&GĐ ngày càng gặp nhiều khó khăn hơn đặc biệt là các án ly hôn.
Tính chất phức tạp trong quan hệ hôn nhân còn được biểu hiện trong các
văn bản pháp luật về HN&GĐ với số lượng điều luật và văn bản hướng dẫn
ngày càng nhiều. Điều đó cho thấy đã có sự thay đổi, bổ sung hoàn thiện pháp
luật để phù hợp với tình hình thực tế nhằm nâng cao hiệu quả pháp luật. Tuy
1
vậy, trên thực tế vì những lý do khách quan và chủ quan mà việc áp dụng
pháp luật này còn gặp nhiều khó khăn, vướng mắc.
Để góp phần nâng cao hiệu quả pháp luật nói chung và luật HN&GĐ nói
5. Cơ cấu đề tài
Trong khóa luận này, ngoài phần mở đầu, phần kết luận, phần chú thích
và danh mục tài liệu tham khảo. Phần nội dung gồm có 2 chương:
Chương 1: Thực trạng xét xử sơ thẩm các vụ án ly hôn tại TAND thành
phố Huế từ năm 2008 đến tháng 3 năm 2011
Chương 2: Yêu cầu và những giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động xét
xử sơ thẩm các vụ án ly hôn.
3
NỘI DUNG
CHƯƠNG 1
THỰC TRẠNG XÉT XỬ SƠ THẨM CÁC VỤ ÁN LY
HÔN CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HUẾ
TỪ NĂM 2008 ĐẾN THÁNG 3 NĂM 2011
1.1 Đánh giá chung về các quy định của pháp luật áp dụng xét xử sơ
thẩm các vụ án ly hôn
1.1.1 Pháp luật nội dung áp dụng xét xử sơ thẩm các vụ án ly hôn
Hôn nhân và gia đình là các hiện tượng xã hội, phát sinh và phát triển
cùng với sự phát triển của xã hội loài người. HN&GĐ biểu hiện mối quan hệ
xã hội giữa vợ chồng, giữa cha mẹ và con cái, giữa các thành viên trong gia
đình. Trong xã hội có giai cấp quan hệ HN&GĐ bị chi phối bởi ý chí của giai
cấp thống trị và pháp luật chính là công cụ thể hiện ý chí đó của giai cấp
thống trị. Vì thế luật HN&GĐ ra đời.
Luật HN&GĐ là một ngành luật điều chỉnh các quan hệ xã hội trong lĩnh
vực HN&GĐ, cụ thể là quan hệ nhân thân và quan hệ tài sản giữa vợ và
chồng, giữa cha mẹ và con cái, giữa những người thân thích ruột thịt khác
được hình thành trên cơ sở hôn nhân, huyết thống và nuôi dưỡng.
Cùng với sự phát triển của lịch sử đất nước thì pháp luật về HN&GĐ
cũng có những thay đổi phù hợp với điều kiện xã hội qua từng thời kỳ. Luật
HN&GĐ đầu tiên ở nước ta ra đời năm 1959 được QH thông qua ngày
29/12/1959 và có hiệu lực ngày 13/01/1960, đến năm 1986 thì được sửa đổi
điểm của Chủ nghĩa Mác-Lênin, các điều luật không quy định căn cứ riêng
biệt mà quy định thống nhất dù hai bên thuận tình ly hôn hoặc một bên vợ
5
hoặc chồng yêu cầu “đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân
không đạt được” thì Tòa án cho ly hôn.
Ly hôn là hiện tượng xã hội mang tính giai cấp. Do có sự khác nhau
trong quan điểm, về việc quy định và giải quyết ly hôn, cho nên căn cứ ly hôn
được quy định trong pháp luật của Nhà nước XHCN có nội dung khác về bản
chất so với căn cứ ly hôn do nhà nước phong kiến, nhà nước tư sản đặt ra.
Luật HN&GĐ các nước XHCN quy định giải quyết việc ly hôn theo đúng
thực chất của vấn đề, hoàn toàn không dựa vào lỗi của vợ, chồng, trên cơ sở
nhìn nhận khách quan, đánh giá đúng thực chất của quan hệ hôn nhân đã hoàn
toàn tan vỡ.
Nhìn chung Nhà nước ta quy định về căn cứ ly hôn là rất khoa học, bảo
vệ lợi ích chính đáng của các đương sự. Ý chí của vợ chồng không phải là
điều kiện quyết định để phá bỏ hôn nhân mà việc giải quyết ly hôn phải căn
cứ vào điều kiện trong luật HN&GĐ.
Pháp luật của nước ta công nhận quyền tự do kết hôn đồng thời công
nhận quyền ly hôn của vợ chồng, tuy nhiên xuất phát từ nguyên tắc bảo vệ bà
mẹ và trẻ em, bảo vệ người phụ nữ có thai và thai nhi nên pháp luật đã quy
định điều kiện hạn chế ly hôn đối với người chồng khi người vợ đang có thai
hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi (khoản 2 Điều 85 Luật HN&GĐ 2000)
quy định này đã kế thừa quy định của Luật HN&GĐ 1986 (Điều 41).
Trong ly hôn, ngoài căn cứ ly hôn hay điều kiện ly hôn thì một vấn đề
được các nhà làm luật quan tâm nữa đó là hậu quả pháp lý khi ly hôn.
Ly hôn chính là nguyên nhân dân đến hậu quả làm tan vỡ gia đình từ đó
làm ảnh hưởng đến một phần đời sống xã hội. Vì vậy dưới bất kỳ xã hội nào,
Nhà nước cũng quan tâm đến việc giải quyết ly hôn và hậu quả của nó. Đối
với những xã hội khác nhau thì mục đích điều chỉnh của pháp luật đối với vấn
đề HN&GĐ nói chung cũng như việc ly hôn và giải quyết hậu quả của nó nói
7
1.1.2 Pháp luật tố tụng dân sự áp dụng xét xử sơ thẩm các vụ án ly hôn
Nếu như pháp luật nội dung quy định quyền và nghĩa vụ của đương sự
trong vụ án ly hôn thì pháp luật tố tụng quy định trình tự, thủ tục giải quyết
nhằm đảm bảo việc giải quyết nhanh chóng, đúng đắn bảo vệ quyền và lợi ích
hợp pháp của đương sự trong vụ án ly hôn.
Về nguyên tắc khi vợ, chồng hoặc cả hai vợ chồng có yêu cầu ly hôn, xét
thấy hợp lý, Tòa án thụ lý vụ việc ly hôn và giải quyết theo thủ tục của luật định.
Việc thụ lý yêu cầu ly hôn được thực hiện theo các thủ tục do pháp luật tố
tụng dân sự quy định (khoản 1 Điều 87 Luật HN&GĐ 2000). Theo đó, khi có
yêu cầu ly hôn tùy từng trường hợp có thể thụ lý giải quyết theo thủ tục giải
quyết vụ án (vụ án ly hôn), hoặc thụ lý giải quyết việc dân sự (yêu cầu ly hôn).
Thụ lý vụ án ly hôn khi ly hôn do một bên yêu cầu hoặc khi thuận tình ly
hôn nhưng có tranh chấp về nuôi con, chia tài sản khi ly hôn. Còn khi các bên
đã thỏa thuận được quan hệ quan hệ tài sản, quan hệ con cái và cả hai người
có yêu cầu ly hôn thì Tòa án sẻ giải quyết việc ly hôn. Và nếu sau khi giải
quyết việc dân sự mới phát sinh tranh chấp thì Tòa án đình chỉ giải quyết việc
dân sự và các đương sự phải khởi kiện vụ án ly hôn.
Trong mọi trường hợp ly hôn, Tòa án đều phải tiến hành điều tra và hòa
giải. Qua công tác điều tra, Tòa án tìm hiểu mâu thuẫn của vợ chồng có hay
không có, nguyên nhân và mức độ mâu thuẫn đó, điều kiện, hoàn cảnh nghề
nghiệp, tâm tư tình cảm, nguyện vọng của đương sự. Kết quả điều tra tốt
chính là cơ sở cho công tác hòa giải và xét xử ly hôn được chính xác.
Theo quy định tại Điều 88 Luật HN&GĐ 2000 thì sau khi thụ lý yêu cầu ly
hôn Tòa án phải tiến hành hòa giải theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự,
nếu trong các hồ sơ về ly hôn mà không có biên bản hòa giải thì bản án hoặc
quyết định của Tòa án sẽ bị hủy. Trường hợp hòa giải thành, Tòa án lập biên bản
ghi nhận việc hòa giải thành, quan hệ vợ chồng đoàn tụ, nếu hòa giải không
8
thành, Tòa án lập biên bản hòa giải không thành và quyết định đưa vụ kiện ly
được tạo nên bởi sự đặc thù về tinh thần, đa dạng về loại hình, phong phú và
độc đáo về nội dung được thể hiện trên nhiều lĩnh vực như văn học, sân khấu,
âm nhạc, mỹ thuật, phong tục tập quán, ăn-mặc-ở, phong cách sống…
Nền kinh tế của thành phố Huế nhìn chung ngày càng phát triển đa dạng
với nhiều loại hình kinh doanh, dịch vụ đáp ứng nhu cầu sống ngày càng cao
của người dân. Vì là một trong những trung tâm lớn của miền Trung nên ở
thành phố Huế mật độ dân cư ngày càng đông, điều này ảnh hưởng không nhỏ
đến tình hình chính trị, kinh tế, xã hội và phần nào làm thay đổi nét truyền
thống của mảnh đất này. Trình độ dân trí ngày càng được nâng cao, tuy nhiên
vẫn còn một số bộ phận trình độ nhận thức về vấn đề HN&GĐ còn hạn chế
mặt khác do sự thay đổi của vấn đề kinh tế - xã hội nên kéo theo sự thay đổi
quan niệm của con người về vấn đề hôn nhân, hiện tượng tảo hôn, lấy nhiều
vợ đặc biệt là ly hôn ngày càng tăng về số lượng và mang tính phức tạp hơn
gây ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống dân cư và điều kiện chính trị, kinh tế
và xã hội của thành phố.
Thành phố Huế là trung tâm kinh tế, chính trị, lịch sử, văn hóa và du
lịch, là nơi mà quá trình vận động của xã hội diễn ra ngày một phức tạp vì vậy
pháp luật ngày càng trở nên quan trọng hơn để điều chỉnh những hiện tượng
xã hội tiêu cực đó. Trong quá trình thay đổi của xã hội, các quan hệ hôn nhân
ngày càng trở nên phức tạp hơn, đặc biệt là vấn đề ly hôn. Tại TAND thành
phố Huế số lượng vụ án ly hôn mà Tòa án đã thụ lý, giải quyết ngày càng tăng
về số lượng và đa dạng về nội dung. Việc giải quyết một số lượng lớn các loại
án hàng năm là cố gắng, nỗ lực lớn của đội ngũ thẩm phám và cán bộ TAND
thành phố Huế.
Theo báo cáo tổng kết của TAND thành phố Huế từ năm 2008 đến tháng
3 năm 2011 thì Tòa án đã thụ lý và giải quyết số lượng lớn các vụ án ly hôn.
Thể hiện qua bảng thống kê sau:
10
TT
Năm
TANDTC, liên ngành TW, tôn trọng quyền tự định đoạt của đương sự, tạo
điều kiện cho đương sự thỏa thuận theo đúng pháp luật.
Về vấn đề hòa giải, thì trong tổng số án HN&GĐ mà TAND thành phố
Huế đã giải quyết (275 vụ) thì số lượng vụ hòa giải không thành phải đưa ra
xét xử là 61 vụ, trong đó hòa giải đoàn tụ được 4 cặp vợ chồng. Đây là một
con số đáng khích lệ cho công tác hòa giải của thẩm phán, cán bộ Tòa án, đã
11
góp phần giải quyết tốt các mâu thuẫn trong nội bộ gia đình, giữ gìn và tăng
cường sự đoàn kết trong mỗi gia đình nói riêng và trong cộng đồng dân cư nói
chung. Tuy nhiên bên cạnh đó số lượng án ly hôn tồn đọng, để quá hạn giải
quyết vẫn còn.
Trong năm 2008 có 8 vụ án ly hôn bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục
phúc thẩm và đã được TAND tỉnh Thừa Thiên Huế xem xét giải quyết lại.
Điển hình như vụ án tranh chấp về mức cấp dưỡng giữa vợ chồng chị
Hoàng Thị Lan A và anh Phan Văn Th. Theo nội dung vụ án thì vợ chồng chị
A và anh Th có một con chung là Phan Hoàng Khánh Linh sinh ngày
15/9/2003. Tại bản án sơ thẩm số 13/DSST ngày 18/04/2005 của TAND
thành phố Huế xử: Công nhận cho chị Anh với anh Th được thuận tình ly hôn
và giao cháu Linh cho chị Anh nuôi dưỡng, anh Th có nghĩa vụ đóng góp tiền
cấp dưỡng 350.000đồng/ 1tháng. Nay giá cả thị trường tăng cao với mức
350.000đồng /1 tháng không đảm bảo cho cháu ăn học nên chị A khởi kiện
yêu cầu anh Th phải tăng mức cấp dưỡng lên 500.000đồng /1tháng.
Anh Th khai: Hiện nay anh có vợ và sắp sinh con, ngoài ra anh phải nuôi
bố mẹ già yếu , nên với thu nhập anh không có khả năng để đáp ứng yêu cầu
của chị A.
Tại bản án sơ thẩm số 40/2008/HNGĐ-ST ngày 9/9/2008 TAND thành
phố Huế xử:
+ Chấp nhận yêu cầu của chị Hoàng Thị Lan A về tăng mức cấp dưỡng.
+ Bác yêu cầu xin thay đổi nuôi con của anh Phan Văn Th, buộc anh Th
phải đống góp phí tổn nuôi con chung là cháu Phan Hoàng Khánh Linh mỗi
cao. Trong công tác hòa giải, mặc dầu số lượng án giải quyết nhiều nhưng
13
công tác hòa giải vẫn đạt kết quả cao. Số lượng án hòa giải không thành, đưa
ra xét xử so với năm 2008 giảm xuống còn 45 vụ, Tòa án đã hòa giải đoàn tụ
cho một trường hợp.
Năm 2009 theo thống kê có 11 vụ bị kháng cáo kháng nghị lên TAND
tỉnh Thừa Thiên Huế theo trình tự thủ tục phúc thẩm và đã được TAND tỉnh
Thừa Thiên Huế xem xét giải quyết, đơn cử vụ án ly hôn của chị Lê Thị Thủy
T xin ly hôn anh Đặng Văn P. Nội dung vụ án như sau:
Chị Lê Thị Thủy T và anh Phan Văn P kết hôn tự nguyện và đăng ký kết
hôn vào năm 1998. Sau khi kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc được một thời
gian thì phát sinh mâu thuẫn. Theo chị T nguyên nhân chủ yếu do anh P uống
rượu và ngoại tình với người phụ nữ khác về đánh đập vợ con. Nay không còn
tình cảm gì nên chị T xin ly hôn. Anh P đồng ý.
+ Về con chung: vợ chồng anh P, chị T có 5 con là: Đặng Thị Diễm
Châu sinh năm 1985; Đặng Thị Nhật Uyên sinh năm 1990; Đặng Thị Thương
Yên sinh năm 1991; Đặng Lê Phi Pha sinh năm 1994 và Đặng Lê Phi Long
sinh năm 2004. Nguyện vọng của cháu Yên, Pha và Long là nếu bố mẹ ly hôn
thì các cháu ở với mẹ. Nay chị T xin ly hôn và yêu cầu xin được nuôi 3 đứa
con chưa thành niên và yêu cầu anh P cấp dưỡng nuôi con chưa thành niên
mỗi tháng là 1.200.000đồng/1 tháng. Còn 2 con đã thành niên thì ở với ai là
quyền của 2 cháu.
+ Về tài sản chung: quá trình chung sống với nhau vợ chồng có tạo lập
được ngôi nhà 2 tầng, diện tích 26,88 m
2
tại 173 Nguyễn Trãi, thành phố Huế,
trị giá 151.872.960đồng. Ngoài ra còn một số tài sản sinh hoạt khác không
yêu cầu giải quyết.
+ Về nợ chung: anh P và chị T nợ bà Nguyễn Thị Nghĩa (mẹ chị T) số
tiền 40 triệu đồng; nợ anh Lê Đình Nam (anh của chị T) là 2 triệu đồng và nợ
Ngày 06/8/2009 VKSND thành phố Huế kháng nghị số 150/KNVKS
kháng nghị bản án sơ thẩm số 30/2009/HN&GĐ-ST ngày 23/7/2009 với nội
dung: Tòa án không tuyên quyền của đương sự được thăm con sau khi ly hôn
15
là không đứng với pháp luật. Đề nghị tuyên bổ sung quyền của các đương sự
được thăm con sau ly hôn.
Tại bản án phúc thẩm số 06/2009/HN&GĐ-PT ngày 24/9/2009 về việc
xin ly hôn của TAND tỉnh Thừa Thiên Huế đã quyết định:
+ Về hôn nhân: chấp nhận cho chị Lê Thị Thủy T được ly hôn anh Đặng
Văn P
+ Về nuôi con: Giao ba cháu cho chị T nuôi. Công nhận sự thỏa thuận
cấp dưỡng 1.2 triệu đồng/ tháng. Anh P có quyền thăm nom con.
+ Về tài sản chung : Không chấp nhận kháng cáo của anh P về yêu cầu
Tòa án giao nhà, đất của vợ chồng anh cho trung tâm bán đấu giá để phân chia.
+ Không chấp nhận kháng cáo của anh Đặng Văn P về yêu cầu Tòa án
xác định và buộc vợ chồng anh có trách nhiệm cùng trả nợ của anh Hoàng
Trọng Chu 30 triệu đồng và trả nợ cho chị Đặng Thị Thủy Tiên 5 triệu đồng.
Những người này có quyền làm đơn sơ thẩm vụ án khác.
+ Giao ngôi nhà số 173 cho chị Lê Thị Thủy T sở hữu. Buộc chị T phải
trả nợ cho Nguyễn Thị Nghĩa 40 triệu đồng, Lê Đình Nam 2 triệu đồng và
thanh toán phí ½ giá trị còn lại là 54.936.480 làm tròn 54.936.500 cho anh
Đặng Văn P. Anh P giao nhà cho chị T khi chị T thanh toán đủ 54.936.500.
Anh P được lưu cư trong 3 tháng kể từ ngày bản án có hiệu lực.
Như vậy, căn cứ vào những quy định của pháp luật về ly hôn, tại bản án
phúc thẩm của TAND tỉnh Thừa Thiên Huế chỉ bổ sung thêm việc anh P có
quyền thăm nom con sau khi ly hôn theo kháng nghị của Viện kiểm sát. Đây
là thiếu sót không đáng có của Tòa án khi tuyên án vì quyền thăm nom con
là quyền cơ bản của đương sự sau khi ly hôn, nó không chỉ đảm bảo quyền
của người không trực tiếp nuôi con mà nó còn đảm bảo quyền của trẻ em
được hưởng đầy đủ tình cảm từ bố và mẹ, được bố mẹ quan tâm nuôi dưỡng.
vụ án nội dung phức tạp mà thẩm phán chưa điều tra, thu thập xác minh
17
chứng cứ kỷ càng nên tuyên xử chưa thật chính xác hoặc vì một số nguyên
nhân khác như do điều kiện kinh tế - xã hội ngày càng phát triển, nhu cầu
cuộc sống ngày càng cao nên đương sự có sự thay đổi về mức hỗ trợ, mức cấp
dưỡng… Đơn cử như vụ án xin ly hôn giữa ông Nguyễn Thiện P và bà
Nguyễn Thị H. Theo nội dung đơn xin ly hôn thì ông bà kết hôn ngày
19/02/1990. Chung sống một thời gian không lâu thì phát sinh mâu thuẫn.
Ông P cho rằng vì bà H không tôn trọng cha mẹ của ông, mặc dầu đã được
mọi người khuyên nhủ nhiều lần nhung ông vẫn quyết định ly hôn. Về phía bị
đơn, bà H cho rằng ông P đối xử tẻ nhạt, không quan tâm đến cuộc sống gia
đình nếu ông P xin ly hôn thì bà cũng sẽ chấp nhận ly hôn.
Về tài sản chung: gồm có một ngôi nhà ở 392 Lê Duẩn _ TP Huế, một
xưởng cơ khí Thiện Phúng, 4 chiếc xe máy và một số vật dụng sinh hoạt. Ông
P có trình bày sẽ giao cho bà H 01 chiếc xe máy, ông sẽ hỗ trợ cho bà H 200
triệu đồng để bà tạo lập cuộc sống mới và nếu bà H cần những vật dụng sinh
hoạt thì ông sẽ giao cho bà hết. Bà H không có yêu cầu gì về tài sản.
Tại bản án HN&GĐ sơ thẩm số 41/2011/HN&GĐ-ST ngày 24/9/2010
của TAND thành phố Huế đã xem xét giải quyết như sau:
+ Công nhận thuận tình ly hôn giữa ông Nguyễn Thiện P và bà Nguyễn Thị H
+ Công nhận sự tự nguyện của ông Nguyễn Thiện P hỗ trợ cho bà H 200
triệu đồng để tạo lập cuộc sống mới
+ Công nhận sự thỏa thuận của ông P giao cho bà H sở hữu 01 chiếc xe
máy và những vật dụng sinh hoạt gia đình.
Ngày 5/10/2010 bà Nguyễn Thị H có đơn kháng cáo đề nghị xem xét lại
việc ly hôn bà yêu cầu ông P hỗ trợ 300 triệu đồng để bà tạo lập chổ ở mới và
bà yêu cầu Tòa án phúc thẩm xác định tài sản chung của vợ chồng bao gồm
cụ thể những tài sản chung gì để phân chia theo quy định của pháp luật.
18
Ngày 16/02/2011 TAND tỉnh Thừa Thiên Huế đã tiến hành hòa giải và
vụ án ly hôn. Tuy nhiên với số lượng án ngày càng tăng cùng với tính chất
của nội dung vụ việc ngày càng đa dạng, phức tạp nên hàng năm số lượng án
tồn đọng vẫn còn nhiều.
* Một số nguyên nhân cơ bản dẫn đến sự gia tăng của các vụ án ly hôn
tại TAND thành phố Huế.
Tình hình xét xử các vụ án ly hôn tại TAND thành phố Huế từ năm 2008
đến tháng 3 năm 2011 sở dĩ có nhiều biến động theo chiều hướng số lượng vụ
án ly hôn ngày càng tăng và tính chất của vụ án ngày càng phức tạp, đa dạng.
Mặc dầu chất lượng xét xử của năm sau cao hơn năm trước nhưng số lượng
án tồn đọng vẫn còn cao là do các nguyên nhân chủ yếu sau:
1) Về mặt xã hội: Sự phát triển của đất nước kéo theo sự thay đổi của
đời sống xã hội. Bên cạnh những tác động tích cực của nó lên đời sống xã hội
thì nó còn gây ra những vấn đề tiêu cực của xã hội hiện nay như là các tệ nạn
xã hội, lối sống suy đồi đạo đức, nhận thức của con người về quan hệ hôn
nhân không còn coi trọng như trước nên các với hiện tượng đánh đập, ngược
đãi vợ con, ngoại tình…dẫn đến mâu thuẫn của gia đình trầm trọng, tình cảm
vợ chồng chấm dứt, tranh chấp về tài sản và con cái ngày càng phức tạp, quan
hệ hôn nhân đổ vỡ.
2) Về mặt kinh tế: Nền kinh tế của đất nước ngày một phát triển cao, nhu
cầu sinh hoạt, tiêu dùng của con người ngày càng tăng. Bên cạnh những gia
đình có thu nhập ổn định việc tổ chức đời sống gia đình tốt thì vẫn còn đó
những gia đình có thu nhập thấp thậm chí không có thu nhập hoặc có thu nhập
khá nhưng vì nhu cầu chi tiêu quá cao làm cho đời sống gia đình không ổn
định, vợ chồng chật vật vì đồng tiền…hậu quả kéo theo là gia đình hay xãy ra
các mâu thuẫn, đánh đập ngược đãi nhau… và quan hệ gia đình đổ vỡ dẫn đến
ly hôn.
20
Mặt khác, do chính sách mở cửa của nền kinh tế đất nước, cũng như các
đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước về tăng trưởng và phát triển
kinh tế cải thiện đời sống nhân dân, làm cho đời sống nhân dân tăng lên, chất
hướng dẫn thi hành gồm: Nghị quyết số 35/2000/QH10 ngày 9/6/2000, Nghị
quyết số 02/2000/NQ-HĐTP ngày 23/12/2000; Thông tư liên tịch số
01/TTLTBTP-TANDTC-VKSNDTC…là cơ sở pháp lý quan trọng để áp dụng
giải quyết các loại án về HN&GĐ nói chung và các vụ án xin ly hôn nói riêng.
Ngày 15/6/2004 Quốc hội thông qua Bộ luật tố tụng dân sự 2004 có hiệu
lực ngày 01/01/2005 là cơ sở pháp lý về mặt tố tụng để Tòa án áp dụng giải
quyết các vụ án dân sự trong đó có các vụ án về ly hôn trong lĩnh vực HN&GĐ.
Bộ luật tố tụng dân sự ra đời tạo cơ sở pháp lý cho Tòa án áp dụng thống nhất
không phải áp dụng tản mạn, thiếu thống nhất như trước khi mà BLTTDS chưa
ra đời, Tòa án phải áp dụng pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự năm
1989 để giải quyết.
Đó là những thuận lợi cho các thuận lợi chung tạo điều kiện thuận lợi
cho các Tòa án trên cả nước áp dụng khi giải quyết, riêng đối với TAND
thành phố Huế còn có một số thuận lợi sau:
- Sự lãnh đạo của cấp ủy, sự chỉ đạo trực tiếp của lãnh đạo Tòa án, sự
phối hợp chặt chẽ của tổ chức công đoàn, Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí
Minh và sự nỗ lực, cố gắng học tập, nâng cao trình độ nghiên cứu của cán bộ
công chức trong đơn vị nên hàng năm TAND thành phố Huế đã hoàn thành
xuất sắc nhiệm vụ được giao.
- Đội ngũ cán bộ Tòa án 100% có trình độ đại học được đào tạo cơ bản
và hiện nay số lượng cán bộ có bằng đại học chính quy tăng hơn so với những
22
năm trước đáp ứng được yêu cầu, tiêu chuẩn của Tòa án. Đội ngũ thẩm phán
đã được học qua lớp bồi dưỡng thẩm phán và không ngừng nâng cao chuyên
môn của mình qua các lớp tập huấn.
- Mặc dầu hàng năm số lượng án rất nhiều, bình quân mỗi năm TAND
thành phố Huế thụ lý 800-900 vụ việc và ngày càng tăng, ngoài ra số lượng đơn
kiện gửi đến Tòa án là rất lớn (gấp đôi số lượng án phải thụ lý) nhưng chất lượng
xét xử cũng không ngừng được nâng cao, thủ tục tiến hành tố tụng chặt chẽ, đảm
bảo theo đúng quy định của pháp luật, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp theo
kinh nghiệm tố tụng còn hạn chế, chưa đồng đều. Quy trình bổ nhiệm, tái bổ
nhiệm thẩm phán còn nhiều bất cập. Đội ngũ thẩm phán xét xử thường xuyên
phải được tăng cường và luân chuyển từ nơi khác đến mới hoàn thành được
chức năng nhiệm vụ của ngành. Thẩm phán đương nhiệm phải giải quyết số
lượng án hàng năm nhiều, có thẩm phán giải quyết án có số lượng cao trên
150 vụ việc/năm bằng thậm chí nhiều hơn cả lượng án của một Tòa án huyện
cùng cấp giải quyết.
Thành phố Huế là trung tâm kinh tế - chính trị, văn hóa, du lịch do đó
hàng năm số lượng người đến để học tập, làm việc và sinh sống ngày càng
đông, một số bộ phận dân cư trình độ nhận thức còn kém nên hiện tượng tảo
hôn, lấy nhiều vợ đặc biệt là ly hôn do quan niệm còn lạc hậu (trọng nam
khinh nữ, người phụ nữ không sinh được con hoặc là sinh con gái mà không
sinh được con trai…) xãy ra khá nhiều.
Mặt khác, TAND thành phố Huế trong thời gian vừa qua việc xét xử và
giải quyết án HN&GĐ nói chung và vụ á ly hôn nói riêng còn gặp nhiều khó
khăn, vướng mắc một phần là do sự thiếu quan tâm hợp tác của các cấp chính
quyền, các tổ chức liên quan trong việc cung cấp tài liệu, phúc đáp công văn
mà Tòa án yêu cầu, dẫn đến chậm trể trong việc giải quyết gây án tồn đọng
24
làm ảnh hưởng đến không nhỏ đến quyền, lợi ích của đương sự của Nhà nước
và xã hội.
Ngoài những khó khăn mang tính đặc thù trên, trong quá trình thụ lý, xét
xử sơ thẩm các vụ án ly hôn tại TAND thành phố Huế còn gặp những khó
khăn, vướng mắc mà chúng tôi sẽ làm rõ thêm dưới đây.
1.3 Những vướng mắc trong việc áp dụng các quy định của pháp luật
HN&GĐ trong xét xử sơ thẩm các vụ án ly hôn
1.3.1 Áp dụng căn cứ ly hôn
Trong xã hội có giai cấp, hôn nhân là hiện tượng xã hội mang tính giai cấp.
Trong từng giai đoạn phát triển lịch sử, ở mỗi chế độ xã hội khác nhau, giai cấp
thống trị đều thông qua Nhà nước, bằng pháp luật (hay tục lệ) quy định chế độ