TỔNG hợp HÌNH PHẠT TRONG bộ LUẬT HÌNH sự VIỆT NAM QUA THỰC TIỄN tại tòa án NHÂN dân THÀNH PHỐ HUẾ - Pdf 43

ĐẠI HỌC HUẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT
------------

NGUYỄN THỊ HUYỀN
TỔNG HỢP HÌNH PHẠT TRONG BỘ LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM
QUA THỰC TIỄN TẠI TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HUẾ

Ngành: Luật Học
Chuyên ngành: Luật Hình Sự
Niên khóa: 2013 - 2017

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
SINH VIÊN THỰC HIỆN: NGUYỄN THỊ HUYỀN
NGƯỜI HƯỚNG DẪN: Th.S NGUYỄN THỊ XUÂN

THỪA THIÊN HUẾ, NĂM 2017

1


Lời Cam Đoan!
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu
khoa học của riêng tôi. Các số liệu, ví dụ, trích dẫn
trong bài luận văn đảm bảo độ tin cậy, chính xác và
trung thực. Những kết luận khoa học của luận văn
chưa từng được ai công bố trong bất cứ công trình nào
khác.

2


HSST

: Hình sự sơ thẩm

HSPT

: Hình sự phúc thẩm

NQ

: Nghị quyết

QH

: Quốc hội

TAND

: Tòa án nhân dân

THAHS

: Thi hành án hình sự

TTLT

: Thông tư liên tịch

TTTN


QUA THỰC TIỄN TẠI TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HUẾ

PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Đối với một đất nước đang phát triển như Việt Nam, sự phát triển không
ngừng trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội cũng là con dao hai lưỡi kéo
theo tình trạng số người vi phạm pháp luật ngày một gia tăng và một điều đáng
báo động là trong số người phạm tội đó, các hành vi ngày càng một nguy hiểm.
Có thể nói, tội phạm là một hiện tượng tiêu cực trong xã hội, đấu tranh phòng
chống tội phạm để bảo vệ lợi ích của mình và duy trì kỉ cương xã hội luôn là một
nhiệm vụ quan trọng nhất của mỗi Nhà nước. Để cụ thể hóa, luật hình sự đã quy
định những hành vi nào được coi là nguy hiểm cho xã hội do người có năng lực
hành vi trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý hay vô ý xâm phạm các
khách thể được pháp luật hình sự bảo vệ là tội phạm. Người thực hiện hành vi
nguy hiểm cho xã hội được coi là tội phạm và phải chịu trách nhiệm hình sự.
Thực tế xét xử vụ án hình sự trong những năm qua cho thấy, có nhiều
trường hợp một người thực hiện nhiều hành vi không bị phát hiện và đưa ra
xét xử cùng một lúc, mỗi hành vi cấu thành một tội phạm riêng biệt hay một
người đang phải chấp hành một bản án mà lại bị xét xử về tội đã phạm trước
khi có bản án đó hoặc một người đang phải chấp hành bản án mà mà phạm tội
mới thì để đánh giá toàn diện và đầy đủ tính nguy hiểm cho xã hội của tất cả
các tội mà người phạm tội đã thực hiện, Tòa án phải tổng hợp hình phạt của
các tội thành hình phạt chung buộc bị cáo phải chấp hành. Tổng hợp hình phạt
là trường hợp Tòa án không chỉ quyết định hình phạt cho một tội mà phải
quyết định hình phạt chung cho nhiều tội. Do vậy, đây là một chế định đặc
biệt quan trọng trong luật hình sự.
7


Hiện nay, khoa học luật hình sự trong nước đã có nhiều công trình khoa

giảng dạy, bài viết trên các tạp chí và sách chuyên khảo như: Cấp độ luận văn
thạc sĩ luật học có đề tài của các tác giả Trần Văn Sơn "Quyết định hình phạt
trong luật hình sự Việt Nam" (1996) và tác giả Hoàng Chí Kiên "Quyết định
hình phạt trong trường hợp đặc biệt" (2004). Bên cạnh đó, về giáo trình, sách
chuyên khảo, bình luận có các công trình sau: Hình phạt trong luật Hình sự
Việt Nam, của PGS.TS Nguyễn Ngọc Hòa, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia,
Hà Nội, 1995; Tội phạm học, luật hình sự và tố tụng hình sự Việt Nam, của
PGS.TS Võ Khánh Vinh, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995;
Giáo trình luật hình sự Việt Nam (phần chung), của TS Uông Chu Lưu và
ThS. Trần Văn Sơn, Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội, 1997; Đinh Văn Quế,
Bình luận khoa học Bộ luật hình sự Việt Nam năm 1999 (phần chung), Nhà
xuất bản Thành phố Hồ Chí Minh, 2000; v.v... Ngoài ra, một số tác giả cũng
đã công bố những bài báo khoa học có đề cập đến hình phạt như: Đinh Văn
Quế, "Tổng hợp hình phạt của nhiều bản án", Tạp chí Tòa án nhân dân, số 11,
2004; Đinh Văn Quế, "Quyết định hình phạt đối với người chưa thành niên
phạm tội", Tạp chí kiểm sát, số 6, 2007; Phạm Hồng Hải, "Một số điểm mới
cơ bản trong phần chung Bộ luật hình sự năm 1999", Tạp chí Nhà nước và
pháp luật, số 6, 2000; Phạm Văn Thiệu, "Tổng hợp hình phạt của nhiều bản
án", Tạp chí Tòa án, số 3, 2008; Phạm Mạnh Hùng, "Vấn đề người chưa thành
niên phạm tội trong luật hình sự” v.v... Trên cơ sở nghiên cứu cho thấy, chế
định tổng hợp hình phạt chưa được quan tâm nghiên cứu đúng mức, chế định
này chủ yếu được nằm trong nội dung hình phạt và quyết định hình phạt - đó
là một nội dung nhỏ trong của các sách giáo trình, sách chuyên khảo mà
không có một cuốn giáo trình, chuyên khảo, bình luận chuyên biệt về chế định
này. Mặt khác, chưa có công trình khoa học nào nghiên chế định tổng hợp
9


hình phạt và thực tiễn áp dụng trên địa bàn thành phố Huế. Do vậy, chế định
tổng hợp hình phạt cần được quan tâm hơn nữa trong công tác nghiên cứu

4.1. Đối tượng nghiên cứu:
Tổng hợp hình phạt trong luật hình sự Việt Nam




o

o

o

Thực tiễn hoạt động xét xử cửa Tòa an trong chế định Tổng hợp hình
phạt. Từ đó đưa ra giải pháp đấu tranh ngăn ngừa, phòng chống tội phạm.
4.2. Phương pháp nghiên cứu:
Phương pháp nghiên cứu lý luận: Tìm hiểu các khái niệm cơ bản, các văn bản,
trích dẫn các lý luận của các nhà luật gia đã nghiên cứu về vấn đề này
Phương pháp phân tích và tổng hợp: đây là phương pháp được sử dụng rộng
rãi, và thường xuyên trong qua trình nghiên cứu về những vấn đề lý luận
chung mang tính bao hàm.
Phương pháp so sánh: Đây là sự sử dụng các khái niệm, các tiêu chí để tìm ra
những điểm khác và giống giữa những phạm trù cần nghiên cứu khi tìm hiểu
vấn đề.
5. Phạm vi nghiên cứu:
Luận văn nghiên cứu và giải quyết những vấn đề lý luận chung về chế
định tổng hợp hình phạt trong luật hình sự Việt Nam, kết hợp với việc nghiên
cứu đánh giá tình hình áp dụng chế định tổng hợp hình hình phạt trong thực
tiễn xét xử của Tòa án nhân dân thành phố Huế và những nguyên nhân của
những tồn tại, hạn chế để kiến nghị những giải pháp hoàn thiện luật thực định
và nâng cao hiệu quả áp dụng chế định tổng hợp hình phạt trong thực tiễn.

quyền và lợi ích do pháp luật quy định đối với người bị kết án". 1
Quan điểm thứ hai, Theo TS. Uông Chu Lưu và TS. Nguyễn Đức Tuấn
thì hình phạt được hiểu là "biện pháp cưỡng chế của nhà nước do Toà án áp
dụng đối với người thực hiện tội phạm theo quy định của luật hình sự, tước bỏ
hoặc hạn chế những quyền và lợi ích nhất định của người bị kết án nhằm mục
đích cải tạo, giáo dục người phạm tội và ngăn ngừa tội phạm". 2

1 Võ Khánh Vinh, Nguyên tắc công bằng trong Luật hình sự Việt Nam, NXB Công an Nhân dân, Hà Nội,1994.
2 Viện Khoa học pháp lý, Bộ Tư pháp, Hình phạt trong Luật hình sự Việt Nam, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1995

12


Hai quan điểm trên tương đối thống nhất về việc định nghĩa hình phạt.
Hình phạt với tính chất là biện pháp trách nhiệm hình sự được Nhà nước sử
dụng như là một công cụ, phương tiện quan trọng để trừng trị, giáo dục, cải tạo
người phạm tội. Tính cưỡng chế của hình phạt, tức là dùng quyền lực nhà nước
bắt phải tuân theo, được thể hiện ở nội dung trừng trị là một đặc điểm cơ bản
của hình phạt; đặc điểm này cho phép phân biệt hình phạt với các biện pháp tác
động xã hội khác. Nội dung trừng trị của hình phạt có thể nặng, nhẹ khác nhau,
nhưng chúng đều có cùng tính chất là một loại biện pháp cưỡng chế trong hệ
thống các biện pháp cưỡng chế nhà nước. Khi được áp dụng, hình phạt gây nên
những tổn hại nhất định cho người phạm tội. Họ có thể bị tước bỏ hoặc bị hạn
chế những quyền và lợi ích thiết thân nhất, chẳng hạn như tước quyền tự do
(hình phạt tù có thời hạn, tù chung thân), hạn chế quyền tự do cư trú (các hình
phạt quản chế, cấm cư trú, trục xuất), tước các quyền dân sự, chính trị (hình
phạt cấm đảm nhiệm chức vụ nhất định, cấm hành nghề hoặc làm công việc
nhất định; hình phạt tước quyền công dân), tước quyền lợi vật chất (các hình
phạt tiền, tịch thu tài sản), thậm chí họ có thể bị tước cả quyền sống của mình
(hình phạt tử hình). Đồng thời, khi áp dụng hình phạt đối với người phạm tội,

trong Bộ luật hình sự. Tuy nhiên, nhiều trường hợp, người phạm tội phạm
nhiều tội tương ứng với việc tuyên nhiều hình phạt. Về mặt lý luận cũng như
thực tiễn xét xử cho thấy, không phải người phạm nhiều tội nào cũng bị phát
hiện và đem ra xét xử cùng một lúc. Có trường hợp một người thực hiện
nhiều hành vi phạm tội bị phát hiện, được đưa ra xét xử cùng một lần và bị
Tòa án tuyên nhiều hình phạt (trường hợp phạm nhiều tội). Tuy nhiên, cũng
có trường hợp bị cáo đang chấp hành một bản án lại bị đem ra xét xử về một
tội mà người đó đã phạm trước hoặc sau khi có bản án đang chấp hành
(trường hợp có nhiều bản án). Trong các trường hợp trên, người bị kết án sẽ
phải chịu nhiều hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm của
các hành vi phạm tội. Hình phạt người bị kết án phải chấp hành có thể cùng
3 Quốc hội (1999), Bộ luật hình sự, Hà Nội.
4 Quốc hội (1999), Bộ luật hình sự, Hà Nội.

14


loại nhưng cũng có thể khác loại. Có loại hình phạt có thể quy về cùng loại
nhưng cũng có trường hợp bị cáo phải chấp hành đồng thời nhiều hình phạt.
Để đánh giá toàn diện về nhân thân người phạm tội cũng như thể hiện đầy đủ
nhất thái độ của Nhà nước đối với họ, khi xét xử Tòa án phải tổng hợp tất cả
các hình phạt đã tuyên thành hình phạt chung. Mặt khác, việc tổng hợp hình
phạt sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho các cơ quan thi hành án khi thực hiện chức
năng, nhiệm vụ của mình.
Tóm lại, tổng hợp hình phạt là việc Tòa án xác định hình phạt chung
cho người phạm tội bị kết án.
Trong Bộ luật hình sự Việt Nam năm 1999 có bốn trường hợp khi xét xử
Tòa án phải tổng hợp hình phạt. Đó là: tổng hợp hình phạt trong trường hợp
phạm nhiều tội (Điều 50), tổng hợp hình phạt trong trường hợp có nhiều bản
án (Điều 51), tổng hợp hình phạt đối với người chưa thành niên phạm nhiều

đúng người đúng tội, vừa bảo vệ được pháp chế xã hội chủ nghĩa và thể hiện
được sự công bằng và minh bạch trong việc hoạt động xét xử.
Thứ ba, việc tổng hợp hình phạt đúng sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho các cơ
quan thi hành án thực thi nhiệm vụ của mình, góp phần tăng cường sự phối hợp
giữa các cơ quan tiến hành tố tụng với các cơ quan có liên quan. Trong thực tế,
nhiều khi người bị kết án phải chịu nhiều hình phạt nhưng các hình phạt lại
không được tổng hợp theo đúng quy định của pháp luật gây khó khăn cho các cơ
quan thi hành án trong quá trình thực hiện, do vậy có nhiều bản án có hiệu lực
nhưng phần hình phạt lại chưa được chấp hành. Điều này dễ dẫn đến tình trạng
sai sót trong quá trình xét xử, một số đối tượng sẽ coi thường pháp luật, kỉ cương
của nhà nước. Ảnh hưởng đến công tác đấu tranh phòng chống tội phạm
1.2. Nguyên tắc và phương pháp tổng hợp hình phạt :
1.2.1. Nguyên tắc tổng hợp hình phạt
Có nhiều cách định nghĩa về khái niệm “Nguyên tắc”. Mỗi ngành khoa
học, mỗi lĩnh vực cụ thể đề cập tới vấn đề nguyên tắc theo góc độ riêng, đặc
16


thù cho ngành khoa học hay lĩnh vực hoạt động đó. Có thể hiểu “Nguyên tắc
là những điều cơ bản đi tổ chức đặt ra dựa trên những quan điểm tư tưởng
nhất định đòi hỏi các tổ chức và cá nhân phải tuân theo” 5 hay theo nghĩa
chung thì nguyên tắc được hiểu là "điều cơ bản định ra nhất thiết phải tuân
theo trong một loạt việc làm". Mặc dù sử dụng câu chữ khác nhau nhưng
những định nghĩa trên đều hướng đến một cách nhìn nhận thống nhất với
nhau. Tổng hợp hình phạt là một chế định trong luật hình sự nên cũng chịu sự
chỉ đạo của các nguyên tắc chung của luật hình sự. Do vậy, các nguyên tắc
tổng hợp hình phạt là những tư tưởng chỉ đạo trong quá trình xây dựng và áp
dụng các quy phạm pháp luật hình sự để Tòa án tổng hợp hình phạt chính xác
đối với người phạm tội.
Tuy nhiên, ngoài việc tuân theo những nguyên tắc tư tưởng chỉ đạo

trong quá trình thực hiện nguyên tắc này ở trong thực tế, cần chú trọng xem
xét hiểu đúng nội dung nguyên tắc này để tránh dẫn đến tình trạng máy móc,
cứng nhắc khi áp dụng các quy định pháp luật vào việc giải quyết vụ án cụ
thể. Nội dung của nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa trong tổng hợp hình
phạt được thể hiện cả trong luật hình sự và áp dụng luật hình sự.
Trong luật hình sự, nội dung nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa trong
tổng hợp hình phạt thể hiện qua việc đã quy định rõ giới hạn của hình phạt
chung đối với từng loại hình phạt. Cụ thể: tại điểm a, khoản 1, Điều 50 quy
định "...hình phạt chung không được vượt qua ba năm đối với hình phạt cải
tạo không giam giữ, ba mươi năm đối với hình phạt tù có thời hạn", hay ở
khoản 2 Điều 50, Điều 74 cũng quy định tương tự. Ngoài ra theo quy định tại
khoản 3, Điều 51: "Trong trường hợp một người phải chấp hành nhiều bản án
có hiệu lực pháp luật mà các hình phạt của các bản án chưa được tổng hợp,
thì Chánh án Tòa án ra quyết định tổng hợp các bản án theo quy định tại
khoản 1 và khoản 2 Điều này", điều luật này thể hiện trong BLHS đã có quy
6 Quốc hội (2013), Hiến pháp, Hà Nội.

18


định nhằm bảo đảm cho hiệu lực của bản án và bảo đảm tính nghiêm túc của
pháp luật. Nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa trong tổng hợp hình phạt còn
được thể hiện qua các quy định thể hiện thái độ nghiêm khắc của Nhà nước
đối với những kẻ phạm tội không biết ăn năn, hối cải, coi thường pháp luật,
không có ý thức cải tạo tốt để hoàn lương mà tiếp tục có hành vi vi phạm
pháp luật. Đó là quy định tại khoản 5, Điều 60: "Đối với những người được
hưởng án treo mà phạm tội mới trong thời gian thử thách, thì Tòa án quyết
định buộc phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình
phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 51 bộ luật này" .7 Hay trong quy
định về tổng hợp hình phạt tại khoản 2, Điều 51 đối với một người đang phải

vẫn là công dân Việt Nam, vẫn là thành viên của xã hội. Chính vì vậy, khi
xem xét hành vi phạm tội của họ, Nhà nước luôn chú ý đến nhiều khía cạnh
như độ tuổi, tình trạng sức khỏe, tình trạng bản thân khi phạm tội như mang
thai, hoàn cảnh gia đình đang gặp khó khăn đặc biệt để xác định mức hình
phạt phù hợp, điều đó xuất phát từ đạo đức, truyền thống dân tộc Việt Nam và
được thấm nhuần trong nguyên tắc nhân đạo xã hội chủ nghĩa của Luật Hình
sự Việt Nam.
Tư tưởng nhân đạo luôn thể hiện rõ nét trong đường lối chính sách của
Đảng và các văn bản pháp luật của Nhà nước. Nội dung nguyên tắc nhân đạo
xã hội chủ nghĩa trong tổng hợp hình phạt được thể hiện cả trong luật hình sự
và áp dụng pháp luật hình sự.
Trong luật hình sự, nội dung nguyên tắc nhân đạo xã hội chủ nghĩa trong
tổng hợp hình phạt được thể hiện qua các quy định đối với người chưa thành
niên phạm tội, các quy định về giới hạn mức cao nhất đối với từng loại hình
phạt khi tổng hợp hình phạt. Những quy định về mức hình phạt tại Điều 74
của BLHS là một trong những quy định thể hiện tinh thần nhân đạo của pháp
luật, của nhà nước xã hội chủ nghĩa đối với người chưa thành niên. Hình phạt
đối với người chưa thành niên chủ yếu mang tính giáo dục nhằm đưa các em
20


trở về làm người có ích cho xã hội. Ngoài ra, Điều 50 Bộ luật hình sự năm
1999 quy định giới hạn mức cao nhất của hình phạt chung đối với từng loại
hình phạt. Ví dụ: Khoản 1 quy định: "Nếu các hình phạt đã tuyên cùng là cải
tạo không giam giữ hoặc cùng là tù có thời hạn, thì các hình phạt đó được
cộng lại thành hình phạt chung; hình phạt chung không được vượt quá ba
năm đối với hình phạt cải tạo không giam giữ, ba mươi năm đối với hình phạt
tù có thời hạn".8 Việc quy định giới hạn mức cao nhất của hình phạt chung
cũng là thể hiện tinh thần nhân đạo trong chính sách hình sự của Nhà nước
bởi lẽ nếu không có quy định này thì người phạm tội có thể phải chịu một

hình phạt vừa đấu tranh ngăn ngừa và phòng chống tội phạm.
1.2.1.3 Nguyên tắc cá thể hoá trong tổng hợp hình phạt
Cá thể hóa hình phạt là một trong những nguyên tắc quan trọng, nguyên
tắc đặc thù của chế định hình phạt. Nội dung chính của nguyên tắc này là hình
phạt phải phù hợp với tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi
phạm tội, phù hợp với nhân thân người phạm tội cũng như hoàn cảnh phạm
tội, cần cân nhắc áp dụng các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình
sự để lựa chọn loại và mức hình phạt cụ thể áp dụng cho người phạm tội sao
cho hợp lý, công bằng và nhân đạo. Trong luật hình sự, hình phạt chung được
tuyên trên cơ sở từng hình phạt riêng đối với từng tội do đó nội dung nguyên
tắc cá thể hóa trong tổng hợp hình phạt trước hết phải tuân theo nguyên tắc cá
thể hóa hình phạt trong hoạt động quyết định hình phạt, sau đó là những nội
dung riêng của tổng hợp hình phạt. Ở phần chung của Bộ luật hình sự, nội
dung nguyên tắc cá thể hóa hình phạt được thể hiện ở các quy định về:
nguyên tắc xử lý tội phạm (Điều 3); phân loại tội phạm (Điều 8); căn cứ quyết
định hình phạt (Điều 45); quyết định hình phạt trong trường hợp chuẩn bị
phạm tội, phạm tội chưa đạt (Điều 52); quyết định hình phạt trong trường hợp
đồng phạm (Điều 53); nguyên tắc xử lý người chưa thành niên phạm tội (Điều
69, Điều 74, Điều 75). Ở phần các tội phạm, nguyên tắc cá thể hóa hình phạt
22


trong quyết định hình phạt được thể hiện ở chỗ các chế tài quy định cho các
tội phạm cụ thể chủ yếu là chế tài lựa chọn. Hầu hết các tội phạm cụ thể đều
có các khung hình phạt với mức hình phạt nặng nhẹ khác nhau. Do vậy, tùy
từng trường hợp cụ thể Tòa án quyết định hình phạt phù hợp với tính chất
nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội.
1.2.1.4. Nguyên tắc công bằng trong tổng hợp hình phạt
Theo cuốn Từ điển tiếng Việt thì công bằng được hiểu là "theo đúng lẽ
phải, không thiên vị".9 Ở nước ta, công bằng đã trở thành một đạo lý tốt đẹp

trong việc hiểu và vận dụng cách thức tổng hợp hình phạt trên cả nước, tránh
tình trạng mỗi nơi hiểu theo một cách dẫn đến sự thiếu thống nhất trong quá
trình giải quyết các vụ án. Khi quyết định hình phạt riêng cho từng tội, Tòa án
phải xem xét tất cả các tình tiết có trong vụ án, không được bỏ sót bất kỳ tình
tiết nào có liên quan đến hành vi phạm tội cũng như khả năng đạt được mục
đích của hình phạt, từ đó quyết định hình phạt thỏa đáng, công bằng với bị
cáo và như vậy việc tổng hợp hình phạt mới phù hợp với toàn bộ các hành vi
phạm tội của bị cáo.
1.2.2. Phương pháp tổng hợp hình phạt:
Việc tổng hợp hình phạt phải tuân thủ theo những phương pháp nhất
định. Đó là phương pháp thu hút, phương pháp cộng hình phạt và phương
pháp cùng tồn tại.
Về phương pháp cộng hình phạt, nguyên tắc cộng hình phạt có hai
trường hợp: phương pháp cộng toàn bộ và phương pháp cộng một phần.
Phương pháp cộng toàn bộ là phương pháp cho phép cộng toàn bộ các hình
phạt thành hình phạt chung. Phương pháp này được áp dụng khi có thể và cần
thiết phải cộng toàn bộ các hình phạt với nhau (hình phạt chung sau khi đã
cộng không vượt giới hạn mà luật cho phép đối với loại hình phạt đó).
Phương pháp cộng một phần là phương pháp cho phép cộng hình phạt cao
nhất với một phần hình phạt còn lại thành hình phạt chung. Phương pháp này
24


được áp dụng khi, không thể cộng toàn bộ được vì mới cộng một phần với
hình phạt nặng nhất đã đạt mức tối đa cho phép của loại hình phạt này.
Ví dụ: A bị Toà án tuyên phạt 20 năm tù về tội cướp tài sản theo khoản 3
Điều 133 BLHS, 10 năm tù về tội cướp giật tài sản theo khoản 4 Điều 136.
Trong trường hợp này, hình phạt chung mà bị cáo A phải chấp hành là 30 năm
tù.
Về phương pháp thu hút, theo phương pháp thu hút, hình phạt chung là


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status