Website: Email : Tel : 0918.775.368
LỜI NÓI ĐẦU
Sau hai mươi năm đổi mới nền kinh tế nước ta đang khởi sắc và thu được
nhiều thành tựu đáng kể. Từ khi chuyển sang nền kinh tế thị trường việt nam đã
và đang hội nhập vào nền kinh tế thế giới. Với chính sách mềm dẻo đã thu hút
được nhiều nhà đầu tư nước ngoài đầu tư vào Việt Nam. Giống như thực tế đã
chứng minh không có quốc gia nào phát triển mà không có sự giao lưu với các
nước khác. Sự giao lưu buôn bán giữa các nước là một xu hướng tất yếu của nền
kinh tế. Sự phát triển của thương mại quốc tế giúp các nước gắn kết và giúp đỡ
lẫn nhau trong sự phát triển chung của thế giới. Thương mại quốc tế ngày nay đã
vượt qua không gian và thời gian tạo những luồng dịch chuyển hàng hoá, tiền tệ
để đáp ứng cung cầu.
Thanh toán quốc tế là hoạt động chủ yếu của một quốc gia trong sự phát
triển của đất nước. Nó giúp quốc gia khai thác những thế mạnh của đất nước so
với các nước khác trên thế giới. Với tư cách là một nhân tố quan trọng, không
thể thiếu được cho sự phát triển của thương mại quốc tế ,công tác thanh toán
quốc tế không ngừng đổi mới và hoàn thiện với những phương thức thanh toán
an toàn và hiệu quả cao các bên tham gia. Thanh toán quốc tế là khâu quan trọng
quyết định hiệu quả của quá trình trao đổi. Nó là mắt xích không thể thiếu được
trong cỗ máy thương mại quốc tế. Với nhiều hình thức thanh toán đa dạng phù
hợp với từng giai đoạn phát triển cụ thể. Ngày nay phương thức thanh toán thư
tín dụng đang được sử dụng phổ biến trên toàn thế giới. Trong qua trình thanh
toán ngân hàng thương mại đóng vai trò là chung gian thanh toán. Ngân hàng
thương mại đóng vai trò là chất xúc tác giúp cho quá trình thanh toán diễn ra
nhanh hơn, hiệu quả hơn và là chất bôi trơn giúp cho qua trinh thanh toán quốc
tế diễn ra một cách nhịp nhàng và thông suốt.
Tại Việt Nam,cùng với hội nhập kinh tế thế giới, hoạt động xuất nhập
khẩu đã thực sự bùng nổ kéo theo sự phát triển mạnh mẽ của công tác thanh toán
quốc tế tại các ngân hàng thương mại. Phương thức thanh toán bằng thư tín dụng
cũng được sử dụng ngày càng nhiều trong thanh toán hàng hoá xuất nhập khẩu.
1
2
Website: Email : Tel : 0918.775.368
CHƯƠNG I
TỔNG QUAN VỀ RỦI RO THANH TOÁN QUỐC TẾ
THEO PHƯƠNG THỨC THANH TOÁN TÍN DỤNG CHỨNG TỪ
1. 1. Thanh toán quốc tế
1.1.1. Bản chất của thanh toán quốc tế
Trong xu thế toàn cầu hoá, thương mại quốc tế ngày càng có vai trò quan
trọng trong sự phát triển của một quốc gia. Chúng ta biết rằng thương mại quốc
tế đã xuất hiện từ rất lâu trong lịch sử phát triển của loài người. Từ thế kỷ X, ở
châu âu đã xuất hiện nhiều trung tâm buôn bán lớn nổi tiếng trên thế giới. Còn ở
châu á việc phát triển buôn bán giữa các quốc gia phát triển rất sớm. Điển hình
“con đường tơ lụa “ là một minh chứng cho sự giao lưu buôn bán giữa hai châu
lục. Tuy nhiên, việc trao đổi buôn bán giữa các quốc gia không tránh khỏi những
rủi ro như nạn cướp bóc, thiên tai... nhưng rủi ro nhất cho các thương gia là
trong việc thanh toán. Vì vậy nghiệp vụ thanh toán hộ của ngân hàng ra đời.
Những ngân hàng có quan hệ chặt chẽ với nhau sẽ đứng ra thanh toán cho khách
hàng của mình dựa trên các chứng từ do thương nhân xuất trình.
Theo lý thuyết của kinh tế học vĩ mô, kinh tế thị trường là nền kinh tế mở,
có quan hệ giao dịch kinh tế với các quốc gia và với các tổ chức kinh tế, tài
chính tiền tệ quốc tế. Trong phạm vi một quốc gia có nền kinh tế mở, các hoạt
động giao dịch quốc tế được gọi là kinh tế đối ngoại, đây là lĩnh vực đặc biệt
quan trọng, bao gồm các hoạt động ngoại thương, hợp tác quốc tế về đầu tư, thu
hút vốn đầu tư nước ngoài, hợp tác về khoa học công nghệ, dịch vụ du lịch, thu
ngoại tệ...
Trong xu hướng phát triển kinh tế thế giới hiện nay, các nước đều không
nghừng phát triển quan hệ kinh tế đối ngoại, trong đó thương mại quốc tế đóng
vai trò quan trọng. Ngoại thương được đánh giá là một ngành quan trọng đối với
một quốc gia, là động lực phát triển của quốc gia. Một mặt nó tạo nguồn vốn
ngoại tệ cho đất nước, mặt khác thúc đẩy sự thay đổi trong cơ cấu của tổng sản
ngừng. Từ đây phát sinh các mối liên hệ giữa người mua và người bán, người
4
Website: Email : Tel : 0918.775.368
cho vay và người trả nợ, người đầu tư và người nhận đầu tư...và các bên liên
quan trong quan hệ quốc tế có sự khác nhau về địa lý, về loại tiền sử dụng, về
tập quan kinh doanh... vì vậy thanh toán quốc tế ra đời là đòi hỏi tất yếu để giải
quyết một phần và làm hài hoà các mối quan hệ đó.
Thanh toán quốc tế là một hình thức dịch vụ quan trọng gắn liền với hoạt
động kinh doanh xuất nhập khẩu.
Kể từ khi tiền tệ ra đời, hoạt động thanh toán đã trở thành bộ phận riêng
nhưng lại gắn bó hữu cơ với hoạt động buôn bán hàng hoá,dịch vụ điều khoản
thanh toán luôn luôn là điều không thể thiếu và rất quan trọng.Thực hiện thanh
toán như thế nào liên quan chặt chẽ tới quyền lợi, trách nhiệm, nghĩa vụ của các
bên trong hợp đồng.Các điều khoan thanh toán được quy định và thoả thuận một
cách thống nhất và chặt chẽ sẽ tạo điều kiện cho các bên tham gia tránh được
những rủi ro, cũng như có biện pháp phòng ngừa rủi ro. Việc thực hiện các điều
khoản thanh toán có nghiêm túc hay không có ảnh hưởng tới uy tín và độ bền
vững trong quan hệ mua bán giữa các bên trong thương trường. Do đó có thể nói
hiệu quả kinh tế trong lĩnh vực king doanh XNK một phần lớn nhờ vào chất
lượng khâu thanh toán, từ đó thúc đẩy hoạt động kinh tế đối ngoại phát triển.
Thanh toán quốc tế là thước đo, là nhân tố ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu
quả kinh doanh
Thanh toán quốc tế ảnh hưởng trức tiếp đến vòng quay vốn của các doanh
nghiệp trong lĩnh vực sản xuất kinh doanh XNK, do vậy ảnh hưởng đến doanh
thu cũng như lợi nhuận của các bên tham gia. Thông qua hoạt động thanh toán,
chúng ta có thể đánh giá khả năng tài chíng ,uy tín cũng như tiềm lực của mỗi
đơn vị. Chính vì vậy xem xét tình hình thanh toán là một trong những cơ sở đẻ
tìm đối tác., bạn hàng trong quan hệ kinh doanh sao cho có lợi cho mình nhiều
nhất. Có thể nói rằng kinh tế đối ngoại có được mở rộng hay không một phần
nhờ vào thanh toán quốc tếcó được thực hiện tốt hay không. Thanh toán quốc tế
6
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Trên phương diện quản lý nhà nước, thông qua hoạt động thanh toán quốc
tế, chính phủ thực hiện tốt việc quản ký nguồn ngoại tệ ra vào của một quốc gia
dựa trên cán cân thanh toán quốc tế và làm cơ sở cho việc xây dựng và thưch
hiện chính sách tài khoá tièn tệ.
1.1.4. Các điều kiện trong thanh toán quốc tế
1.1.4.1. Điều kiện tiền tệ
Trong thanh toán quốc tế, cả hai bên đối tác cùng quan tâm đến những
vấn đề có lợi nhất cho mình. Đây là thoả thuận liên quan đến sử dụng đồng tiền
nào để tính thanh toán, để thực hiện chi trả trong thanh toán. Sự lựa chọn đúng
đắn về điều kiện tiền tệ trong thanh toán quốc tế là một trong những yếu tố
quyết định đến hiệu quả trong hoạt động kinh doanh đối ngoại.
Tiêu chí lựa chọn đồng tiền dùng thanh toán đó là : thứ nhất đồng tiền
phải có vị trí xứng đáng trên thị trường tiền tệ quốc tế ; thứ hai phải phù hợp
tương quan so sánh lực lượng trong quan hệ thương mại; thứ ba phù hợp với tập
quán sử dụng đồng tiền đó trong khu vực; phù hợp với tập quán thanh toán trong
các ngân hàng.
1.1.4.2. Điều kiện đảm bảo hối đoái
Trong nền kinh tế thị trường, giá trị của các đồng tiền, dù là đồng tiền
mạnh đều có thể xảy ra sự biến động tăng, hoặc giảm, điều đó sẽ gây tổn thất
cho người mua hoặc người bán hàng hoá. Để tránh rủi ro có thể xảy ra khi tỷ giá
biến động, các bên tham gia thanh toán thường đàm phán điều kiện đảm bảo hối
đoái cho giá trị hợp đồng khi thanh toán đúng như giá trị hàng hoá đã nhận, hoặc
đã trao.
Các hình thức đảm bảo cho giá trị tiền tệ của hợp đồng như đảm bảo bằng
vàng; đảm bảo bằng ngoại hối; đảm bảo bằng “rổ” ngoại tệ; đảm bảo bằng tiền
tệ quốc tế; đảm bảo theo sự biến động của chỉ số giá cả quốc tế đối với hàng hoá
đó.
1.1.4.3. Điều kiện về thời gian thanh toán
được, hoặc mô tả như thế nào mà theo đó một ngân hàng (ngân hàng phát hành)
8
Website: Email : Tel : 0918.775.368
hoạt đọng theo yêu cầu và theo chỉ thị của một khách hàng (người yêu cầu phát
hành thư tín dụng)hoặc nhân danh chính mình:
Thanh toán tiền theo lệnh của một người thứ 3 ( người hưởng lợi ) oặc
phải chấp nhậ và trả tiền cho các hối phiếu do người hưởng lợi kí phát.
Uỷ quyền cho một ngân hàng khác tiến hành thanh toán hoặc chấp nhận
trả tiền các hối phiếu đó.
Uỷ quyền cho một ngân hàng khác đến chiét khấu khi các chứng từ quy
định được xuất trình phù hợp với các điều khoản, điều lệ của thư tín dụng.
Như vậy phương thức tín dụng chứng từ là một cam kết thanh toán có
điều lệ của ngân hàng (ngân hàng mở L/C-issuing bank) cho người bán hàng
( người hưởng lợi –beneficiary)
Theo yêu cầu của người mua (applicant) để trả ngay hoặc đợi tới một thời
điểm xác định trong phạm vi thời hạn đã xác định và căn cứ vào các chứng từ đã
quy định phù hợp với các điều lật của L/C.
1.2.2. Các bên tham gia thanh toán
Người xin mở thư tín dụng (the applicant for the credit): là người mua,
người nhập khẩu hàng hoá, người mở thư tín dụng.
Ngân hàng mở thư tín dụng (isuing bank) là ngân hàng đại diện cho người
nhập khẩu còn gọi là ngân hàng phát hành.
Người hưởng lợi( beneficiary) là người bán,người xuất khẩu hay bất cứ
người nào khác mà người hưởng lợi chỉ định.
Ngân hàng thông báo(advíing bank) là ngân hàng được ngân hàng phát
hành yêu cầu thông báo cho nhà xuất khẩu vvề việc mở thư ín dụng.
Ngoài ra còn có thể cho một số ngân hàng khác tham gia vào phương thức
thanh toán này như :
Ngân hàng xác nhận (confirming bank) là ngân hàng nhận trách nhiệm
thanh toán cuối cùng nếu ngân hàng phát hành không thể thanh toán chứng từ
+ Các nội dung liên quan đến hàng hoá
+ Yêu cầu về chủng loại chứng từ, số lượng từng chủng loại, tên người ký
phát chứng từ mà người xuất khẩu
10
Website: Email : Tel : 0918.775.368
+ Các yêu cầu như nơi gửi hàng, điều kiện giao hàng, ngày giao hàng cuối
cùng, thời hạn hiệu lực của việc suất trình chứng từ thanh toán, ngày địa điểm
hết hạn hiệu lực của L/C, có yêu cầu ngân hàng xác nhân L/C hay không.
Hai bên mua bán có sự thống nhất về các điều khoản của thư tín dụng,
bao gồm thanh toán phí ngân hàng và phương thức gửi thư tín dụng cho người
hưởng. Có sự thống nhất vè các yêu cầu của người hưởng về ngân hàng mở thư
tín dụng, ngân hàng thông báo, ngân hàng xác nhận ,ngân hàng thương lượng,
ngân hàng thanh toán.
Ngân hàng sẽ lập một thư tín dụng và thông qua ngân hàng của mình ở
nước người nhập khẩu thông báo về việc mở thư tín dụng và thư tín dụng đến
người xuất khẩu. Ngân hàng xem xét toàn bộ nội dung của đơn xin mở L/C,
đồng thời có thể tư vấn cho khách hàng để lựa chọn L/C phù hợp, tránh được
những sai sót, sơ hở, yêu cầu ký quỹ khi mở L/C, tính toán thu phí mở L/C theo
quy định hiện hành. Tiếp đó ngân hàng chuyển bản chính L/C cho ngân hàng đại
lý ở nước người xuất khẩu hoặc ngân hàng được chỉ định trong L/C.
Khi nhận được thông báo này, ngân hàng thông báo sẽ thông báo cho
người xuất khẩu toàn bộ nội dung thông báo về việc mở thư tín dụng và khi
nhận được bản gốc thư tín dụng thì chuyển ngyay cho người xuất khẩu sau khi
đã kiểm tra tính chân thực của thư tín dụng. Thông thường ngân hàng thông báo
L/C là chi nhánh hoặc đại lý cho ngân hàng mở L/C ở nước người xuất khẩu.
Tuy nhiên cá biệt là ngân hàng thông báo L/C là một ngân hàng khác được chỉ
định trong L/C. Ngân hàng thông báo thu phí thông báo.
Người xuất khẩu nếu chấp nhận thư tín dụng thì tiến hành giao hàng, nếu
có điều khoản nào đó trong thư tín dụng chưa thoả mãn thì tiến hàng đè nghị
ngân hàng mở thư tín dụng và nhà xuất khẩu sửa đổi, bổ sung thư tín dụng cho
+ Tín dụng thư huỷ ngang (Irrevocable L/C)
+ Tín dụng thư không huỷ ngang(Revocable L/C).
Hai là phân theo phương thức sử dụng bao gồm:
12
Website: Email : Tel : 0918.775.368
+ Tín dụng thư không huỷ ngang có giá trị trực tiếp(Irrevocable Streight
document Credit)
+ Tín dụng thư huỷ ngang có giá trị chiết khấu( Irrevocable Negotiation
document Credit)
+ Tín dụng thư không huỷ ngang và không xác nhận ( Irrevocable
Document Credit Unconfirmed Document Credit)
+ Tín dụng thư không huỷ ngang có xác nhận( Irrevocable Confirmed
Document credit)
+ Tín dụng thư tuần hoàn( Revolving Document Credit)
+ Tín dụng thư với điều khoản đỏ( Red clause Document Credit)
+ Tín dụng thư dự phòng ( Standby Credit)
+ Tín dụng thư chuyển nhựơng ( Transferable Đocumen Credit)
+ Tín dụng thư giáp lưng( Back -to- Back Đocument Credit)
Ba là phân theo phương thức thanh toán bao gồm:
+ Tín dụng trả ngay( Sight Credit)
+ Tín dụng trả chậm ( Deferred / Usance Credit)
Thực ra, trong giao dịch thỉnh thoảng ta vẫn gặp loại tín dụng này mặc
dù cách gọi có vẻ mới lạ. Đây là loại tín dụng chứng từ được yêu cầu xuất trình
trực tiếp để thanh toán tại nhân hàng phát hành. Do vậy thời hạn hiệu lực kết
thúc tại ngân hàng phát hành. Sau đay là một số loại tín dụng thư thường gặp :
1.2.3.1. Thư tín dụng không thể huỷ bỏ ( Irrevocable letter of credit)
Là loại tín dụng thư sau khi mở thì ngân hàng mở L/C không được sửa
đổi bổ sung hoặc huỷ bỏ trong thời gian hiêu lực của nó, trừ khi có sụư thoả
thuận của tất cả các bên tham gia giao dịch. Một L/C không ghi
IRREVOCABLE thì vẫn được coi là không huỷ bỏ được. Thư tín dụng không
được viết bằng mực đỏ để lưu ý tính chất đặc biệtcủa loại thư tín dụng này. Theo
đó, người mở tín dụng thư cam kết tài trợ cho nhà xuất khẩu ngay khi tín dụng
thư được mở. Hai bên đối tác phải có quan hệ song phương truyền thống và uy
14
Website: Email : Tel : 0918.775.368
tín. Phía nhập khẩu phải là công ty lớn và đủ vốn. Phía xuất khẩu có nguồn hàng
hoá suất khẩu nhưng thiếu vốn.
Với “điều khoả đỏ” ngân hàng phát hành cam kết ứng trước một số tiền
nhất định của giá trị tín dụng thư khi nhận được các chứng từ, thông thường là :
Hối phiếu của số tiền ứng trước; hoá đơn; cam kết trả nợ hoặc cam kết giao hàng
và các chứng từ thoả thuận. Rất nhiều trường hợp người mở chỉ ứng trước tiền
hàng cho người hưởng dưới sự bảo lãnh của ngân hàng người hưởng. Như vậy,
người hưởng sẽ thương lượng với ngân hàng mình để phát hành bảo lãnh trước
khi nhận tiền theo điều khoản đỏ. Một số người ngộ nhận là với tín dụng thư có
điều khoản đỏ, người hưởng sẽ được ngân hàng thông báo cấp tín dụng ngay sau
khi nhận được tín dụng thư. Điều cần hiểu là tiền ứng trước được lấy từ tài
khoản người mở, nghĩa là tín dụng thư thương mại, mà không phải khoản tín
dụng của ngân hàng thông báo hay ngân hàng phát hành. Ngân hàng thông bó
chỉ thực hiện các thủ tục theo điều khoản của thư tín dụng mà không cam kết
hoặc chịu trách nhiệm về số tiền đó. Việc ứng trước được ngân hàng phát hành
uỷ quyền cho ngân hàng thông báo thực hiện. Sau đó ngân hàng phát hành sẽ
trích tài khoản của người mở chuyển cho ngân hàng thông báo.
1.2.3.6. Thư tín dụng toàn hoàn ( Revolving letter of credit)
Thư tín dụng tuần hoàn là loại L/C không thể huỷ bỏ, sau khi sử dụng
xong đã hết hiệu lực thì nó tự động có giá trị như cũ cứ như thế cho đến khi tổng
giá trị hợp đồng được thực hiện.
Thư tín dụng toàn hoàn cần ghi ngày hết hạn hiệu lực cuối cùng, số lần
toàn hoàn và giá trị tối thiểu của mỗi lần đó.
1.2.3.7. Thư tín dụng dự phòng ( Stand by letter of credit)
Là loại L/C quy định việc hoàn lại số tiền của thư tín dụng trong trường
1.2.4.1. Đối với người bán
Đảm bảo việc thanh toán vì có nhân hàng mở đứng ra cam kết thanh toán
không phụ thuộc vào những ảnh hưởng khác. Được ngân hàng khống chế bộ
16
Website: Email : Tel : 0918.775.368
chứng từ không sợ mất quyền sở hữu về hàng hoá hay tốn chi phí vận chuyển
hàng nếu làm đúng yêu cầu của thư tín dụng. Nhà xuất khẩu có thẻ nhận được sự
hỗ trợ của ngân hàng cả về tài chính lẫn thông tin.
Tuy nhiên, nhà xuất khẩu phải lựa chọn loại thư tín dụng nào bảo đảm
quyền lợi cho mình nhiều nhất, đồng thời kiểm tra kỹ các điều khoản ghi trong
thư bởi vì nó sẽ ảnh hưởng tới lợi ích của mình sau này. Tuỳ thuộc vào khả năng
của mình có đáp ứng được yêu cầu của hợp đồng hay không để đảm bảo lập bộ
chứnh từ phù hợp.
1.2.4.2. Đối với người mua
Khi lập L/C thì người mua được ngân hàng kiểm tra giúp bộ chứng từ,
đảm bảo được hàng hoá mà mình ký hợp đồng đúng số lượng và chất lượng,
thời hạn giao hàng... tuy nhiên người mua phải thận trọng khi làm đơn mở L/C,
phải đưa ra những điều kiện để cho người bán có thể thực hiện được vừa phải
bảo đảm được quyền lợi của mình. Ngoài ra không tránh được trường hợp mua
bị người bán gian lận lập bộ chứng từ khống để thanh toán.
1.2.4.3. Đối với ngân hàng
Mở rộng nghiệp vụ kinh doanh của ngân hàng tăng thu nhập, nâng cao
trình độ nghiệp vụ của các cán bộ ngân hàng.
Thông qua nghiệp vụ của ngân hàng sẽ góp phần giúp đỡ các khách hàng
xuất nhập khẩu của mình đồng thời thúc đẩy quá trình thanh toán quốc tế được
phát triển. Tuy nhiên trong phương thức thanh toán L/C, ngân hàng chỉ có thể
không chế về mặt hình thức chứng từ, mà không thể kiểm soát được tính chất
pháp lý hay tính chân thực của các loại chứng từ đó. Hơn nưa việc thanh toán
diễn ra tương đối phức tạp bởi sự tham gia của nhiều bên, quá trình thanh toán
tỷ mỉ và máy móc.
phải gặp rủi ro, nhiều khách hàng không trả được nợ cho ngân hàng.
+ Thứ ba ngân hàng là một tổ chức kinh tế chịu sự quản lý vĩ mô của nhà
nước theo hành lang hẹp. Nhà nước can thiệp vĩ mô trong nền kinh tế thị trường.
Trong ngành ngân hàng chịu sự quản lý của chính phủ thông qua các công cụ,
18
Website: Email : Tel : 0918.775.368
chính sách của nhà nước, những quy định ,nghị định, pháp lệnh của ngân hàng
nhà nước thì ngân hàng gặp không ít khó khăn thậm chí còn gánh chịu cả tổn
thất trong hoạt động kinh doanh của mình.
+ Thứ tư ngân hàng là một tổ chức tài chính có quan hệ mật thiết với mọi
thành phần kinh tế trong nền kinh tế quốc dân. Do vậy bất kỳ một sự biến động
nào của ngân hàng đều ảnh hưởng tới sự phát triển kinh tế của đất nước và
ngược lại.
Tóm lại, do đặc thù của hoạt động kinh doanh ngân hàng nên rủi ro trong
ngân hàng rà rất lớn, nó không những gây tổn hại cho ngân hàng mà còn ảnh
hưởng tới toàn bộ nền kinh tế quốc dân. Vì vây nhận thức đúng đắn và đầy đủ về
rủi ro trong kinh doanh ngân hàng là một vấn đè thiết yếu đẻ từ đó đưa ra các
biện pháp hạn chế rủi ro gây hậu quả cho sự phát triển kinh tế của đất nước.
Trong quá trình hoạt động kinh doanh, thông qua các nghiệp vụ của mình
ngân hàng phải đôis mặt với rất nhiều rủi ro. Những rủi ro này có mối quan hệ
mật thiết với nhau nếu không có biện pháp phòng chống dễ gây ra rủi ro hệ
thống.
Trong thanh toán quốc tế, do phạm vi rộng lớn và bao gồm nhiều đối
tượng tham gia nên rủi ro có thể xuất hiện dưới nhiều hình thức. Thông thường
khi rủi ro xảy ra thì người chịu thiệt hại lớn nhất lại chính là những người xuất
nhập khẩu do tính chất đặc thù của loại hình này. Ngân hang thương mại với vai
trò của mình là trung gian cung các dịch vụ thanh toán cho khách hàng, thu được
một khoản phí mà không phải chịu hậu quả mà rủi ro gây ra. Nhưng trên thực tế
lại không phải như vậy, hoạt động thanh toán quốc tế tuy chỉ đóng góp rất nhỏ
trong phân thu nhập của ngân hàng. Nhưng khi gặp phải những rủi ro thì hầu
hàng hoá.
Rủi ro tỷ giá xảy ra khi có sự biến động của tỷ giá hối đoái giữa đồng tiền
tính toán và đồng tiền thanh toán:
- Khi doanh nghiệp nhập khẩu nộp nội tệ ký quỹ mở L/C và yêu cầu ngân
hàng bán ngoại tệ để thanh toán. Nếu ngân hàng không thực hiện việc trao đổi
ngay đến khi đồng nội tệ giảm giá như vậy ngân hàng phải bù vào mức giảm đó.
20
Website: Email : Tel : 0918.775.368
- Khi doanh nghiệp ký quỹ bằng ngoại tệ cho vay của chính ngân hàng.
Ngân hàng có thể mua lượng ngoại tệ từ khách hàng khác. Đến hạn thanh toán
mà tỷ giá giảm ngân hàng thu được một khoản lợi, nếu tỷ giá tăng dẫn đến rủi ro
cho ngân hàng.
- Do mức trượt giá của đồng nội tệ so với ngoại tệ mạnh nên khi nhập
hàng về, nếu mặt hàng có giá trị bán cạnh tranh không thể tăng được và nếu tỷ lệ
ký quỹ không bù đắp được tỷ lệ trượt giá thì rủi ro có thể xảy ra với ngân hàng
khi nhà nhập khẩu không nhận hàng và không thanh toán bộ chứng từ.
1.3.2.3. Rủi ro tín dụng
Một cách khái quát, rủi ro tín dụng là không thu được nợ khi đến hạn.
Rủi ro tín dụng không giới trong hoạt động cho vay mà còn một số hoạt động
mang tính chất tín dụng trong đó. Các rủi ro có thể xảy ra trong hoạt động L/C
và gây thiệt hại cho một hoặc nhiều bên:
+ Đối với ngân hàng phát hành
Rủi ro tín dụng đối với ngân hàng phát hành là việc không thu được hoặc
thu không đầy đủ từ nhà nhập khẩu số tiền có giá trị bằng giá trị số tiền mà ngân
hàng đă bỏ ra thanh toán cho nhà xuất khẩu. Các trường hợp xảy ra rủi ro tín
dụng:
. Rủi ro trong tín dụng thế chấp hàng nhập khẩu. Đây là rủi ro thường gặp
khi nhà nhập khẩu dùng số hàng nhập khẩu để thế chấp nó rất khó để các ngân
hàng đánh giá giá trị củ lô hàng này hoặc việc phá bỏ hợp đồng của nhà nhập
khẩu. Có thể tóm tắt rủi ro sảy ra như sau: nhà nhập khẩu xin mở L/C nhưng khi
nhận, ngân hàng chiết khấu. Rủi ro tín dụng cho ngân hàng thông báo khi cho
vay tài trợ xuất nhập khẩu mà không thu hồi được vốn. Ngoài ra trong nghiệp vụ
chiết khấu bộ chứng từ cũng tiềm ẩn nhiều rủi ro. Trường hợp ngân hàng phát
hành không chịu trả tiền cho ngân hàng thông báo mặc dù nhà nhập khẩu đã
thanh toán tiền rồi. Trường hợp này ít sảy ra tuy nhiên để đảm bảo an toàn ngân
hàng chỉ thông báo với ngân hàng mở quen biết, có uy tín hoặc phải ký quỹ.
1.3.2.4. Rủi ro đạo đức
22
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Loại rủi ro này ít khi xảy ra. Đây là rủi ro do nhà xuất khẩu có hành vi
lừa đảo. Nhà xuất khẩu giả mạo chứng từ mà ngân hàng không phát hiện ra đã
thanh toán cho họ. Ngân hàng thông báo còn gặp phải rủi ro khi chiết khấu bộ
chứng từ giả. Bộ chứng từ giả là bộ chứng từ được lập mà không có quan hệ
mua bán thực sự. Đây là sự đồng loã của cả người nhập khẩu và người xuất khẩu
để lừa ngân hàng. Nếu nhà xuất khẩu là một tổ chức ma hoặc bị phá sản thì nhà
nhập khẩu phải chụi rủi ro trong trường hợp này. Tuy nhiên do nhà nhập khẩu
không đủ khả năng tài chính bồi thường cho ngân hàng mở và cuối cùng ngân
hàng là người gánh chịu hậu quả.
1.3.2.5. Rủi ro kỹ thuật
Đây là loại rủi ro thường gặp nhất trong thanh toán thư tín dụng. Rủi ro
này gây thiệt hại tuy không lớn nhưng nó lại ảnh hưởng đến uy tín của ngân
hàng trong việc cung cấp dịch vụ cho khách hàng. Khi rủi ro này xảy ra không
những ngân hàng bị thiệt hại mà nó còn ảnh hưởng tới hoạt động kinh doanh của
khách hàng. Các rủi ro kỹ thuật xảy ra thường do nguyên nhân chủ quan xuất
phát từ phía ngân hàng không thực hiện theo đúng quy định đặc biệt là quy định
UCP 500. Trong quan hệ thanh toán tín dụng chứng từ các bên tham gia phải
tuân thủ theo quy tắc và thực hành thống nhất theo quy định của phòng thương
mại quốc tế (ICC). Hiên nay quy địng UCP 500 được áp dụng trên toàn thế giới
nó có hiệu lực từ ngày 01/01/1994. Ngoài ra các ngân hàng phải tuân thủ theo
quy tắc thống nhất về hoàn trả tiền giữa các ngân hàng theo tín dụng chứng
chóng khác, nhưng cũng không chậm hơn 7 ngày làm việc ngân hàng kể từ ngày
nhận chứng từ. Thông báo đó sẽ được gửi cho ngân hàng mà từ đó nó nhận được
chứng từ hoặc gửi cho người thụ hưởng, nếu nó nhận được chứng từ trực tiếp từ
người này. thông báo này phải nêu tất cả những điểm bất hợp lệ mà theo đó
ngân hàng từ chối các chứng từ và cũng phải nói rõ ngân hàng đang giữ chứng
từ để tuỳ quyền định đoạt của người xuất trình hay trả lại cho người xuất trình.
Nếu ngân hàng phát hành không hành động theo đúng với quy định của điều
khoản này hoặc không gĩư chứng từ tuỳ quyền định đoạt của người xuất trình
24
Website: Email : Tel : 0918.775.368
hoặc trả lại cho người xuất trình, ngân hàng phát hành sẽ bị mất quyền khiếu nại
là chứng từ không phù hợp với các điều khoản và điều kiện của tín dụng thư.
Ngoài ra ngân hàng mở còn gặp phải rủi ro lớn đối với nhà nhập khẩu
do không tiến hành thẩm định một cách kỹ lưỡng tình hình tài chính của đơn vị
xin mở L/C, nhất là những khách hàng quan hệ lần đầu. Khi đơn vị nhập khẩu
làm ăn thua lỗ liên tục mà ngân hàng không hay biết. Khi đó ngân hàng mở vẫn
thanh toán cho người bán trong khi đó không thu hồi hết về phía người mua.
+ Rủi ro kỹ thuật đối với ngân hàng thông báo
Theo điều 7 UCP500 quy định trách nhiệm của ngân hàng thông báo.
Theo UCP500 ngân hàng thông báo ,nếu quyết định thông báo tín dụng thư ,phải
kiểm tra cẩn thận tính xác thực bề ngoài tín dụng thư mà họ thông báo.
Nếu ngân hàng thông báo không thể kiểm tra được sự xác thực bề ngoài,
ngân hàng thông báo phải báo không chậm chễ cho ngân hàng mà từ đó họ nhận
được chỉ thị rằng không thể kiểm tra được tính xác thực của tín dụng thư, nhưng
nếu ngân hàng quyết định thông báo tín dụng thư đó thì phải báo cho người
hưởng biết rằng họ không thẻ kiểm tra tính xác thực của tín dụng thư.
Ngoài ra khi ngân hàng gửi đi một bộ chứng từ sai sót mà không phát
hiện ra do lỗi của ngân hàng thì ngân hàng sẽ phải chụi ro do việc tu chỉnh
chứng từ và thanh toán chậm. Ngay cả khi ngân hàng thực hiện đúng chức trách
của mình thì những sai sót này sẽ ảnh hưởng tới uy tín của ngân hàng.