TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
***
LÊ THỊ BÍCH
HOÀN THIỆN CƠ CHẾ QUẢN LÝ THUẾ
ĐỐI VỚI HỘ KINH DOANH CÁ THỂ
(Lấy ví dụ ở chi cục thuế xã Tam Điệp tỉnh Ninh Bình)
LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ
Hà Nội - 2010
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
***
LÊ THỊ BÍCH
HOÀN THIỆN CƠ CHẾ QUẢN LÝ THUẾ
ĐỐI VỚI HỘ KINH DOANH CÁ THỂ
(Lấy ví dụ ở chi cục thuế xã Tam Điệp tỉnh Ninh Bình)
Chuyên ngành: KINH TẾ CHÍNH TRỊ
LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS TRẦN VIỆT TIẾN
Hà Nội – 2010
MỤC LỤC
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC SƠ ĐỒ, BẢNG BIỂU
TÓM TẮT LUẬN VĂN
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
NSNN : Ngân sách nhà nước
GTGT : Giá trị gia tăng
TTĐB : Tiêu thụ đặc biệt
TNCN : Thu nhập cá nhân
TNDN : Thu nhập doanh nghiệp
DV : Dịch vụ
XDCB : Xây dựng cơ bản
khoản thu ngân sách; qui định rõ quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của người
nộp thuế, công chức thuế, cơ quan thuế và đặc biệt là luật đã đề cao trách
nhiệm pháp lý của các cơ quan nhà nước, các tổ chức và cá nhân khác trong
công tác quản lý thuế.
Tuy nhiên xuất phát từ đặc điểm của thuế là điều tiết thu nhập của dân
cư, nhà nước không hoàn trả trực tiếp, ngang giá cho người nộp thuế, mà chỉ
thông qua việc cung cấp hàng hóa và dịch vụ công cộng. Nhà nước cần phải
thu đúng thu đủ để đảm bảo chi cho các mục tiêu trên, còn người nộp thuế
thường muốn nộp thuế càng ít càng tốt. Do đó khi ý thức chấp hành luật thuế
của người dân chưa cao thì tình trạng trốn thuế, nợ thuế là điều không thể
tránh khỏi. dẫn đến công tác quản lý thuế luôn gặp những khó khăn nhất định.
Vì vậy trong quá trình thực hiện luật quản lý thuế đối với hộ kinh
doanh cá thể vẫn còn tồn tại những hạn chế, thiếu sót như: Chính sách thuế
chưa thực sự đồng bộ, việc thu thuế đôi khi còn trùng lắp, tính pháp lý chưa
cao; chưa đáp ứng được yêu cầu của cơ chế thị trường; chưa xoá bỏ triệt để cơ
chế bao cấp qua thuế; chính sách thuế còn có những điểm quy định chưa chặt
chẽ, tạo kẽ hở cho các tổ chức, cá nhân lợi dụng gian lận thuế, trốn thuế; Bên
cạnh đó, một bộ phận cán bộ thuế yếu cả về trình độ và phẩm chất đạo đức,
i
chưa đáp ứng được yêu cầu của sự nghiệp đổi mới, Chưa đẩy mạnh ứng dụng
tin học vào công tác quản lý thuế; từ đó làm giảm hiệu quả quản lý của một
số sắc thuế, ảnh hưởng đến nguồn thu ngân sách nhà nước.
Chính vì vậy, việc nghiên cứu đề tài: “Hoàn thiện cơ chế quản lý thuế
đối với hộ kinh doanh cá thể” (Lấy ví dụ ở chi cục thuế thị xã Tam Điệp, tỉnh
Ninh Bình) là hết sức cần thiết trong giai đoạn hiện nay. Do đó tác giả đã
chọn nghiên cứu luận văn thạc sỹ với đề tài trên.
Những đóng góp mới của luận văn thạc sỹ kinh tế:
Một là: Góp phần hệ thống hóa những vấn đề lý luận và thực tiễn về
cơ chế quản lý thuế đối với hộ kinh doanh cá thể:
Luận văn đã hệ thống hóa và làm rõ các nội dung: Khái niệm về Thuế
lệnh tạo cơ sở pháp lý cao để động viên một phân thu nhập của doanh nghiệp,
dân cư vào Ngân sách Nhà nước làm cho dự toán thu của Ngân sách Nhà
nước luôn đạt và vượt mục tiêu đề ra. Nhờ đó đã đảm bảo nhu cầu chi thường
xuyên, dành một phân tăng chi đầu tư phát triển, chi trả nợ, góp phần kìm chế
lạm phát ở mức độ cho phép.
+ Hệ thống chính sách thuế đã xoá bỏ sự chênh lệch về nghĩa vụ thuế
giữa các thành phần kinh tế trong nước; thu hẹp chênh lệch về nghĩa vụ thuế
giữa doanh nghiệp trong nước với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài
tạo môi trường cạnh tranh bình đẳng trong cơ chế thị trường.
+ Hệ thống chính sách thuế từng bước tiến tới đơn giản, rõ ràng, tạo điều
kiện giảm chi phí hành chính thuế cho người nộp thuế và cho cả cơ quan thuế.
iii
Về quản lý thuế:
+ Đã hình thành một hệ thống tổ chúc quản lý thuế thống nhất trong cả
nước ngày càng được củng cố và tăng cường về mọi mặt; chịu sự lãnh đạo
song trùng của ngành dọc và cấp uỷ, chính quyền địa phương. Đội ngũ cán bộ
quản lý thuế được đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ quản lý và phẩm
chất. Áp dụng công nghệ tin học vào quản lý thuế.
+ Công tác quản lý thuế được chuyển từng bước từ chế độ chuyên quản
khép kín sang chế độ người nộp thuế tự tính, tự khai và nộp thuế theo thông
báo của cơ quan thuế. Cơ chế này đã đề cao nghĩa vụ, trách nhiệm của người
nộp thuế trước pháp luật; cơ quan thuế tăng cường được chức năng tuyên
truyền, giáo dục, hướng dẫn, đôn đốc thu nộp, kiểm tra, thanh tra xử lý vi
phạm về thuế.
+ Tổ chức quản lý thuế được tổ chức thành 3 bộ phận độc lập: Bộ phận
cấp đăng ký mã số thuế, nhận và kiểm tra tờ khai thuế; bộ phận tính thuế,
thông báo nộp thuế và đôn đốc thu nộp thuế; bộ phận thanh tra, kiểm tra và xử
lý vi phạm về thuế, đã hạn chế được tiêu cực trong công tác quản lý thuế.
Từng bước thực hiện chuyên môn hoá quản lý thuế theo chức năng, nâng cao
trình độ nghiệp vụ của cán bộ thuế.
bằng Luật, Công tác giám sát hộ kinh doanh dù hiệu quả nhưng có tác dụng
thấp. Công tác Tuyên truyền, hỗ trợ người nộp thuế mới chỉ dừng lại ở việc
tuyên truyền, phổ biến chính sách khi triển khai các chính sách thuế mới, hoặc
thông báo nộp thuế Môn bài đầu năm. Việc phối hợp giữa các cơ quan, ban
ngành với cơ quan thuế trong việc quản lý thuế chưa được chặt chẽ
v
Ba là: Phương hướng và giải pháp hoàn thiện cơ chế quản lý thuế
đối với hộ kinh doanh cá thể ở Việt Nam.
- Những căn cứ đề xuất phương hướng và hướng tiếp tục hoàn
thiện cơ chế quản lý thuế đối với hộ kinh doanh cá thể.
- Hoàn thiện cơ chế quản lý thuế đối với hộ kinh doanh cá thể phải
đảm bảo mục tiêu thu Ngân sách nhà nước với tiêu chí “thu đúng, thu đủ, thu
kịp thời” đối với khu vực kinh tế này. Xây dựng các chính sách thuế phải đảm
bảo công bằng với các thành phần kinh tế khác trong chấp hành nghĩa vụ
thuế với Nhà nước trong việc từng bước thống nhất trong cách thức quản lý
và kê khai thuế.
- Hoàn thiện cơ chế quản lý thuế đối với hộ kinh doanh cá thể nhằm
đam bảo mục tiêu nuôi dưỡng nguồn thu,thúc đẩy sản xuất, kinh doanh phát
triển góp phần thực hiện chức năng điều tiết kinh tế vĩ mô, ổn định kinh tế, xã
hội trong điều kiện toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế.
- Hoàn thiện cơ chế quản lý thuế đối với hộ kinh doanh cá thể hướng
tới xây dựng bộ máy quản lý thuế tinh thông về nghiệp vụ, củng cố và tăng
cường lực lượng cán bộ thuế, tổ chức đào tạo và đào tạo lại cán bộ thuế,
sắp xếp lại đội ngũ cán bộ thuế, đủ sức đảm đương nhiệm vụ trong tình hình
và giai đoạn mới:
- Giải pháp hoàn thiện cơ chế quản lý thuế đối với hộ kinh doanh cá thể:
Hoàn thiện luật pháp và chính sách thuế có liên quan đến quản lý
thuế đối với hộ kinh doanh cá thể
Một là, Ban hành khung pháp lý đủ mạnh và cần thiết để tất cả hộ kinh
doanh cá thể bắt buộc sử dụng hoá đơn bán hàng khi có các cung ứng về
nhằm tạo điều kiện thuận lợi ho người nộp thuế, đảm bảo công bằng xã hội trong
kê khai nộp thuế giữa những người nộp thuế thuộc mọi thành phần kinh tế, tăng
thu cho ngân sách Nhà nước, tạo động lực cho phát triển kinh tế./.
vii
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
***
LÊ THỊ BÍCH
HOÀN THIỆN CƠ CHẾ QUẢN LÝ THUẾ
ĐỐI VỚI HỘ KINH DOANH CÁ THỂ
(Lấy ví dụ ở chi cục thuế xã Tam Điệp tỉnh Ninh Bình)
Chuyên ngành: KINH TẾ CHÍNH TRỊ
LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS TRẦN VIỆT TIẾN
Hà Nội – 2010
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Sự ra đời và phát triển của ngành Thuế luôn gắn liền với sự xây dựng và
trưởng thành của Nhà nước. Ở nước ta ngay sau khi tổng khởi nghĩa giành
chính quyền về tay nhân dân, một tuần lễ sau ngày công bố độc lập trước toàn
thế giới ngày 02/9/1945, Chính phủ đã ban hành Sắc lệnh số 27 thành lập Sở
Thuế quan. Trải qua 65 năm xây dựng và trưởng thành từ chỗ là Sở Thuế
quan, Nha Thuế vụ, Vụ Thuế, Thuế công thương nghiệp . . . đến nay chúng ta
đã có một hệ thống thuế hùng mạnh từ trung ương tới địa phương: Tổng cục
Thuế. Năm 1946 thu từ thuế cả nước mới đạt 16.750 triệu đồng (tiền ngân
hàng cũ), năm 1990 là 8.000 tỷ, năm 2000 là 90.000 tỷ, năm 2005 là 190.000
tỷ (tài liệu công bố tại 60 năm xây dựng và phát triển ngành Thuế), đến năm
2009 dự toán thu ngân sách của cả nước khoảng 400.000 tỷ đồng (theo Quyết
định số 2704/QĐ-BTC ngày 01//12/2008 của Bộ Tài chính). Qua mỗi thời kỳ
ngành Thuế luôn hoàn thành nhiệm vụ chính trị, từ đáp ứng yêu cầu chi tiêu
của Chính phủ trong những ngày đầu kháng chiến đến góp phần xây dựng
bất cập, từ việc đăng ký thuế, xác định doanh thu, tính thuế đến việc thu thuế
vẫn là một dây chuyền công việc khép kín gần như rườm rà, luẩn quẩn, không
rõ ràng, gây ức chế cho người nộp thuế đồng thời lại tạo ra rất nhiều khó khăn
cho cơ quan quản lý thuế nói chung và ngành thuế nói riêng. Trong khi hộ kinh
doanh cá thể ngày càng chứng tỏ là một mô hình kinh tế năng động, không thể
thiếu trong nền kinh tế quốc dân và có những đóng góp quan trong với ngân
sách nhà nước. Chính vì vậy việc chọn và nghiên cứu đề tài: “Hoàn thiện cơ
chế quản lý thuế đối với hộ kinh doanh cá thể” (lấy ví dụ ở chi cục thuế thị xã
Tam Điệp, tỉnh Ninh Bình) theo tôi là hết sức cần thiết trong giai đoạn hiện
2
nay, hy vọng đề tài nghiên cứu vừa có ý nghĩa lý luận, vừa mang tính thực tiễn
sẽ góp phần việc xây dựng các giải pháp khả thi để giải quyết những vấn đề tồn
tại đặt ra đối với việc quản lý hộ kinh doanh cá thể, trong sự tác động đến quá
trình xây dựng và phát triển kinh tế của đất nước, góp phần thực hiện thắng lợi
mục tiêu chiến lược phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2010 – 2015.
2. Tình hình nghiên cứu
Xuất phát từ tầm quan trọng, phức tạp và ảnh hưởng của chính sách thuế
đối với nền kinh tế của cả nước nói chung, hộ kinh doanh cá thể nói tiêng, nên
đã có nhiều công trình nghiên cứu về vai trò, chức năng quản lý của Nhà nước
về công tác thuế. Các công trình nghiên cứu đó tập trung vào những nội dung
sau:
+ Về cơ chế quản lý thuế.
+ Về vai trò Nhà nước.
Nhìn chung, các Đề tài đều đã đề cập đến vai trò của Nhà nước, về cơ
chế quản lý thuế và cũng đã có các đề tài nghiên cứu về cơ chế quản lý thuế
với kinh tế tư nhân; với doanh nghiệp; với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước
ngoài; với kinh tế cá thể, tiểu chủ . . . Tuy nhiên với tính năng động và đóng
góp của các hộ kinh doanh cá thể với nền kinh tế quốc dân, việc hoàn thiện cơ
chế quản lý thuế là một việc làm cần thiết. Trong khi để có được một nền kinh
tế thị trường đầy đủ, thì yêu cầu bắt buộc phải là sự bình đẳng giữa các nền
phục vụ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước; góp phần thực hiện bình
đẳng, công bằng xã hội.
- Đánh giá thực trạng quản lý thuế đối với các hộ kinh doanh cá thể trên
địa bàn thị xã Tam Điệp, tỉnh Ninh Bình;
- Đề xuất hướng đổi mới và hoàn thiện cơ chế quản lý thuế từ nay đến
4
năm 2015 và những năm tiếp theo nhằm xây dựng cơ chế quản lý thuế hợp lý
và phát huy tính tích cực đối với các hộ kinh doanh cá thể; phù hợp với nền
kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập kinh tế quốc tế.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
- Đối tượng nghiên cứu của đề tài tập trung vào hệ thống chính sách thuế
và cơ chế quản lý thuế đối với hộ kinh doanh cá thể ( lấy ví dụ ở chi cục thuế
thị xã Tam Điệp, tỉnh Ninh Bình)
- Phạm vi nghiên cứu: từ năm 2000 đến nay.
5. Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện được mục đích của đề tài đặt ra, bản luận văn sử dụng các
phương pháp nghiên cứu sau:
- Phương pháp duy vật biện chứng, duy vật lịch sử;
- Phương pháp khảo sát, thu thập số liệu kết hợp với tổng hợp và thống
kê và so sánh;
- Phương pháp chuyên gia;
- Phương pháp Lôgíc và lịch sử.
6. Đóng góp của luận án
Để góp phần hệ thống hoá những vấn đề lý luận và thực tiễn, luận án dự
kiến sẽ có những đóng góp sau:
- Khái quát và làm rõ những vấn đề cơ bản về vai trò Nhà nước về quản
lý thuế đối với hộ kinh doanh, từ đó nhằm xác định rõ cách thức quản lý thuế
thích hợp đối với hộ kinh doanh cá thể.
- Nêu bật những chủ trương, đường lối, quan điểm của Đảng và Nhà
nước về cải cách hệ thống thuế qua các thời kỳ từ năm 1990 đến nay, từ đó
hoàn thiện. Những nội dung cơ bản của thuế là:
- Thuế là biện pháp động viên của nhà nước mang tính chất bắt buộc
đối với các tổ chức và mọi thành viên trong xã hội, gắn liền với quyền lực
chính trị của nhà nước.
- Thuế là khoản đóng góp nghĩa vụ, bắt buộc mọi tổ chức và thành viên
trong xã hội phải nộp vào ngân sách nhà nước.
- Thuế là một bộ phận của cải từ khu vực tư chuyển vào khu vực công
nhằm trang trải những chi phí nuôi sống bộ máy nhà nước và trang trải các
chi phí công cộng mang lại lợi ích chung cho cộng đồng.
- Thuế là một hình thức phân phối thu nhập được nhà nước sử dụng để
động viên một phần thu nhập của các tổ chức và cá nhân trong xã hội vào
ngân sách nhà nước.
Bản chất, đặc trưng của thuế.
Trên thực tế có rất nhiều các định nghĩa, quan điểm khác nhau, nhưng
có thể rút ra một số đặc trưng chung của thuế như sau:
Một là: Nội dung kinh tế của thuế được đặc trưng bởi các mối quan
hệ tiền tệ phát sinh giữa Nhà nước với các pháp nhân và các thể nhân
trong xã hội.
7
Hai là: Những mối quan hệ dưới dạng tiền tệ này được nảy sinh một
cách khách quan và có ý nghĩa xã hội đặc biệt - việc chuyển giao thu nhập có
tính chất bắt buộc theo mệnh lệnh của nhà nước.
Ba là: Xét theo khía cạnh luật pháp, thuế là một khoản nộp cho Nhà
nước được pháp luật quy định theo mức thu và thời hạn nhất định.
Như vậy thuế là khoản đóng góp bắt buộc từ các thể nhân, pháp nhân
cho Nhà nước theo mức độ và thời hạn được pháp luật qui định nhằm sử
dụng cho mục đích công cộng.
Bản chất của thuế được thể hiện bởi các thuộc tính bên trong vốn của
thuế. Những thuộc tính đó có tính ổn định, tương đối qua từng giai đoạn phát
triển và biểu hiện thành những đặc trưng riêng của thuế, qua đó giúp ta phân
Chức năng điều tiết kinh tế của thuế mặc dù có cơ sở nảy sinh từ chức
năng huy động tập trung nguồn lực, nhưng chỉ được nhận thức và sử dụng
rộng rãi từ những năm đầu của thế kỷ XX khi vai trò điều tiết kinh tế của Nhà
nước được thực hiện. Việc tăng cường chức năng kinh tế - xã hội của Nhà
nước dẫn đến mức độ chi tiêu công ngày càng lớn và hậu quả tất yếu đòi hỏi
Nhà nước phải tăng cường nguồn lực tài chính Nhà nước, nguồn lực được
hình thành chủ yếu từ thuế.
Chức năng điều tiết kinh tế của thuế được thực hiện thông qua việc quy
định các hình thức thu thuế khác nhau, xác định hợp lý người nộp thuế, đối
tượng đánh thuế, thuế xuất, chế độ miễn giảm, phương pháp quản lý thu thuế,
Thuế là công cụ điều tiết đối với thu nhập của các tầng lớp xã hội và được thể
hiện trên hai mặt đó là khuyến khích, thúc đẩy những hoạt động kinh doanh
cần thiết có hiệu quả cao; đồng thời thu hẹp, kìm hãm những ngành nghề, mặt
hàng cần hạn chế tiêu dùng, hạn chế sản xuất theo hướng tiết kiệm chống lãng
phí, thúc đẩy mở rộng thị trường cạnh tranh lành mạnh. Trên cơ sở đó, Nhà
9
nước kích thích các hoạt động kinh tế đi vào quỹ đạo chung, phù hợp với lợi
ích của xã hội. Như vậy, bằng cách điều tiết và kích thích, chức năng điều tiết
kinh tế của thuế đã được thực hiện. Trong điều kiện chuyển sang kinh tế thị
trường, vai trò kích thích kinh tế thông qua thuế ngày càng được nâng cao.
Nhà nước sử dụng thuế để tác động đến lợi ích kinh tế của các chủ thể kinh tế
vì lợi ích của xã hội.
Giữa chức năng huy động nguồn lực tài chính và chức năng điều tiết
kinh tế có mối quan hệ gắn bó mật thiết với nhau. Chức năng huy động nguồn
lực tài chính nảy sinh đồng thời với sự ra đời của thuế và được coi là chức
năng cơ sở, qua đó quy định sự tác động và sự phát triển của chức năng điều
tiết. Ngược lại, nhờ sự vận dụng đúng đắn chức năng điều tiết kinh tế đã làm
cho chức năng huy động nguồn lực tài chính của thuế có điều kiện phát triển.
Ý nghĩa của chức năng huy động nguồn lực tài chính càng tăng lên nhằm đảm
bảo nguồn thu nhập cho Nhà nước đã tạo ra những điều kiện khách quan để
ra bộ máy để quản lý thu thuế và giám sát thực hiện đối với bộ máy này. Do
bản chất của thuế không mang tính hoàn trả trực tiếp nên việc yêu cầu người
nộp thuế tự giác khi không có hệ thống luật pháp để bắt buộc là điều không
thể thực hiện, thậm chí kể cả khi có hệ thống luật pháp về thuế, nhiều tổ chức
cá nhân nộp thuế vẫn cố tình không thực hiện hoặc lợi dụng kẽ hở của chính
sách để tư lợi. Vì vậy, vai trò quản lý thuế của Nhà nước mang tính áp đặt và
là một tất yếu khách quan trong quá trình quản lý.
Từ những cơ sở lý luận trên ta có thể định nghĩa một cách khái quát về
quản lý thuế như sau:
Quản lý thuế là việc Nhà nước sử dụng các phương tiện, cách thức,
biện pháp nhằm thực hiện việc thu thuế sao cho đạt hiệu quả, đúng mục tiêu,
mục đích đề ra trong việc xây dựng và phát triển kinh tế- xã hội của đất nước
11