MỤC LỤC
DANH MỤC SƠ ĐỒ, BẢNG BIỂU
DANH MỤC SƠ ĐỒ, BẢNG BIỂU
Sơ đồ 2.1: Bộ máy chi cục thuế Error: Reference source not found
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Sự ra đời và phát triển của ngành Thuế luôn gắn liền với sự xây dựng và
trưởng thành của Nhà nước. Ở nước ta ngay sau khi tổng khởi nghĩa giành
chính quyền về tay nhân dân, một tuần lễ sau ngày công bố độc lập trước toàn
thế giới ngày 02/9/1945, Chính phủ đã ban hành Sắc lệnh số 27 thành lập Sở
Thuế quan. Trải qua 65 năm xây dựng và trưởng thành từ chỗ là Sở Thuế
quan, Nha Thuế vụ, Vụ Thuế, Thuế công thương nghiệp . . . đến nay chúng ta
đã có một hệ thống thuế hùng mạnh từ trung ương tới địa phương: Tổng cục
Thuế. Năm 1946 thu từ thuế cả nước mới đạt 16.750 triệu đồng (tiền ngân
hàng cũ), năm 1990 là 8.000 tỷ, năm 2000 là 90.000 tỷ, năm 2005 là 190.000
tỷ (tài liệu công bố tại 60 năm xây dựng và phát triển ngành Thuế), đến năm
2009 dự toán thu ngân sách của cả nước khoảng 400.000 tỷ đồng (theo Quyết
định số 2704/QĐ-BTC ngày 01//12/2008 của Bộ Tài chính). Qua mỗi thời kỳ
ngành Thuế luôn hoàn thành nhiệm vụ chính trị, từ đáp ứng yêu cầu chi tiêu
của Chính phủ trong những ngày đầu kháng chiến đến góp phần xây dựng
Chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, đấu tranh giải phóng miền Nam thống nhất đất
nước và cho đến ngày nay số thu từ thuế đã là “nguồn thu chủ yếu của ngân
sách nhà nước”.
Trong những năm qua, cùng với sự phát triển kinh tế- xã hội của đất
nước, chúng ta đã có những bước tiến bộ trong việc cải cách cơ chế quản lý
thuế theo hướng tạo hành lang pháp luật trong chính sách thuế, quản lý thuế,
nâng cao trách nhiệm của các tổ chức và cá nhân trong việc thực hiện nghĩa
vụ thuế đối với nhà nước, đồng thời từng bước điều chỉnh các sắc thuế phù
hợp với lộ trình hội nhập kinh tế quốc tế. Nhờ đó, số thu từ thuế tăng đều qua
các năm, luôn trở thành nguồn thu chủ yếu của ngân sách nhà nước, đáp ứng
ngày càng tốt hơn yêu cầu phát triển của đất nước. Trong chiến lược phát
thực tiễn sẽ góp phần việc xây dựng các giải pháp khả thi để giải quyết những
vấn đề tồn tại đặt ra đối với việc quản lý hộ kinh doanh cá thể, trong sự tác động
đến quá trình xây dựng và phát triển kinh tế của đất nước, góp phần thực hiện
thắng lợi mục tiêu chiến lược phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2010 – 2015.
2. Tình hình nghiên cứu
Xuất phát từ tầm quan trọng, phức tạp và ảnh hưởng của chính sách thuế
đối với nền kinh tế của cả nước nói chung, hộ kinh doanh cá thể nói tiêng, nên
đã có nhiều công trình nghiên cứu về vai trò, chức năng quản lý của Nhà nước
về công tác thuế. Các công trình nghiên cứu đó tập trung vào những nội dung
sau:
+ Về cơ chế quản lý thuế.
+ Về vai trò Nhà nước.
Nhìn chung, các Đề tài đều đã đề cập đến vai trò của Nhà nước, về cơ
chế quản lý thuế và cũng đã có các đề tài nghiên cứu về cơ chế quản lý thuế
với kinh tế tư nhân; với doanh nghiệp; với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước
ngoài; với kinh tế cá thể, tiểu chủ . . . Tuy nhiên với tính năng động và đóng
góp của các hộ kinh doanh cá thể với nền kinh tế quốc dân, việc hoàn thiện cơ
chế quản lý thuế là một việc làm cần thiết. Trong khi để có được một nền kinh
tế thị trường đầy đủ, thì yêu cầu bắt buộc phải là sự bình đẳng giữa các nền
kinh tế, trong đó có kinh tế tư nhân. Trong kinh tế tư nhân thì sự đóng góp
của hộ kinh doanh cá thể là không nhiều nhưng lại rất phức tạp, tác động đến
mọi đối tượng trong xã hội, là biểu hiện rõ nét nhất về thu nhập nâng cao đời
sống của xã hội. Có một thực tế mà chúng ta phải thừa nhận đó là trong sự
phát triển của đất nước, Nhà nước chưa thể và không thể giải quyết công ăn,
việc làm một cách triệt để và đảm bảo cuộc sống một cách đầy đủ hơn cho
toàn xã hội. Do đó việc các hộ gia đình, các cá nhân chủ động đầu tư, phát
3
triển kinh doanh để nâng cao thu nhập, cải thiện cuộc sống là một việc làm
đáng được quan tâm và khích lệ. Địa bàn thị xã Tam điệp nói riêng, cả nước
nói chung: Hộ kinh doanh cá thể đang chiếm một số lượng lớn trong khu vực
và cơ chế quản lý thuế đối với hộ kinh doanh cá thể.
- Phạm vi nghiên cứu:
+ Thời gian nghiên cứu từ năm 2000 đến nay.
+ Không gian: Thị xã Tam Điệp, tỉnh Ninh Bình.
5. Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện được mục đích của đề tài đặt ra, bản luận văn sử dụng các
phương pháp nghiên cứu sau:
- Phương pháp duy vật biện chứng, duy vật lịch sử;
- Phương pháp khảo sát, thu thập số liệu kết hợp với tổng hợp và thống
kê và so sánh;
- Phương pháp chuyên gia;
- Phương pháp Lôgíc và lịch sử.
6. Đóng góp của luận án
Để góp phần hệ thống hoá những vấn đề lý luận và thực tiễn, luận án dự
kiến sẽ có những đóng góp sau:
- Khái quát và làm rõ những vấn đề cơ bản về vai trò Nhà nước về quản
lý thuế đối với hộ kinh doanh, từ đó nhằm xác định rõ cách thức quản lý thuế
thích hợp đối với hộ kinh doanh cá thể.
- Nêu bật những chủ trương, đường lối, quan điểm của Đảng và Nhà
nước về cải cách hệ thống thuế qua các thời kỳ từ năm 1990 đến nay, từ đó
đưa ra nhận xét và đánh giá tác động của vai trò Quản lý Nhà nước về thuế
đối với khu vực kinh tế tư nhân trong điều kiện phát triển nền kinh tế thị
5
trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
- Nghiên cứu, tổng kết các kinh nghiệm của các quốc gia và địa phương;
từ đó rút ra những bài học kinh nghiệm để hoàn thiện cơ chế quản lý thuế đối
với các hộ kinh doanh cá thể.
- Đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện cơ chế quản lý thuế đối với
hộ kinh doanh cá thể, trong đó tập trung vào nội dung đổi mới, sửa đổi, bổ
sung, hoàn chỉnh cách thức quản lý trên nền tảng lý luận, thực tiễn cùng với
- Thuế là một hình thức phân phối thu nhập được nhà nước sử dụng để
động viên một phần thu nhập của các tổ chức và cá nhân trong xã hội vào
ngân sách nhà nước.
Bản chất, đặc trưng của thuế.
Trên thực tế có rất nhiều các định nghĩa, quan điểm khác nhau, nhưng có
thể rút ra một số đặc trưng chung của thuế như sau:
Một là: Nội dung kinh tế của thuế được đặc trưng bởi các mối quan
hệ tiền tệ phát sinh giữa Nhà nước với các pháp nhân và các thể nhân
trong xã hội.
7
Hai là: Những mối quan hệ dưới dạng tiền tệ này được nảy sinh một
cách khách quan và có ý nghĩa xã hội đặc biệt - việc chuyển giao thu nhập có
tính chất bắt buộc theo mệnh lệnh của nhà nước.
Ba là: Xét theo khía cạnh luật pháp, thuế là một khoản nộp cho Nhà
nước được pháp luật quy định theo mức thu và thời hạn nhất định.
Như vậy thuế là khoản đóng góp bắt buộc từ các thể nhân, pháp nhân
cho Nhà nước theo mức độ và thời hạn được pháp luật qui định nhằm sử
dụng cho mục đích công cộng.
Bản chất của thuế được thể hiện bởi các thuộc tính bên trong vốn của
thuế. Những thuộc tính đó có tính ổn định, tương đối qua từng giai đoạn phát
triển và biểu hiện thành những đặc trưng riêng của thuế, qua đó giúp ta phân
biệt giữa thuế với các công cụ tài chính khác như:
+ Tính bắt buộc
+ Tính không hoàn trả trực tiếp
+ Tính pháp lý cao
Chức năng của thuế
- Một là: Huy động nguồn lực tài chính cho Nhà nước, là nguồn thu chủ
yếu của ngân sách nhà nước
Đây là chức năng cơ bản của thuế, đặc trưng cho tất cả các dạng Nhà
nước. Về mặt lịch sử, chức năng huy động nguồn lực tài chính là chức năng
tượng đánh thuế, thuế xuất, chế độ miễn giảm, phương pháp quản lý thu thuế,
Thuế là công cụ điều tiết đối với thu nhập của các tầng lớp xã hội và được thể
hiện trên hai mặt đó là khuyến khích, thúc đẩy những hoạt động kinh doanh
cần thiết có hiệu quả cao; đồng thời thu hẹp, kìm hãm những ngành nghề, mặt
hàng cần hạn chế tiêu dùng, hạn chế sản xuất theo hướng tiết kiệm chống lãng
phí, thúc đẩy mở rộng thị trường cạnh tranh lành mạnh. Trên cơ sở đó, Nhà
9
nước kích thích các hoạt động kinh tế đi vào quỹ đạo chung, phù hợp với lợi
ích của xã hội. Như vậy, bằng cách điều tiết và kích thích, chức năng điều tiết
kinh tế của thuế đã được thực hiện. Trong điều kiện chuyển sang kinh tế thị
trường, vai trò kích thích kinh tế thông qua thuế ngày càng được nâng cao.
Nhà nước sử dụng thuế để tác động đến lợi ích kinh tế của các chủ thể kinh tế
vì lợi ích của xã hội.
Giữa chức năng huy động nguồn lực tài chính và chức năng điều tiết
kinh tế có mối quan hệ gắn bó mật thiết với nhau. Chức năng huy động nguồn
lực tài chính nảy sinh đồng thời với sự ra đời của thuế và được coi là chức
năng cơ sở, qua đó quy định sự tác động và sự phát triển của chức năng điều
tiết. Ngược lại, nhờ sự vận dụng đúng đắn chức năng điều tiết kinh tế đã làm
cho chức năng huy động nguồn lực tài chính của thuế có điều kiện phát triển.
Ý nghĩa của chức năng huy động nguồn lực tài chính càng tăng lên nhằm đảm
bảo nguồn thu nhập cho Nhà nước đã tạo ra những điều kiện khách quan để
Nhà nước tác động một cách sâu rộng đến các quá trình kinh tế và xã hội.
Điều đó tạo ra tiền đề tăng thêm thu nhập cho các tầng lớp dân cư, do đó mở
rộng cơ sở thực hiện chức năng huy động nguồn lực tài chính.
Đó là sự thống nhất biện chứng giữa các chức năng của thuế. Sự thống
nhất đó cũng không loại trừ những mặt mâu thuẫn. Sự tăng cường chức năng
huy động tập trung tài chính làm cho mức thu nhập của Nhà nước tăng lên.
Điều đó đồng nghĩa với việc mở rộng khả năng của Nhà nước trong việc thực
hiện các chương trình kinh tế - xã hội. Mặt khác, việc tăng cường chức năng
huy động một cách quá mức sẽ làm tăng gánh nặng thuế và hậu quả của nó là
Quản lý thuế là việc Nhà nước sử dụng các phương tiện, cách thức, biện
pháp nhằm thực hiện việc thu thuế sao cho đạt hiệu quả, đúng mục tiêu, mục
đích đề ra trong việc xây dựng và phát triển kinh tế- xã hội của đất nước
11
trong từng thời kỳ. Được biểu hiện cụ thể thành một hệ thống: Từ việc Nhà
nước ban hành chính sách, tổ chức bộ máy, triển khai thực hiện, kiểm tra
giám sát kết quả đến việc chỉnh sửa chính sách và ban hành chính sách mới
cho phù hợp với thực tiễn đang quản lý.
Như vậy quản lý thuế có các vai trò:
+ Quản lý thuế nhằm thực hiện một trong những chức năng quan trọng
của Nhà nước trong lĩnh vực quản lý tài chính: Đó là điều tiết vĩ mô nền kinh
tế. Đây là một trong những nội dung quan trọng nhất nhằm đảm bảo phát huy
tối đa những chức năng, vai trò của thuế trong phát triển kinh tế xã hội. Ngoài
ra, quản lý thu thuế còn thực hiện một mục tiêu quan trọng nữa là huy động số
thu cho Ngân sách Nhà nước. Thể hiện quyền lực tối cao và sự độc quyền của
Nhà nước trong việc quản lý và điều hành đất nước.
+ Giúp Nhà nước kiểm soát việc nộp thuế của người nộp thuế. Dù bất kỳ
ở xã hội nào, lợi ích của người kinh doanh luôn được đặt lên hàng đầu đối với
bản thân mỗi cá nhân nhằm đạt được lợi nhuận cao nhất. Vì vậy, với vai trò
kiểm tra, giám sát, vai trò của Nhà nước về Quản lý thuế định hướng, sửa chữa
những sai sót trong quá trình thực hiện các Luật thuế dù vô tình hay cố ý sai
phạm. Đều phải duy trì bình đẳng xã hội trong việc chấp hành nghĩa vụ thuế.
+ Giúp Nhà nước quản lý được bộ máy thu thuế. Một mặt, đảm bảo bộ
máy quản lý thuế vận hành trơn tru, không sai sót; mặt khác, cũng xuất phát
từ lợi ích cá nhân, con người trong bộ máy quản lý thu thuế của Nhà nước
cũng có những cá nhân hám lợi sẵn sàng bắt tay với người nộp thuế nhằm
giúp họ trốn thuế và thu những mối lợi bất chính làm thất thu cho Ngân sách,
hoặc cố tình gây khó dễ, sách nhiễu để vòi vĩnh. Điều đó đòi hỏi Quản lý thuế
với chức năng kiểm tra, giám sát sẽ hạn chế và xử lý các trường hợp này. Vì
vậy, việc quản lý bộ máy thu thuế chặt chẽ cũng là yêu cầu cực kỳ cấp thiết,
13
Từ những phân tích trên, cơ chế quản lý thuế đối với hộ kinh doanh cá
thể được hiểu là hệ thống các chính sách về thuế được ban hành điều chỉnh
đối tượng là các hộ kinh doanh cá thể, nhằm mục đích thúc đẩy sản xuất, kinh
doanh phát triển, tạo điều kiện các hộ gia đình, cá nhân kinh doanh nâng cao
thu nhập, cải thiện đời sống, đóng góp tích cực vào ngân sách nhà nước.
1.2. MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ HOÀN THIỆN CƠ CHẾ QUẢN LÝ THUẾ
ĐỐI VỚI HỘ KINH DOANH CÁ THỂ.
1.2.1. Hộ kinh doanh cá thể và đặc điểm của hộ kinh doanh cá thể.
1.2.1.1. Hộ kinh doanh cá thể và vai trò của hộ kinh doanh cá thể đối với
phát triển kinh tế xã hội.
Về khái niệm.
Hộ kinh doanh cá thể chỉ được đăng ký kinh doanh tại một địa điểm, sử
dụng không quá 10 lao động, không có con dấu và chịu trách nhiệm bằng toàn
bộ tài sản của mình đối với hoạt động kinh doanh.
Về vai trò.
- Giải quyết công ăn, việc làm, tăng thu nhập góp phần cải thiện đời sống
cho người lao động.
- Tuy mức đóng góp của từng hộ kinh doanh cá thể không lớn nhưng với
một lực lượng hùng hậu, các hộ kinh doanh cá thể góp phần quan trọng đối
với thu ngân sách nhà nước.
- Cac hộ kinh doanh cá thể là một kênh phân phối hàng hoá quan trọng
và nhanh nhất đến người tiêu dùng trong toàn xã hội.
1.2.1.2. Đặc điểm của hộ kinh doanh cá thể:
- Hộ kinh doanh cá thể sử dụng ít lao động với quy mô đơn giản, năng
động, được phân bố rộng rãi trong các tầng lớp dân cư.
- Hộ kinh doanh cá thể tự chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của
mình đối với hoạt động kinh doanh.
14
- Hộ kinh doanh cá thể (bao gồm cả hộ hành nghề tư nhân) nếu có mức thu
trong hoàn cảnh kinh tế - xã hội cụ thể của quốc gia và theo từng giai đoạn
phát triển kinh tế. Từ yêu cầu đó hệ thống chính sách thuế được thiết lập và
không ngừng cải cách và củng cố.
Hệ thống chính sách thuế hiện nay gồm: 9 sắc thuế cơ bản (thuế giá trị
gia tăng; thuế tiêu thụ đặc biệt; thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu; thuế thu nhập
doanh nghiệp; thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao; thuế sử dụng đất
nông nghiệp; thuế tài nguyên; thuế nhà đất; thuế chuyển quyền sử dụng đất).
Ngoài ra, còn một số loại thu dưới hình thức phí và lệ phí. Hệ thống chính
sách thuế này cơ bản đã bao quát được hầu hết các nguồn thu, áp dụng thống
nhất đối với mọi thành phần kinh tế và từng bước thích ứng với yêu cầu
chuyển đổi nền kinh tế theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
Đồng thời hệ thống chính sách thuế trở thành công cụ điều tiết vĩ mô của
Nhà nước đối với nền kinh tế góp phần thúc đẩy sản xuất kinh doanh phát
triển, khuyến khích đầu tư, khuyến khích xuất khẩu, bảo hộ sản xuất trong
nước, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tạo việc làm, tăng thu nhập cho
người lao động, góp phần xoá đói giảm nghèo.
Hệ thống luật và chính sách về thuế đối với hộ kinh doanh cá thể. Với
mục tiêu bình đẳng, chính sách thuế được áp dụng chung cho các loại hình
kinh doanh được thể hiện trong việc áp dụng chung các mức thuế suất đối với
cùng ngành hàng, nhóm mặt hàng. Trong quản lý thuế đối với các hộ kinh
doanh cũng như các doanh nghiệp, chính sách thuế áp dụng ở một số sắc thuế
chủ yếu là: Thuế Môn bài, thuế Giá trị gia tăng (GTGT), thuế Thu nhập cá
nhân (TNCN) hiện nay và 2008 trở về trước là thuế Thu nhập Doanh nghiệp
(TNDN), thuế Tiêu thụ đặc biệt (TTĐB), thuế Tài nguyên, Trong đó, các sắc
16
thuế ảnh hưởng nhiều nhất đến các hộ kinh doanh đó là thuế GTGT và thuế
TNDN (trước 1999 là Lợi tức), thuế thu nhập cá nhân (từ tháng 1 năm 2009).
Do không kiểm soát chặt chẽ được doanh thu, việc áp dụng các Chính sách
thuế từ khi thực hiện chính sách “mở cửa”đối với các hộ kinh doanh chỉ mang
tính chất ước chừng tức là: Đối với các loại hình doanh nghiệp hoạt động theo
quản lý thuế, điều kiện kinh tế - xã hội, trình độ quản lý, trình độ trang thiết bị
của cơ quan thuế và trình độ nhận thức của đối tượng nộp thuế nhằm đạt hiệu
quả cao trong công tác quản lý.
Quản lý thuế ở nước nào cũng gặp khó khăn bởi các hộ kinh doanh cố ý,
tìm mọi thủ đoạn, dưới mọi hình thức gian lận các khoản tiền thuế phải nộp;
Tình trạng trốn, ẩn lậu về thuế, nợ đọng thuế còn khá phổ biến ở nhiều khoản
thu và diễn ra ở các lĩnh vực, vùng, miền khác nhau, vừa làm thất thu cho
ngân sách nhà nước, vừa không bảo đảm công bằng xã hội. Do đó, tùy theo
từng nước và từng thời gian nhất định, việc áp dụng cơ chế thuế hợp lý với
những tiêu chuẩn được ưu tiên để đạt được mục tiêu đề ra trong việc hoạch
định chiến lược, chương trình là cần thiết. Tuy nhiên cơ chế quản lý thuế với
những tiêu chuẩn khi ban hành sẽ được sử dụng trong một thời gian nhất định
và sẽ được điều chỉnh cho phù hợp khi cần thiết.
Đối với Việt Nam, cho đến nay ngành thuế đã xây dựng được một số
tiêu chuẩn nhất định (như các tiêu chuẩn về chỉ tiêu số thu, thời gian đăng ký
mã số thuế, thời gian xử lý tờ khai, phát hành thông báo thuế, thời gian hoàn
thuế ). Tuy nhiên, còn nhiều tiêu chuẩn khác chưa được xây dựng hoặc chưa
được hoàn thiện (như các tiêu chuẩn về đối tượng ngừng kê khai, các tiêu
chuẩn về dịch vụ hỗ trợ đối tượng nộp thuế, lĩnh vực thanh tra, xử lý tờ khai
thuế ).
18
Trong quá trình cải cách quản lý thuế và hội nhập quốc tế về thuế, quản
lý thuế của Việt Nam đã chuyển đổi từ quản lý thuế theo đối tượng (chuyên
quản), đến cơ chế tự tính - tự khai nộp theo thông báo và đến nay là cơ chế tự
tính - tự khai - tự nộp thuế trên cơ sở tăng cường dịch vụ hỗ trợ đối tượng nộp
thuế và thanh tra thuế nhằm nâng cao tính tuân thủ tự nguyện của đối tượng
nộp thuế, ngành thuế Việt Nam sẽ phải hoàn thiện các tiêu chuẩn đã thực hiện
và xây dựng những tiêu chuẩn mới đảm bảo tính tiên tiến, có khả năng đánh
giá một cách toàn diện hệ thống quản lý thuế. Để thực hiện tốt cơ chế quản lý
thuế đối với hộ kinh doanh cá thể theo quyết định 1201/TCT/QĐ/TCCB ngày
tình hình thực hiện của từng hộ kinh doanh nhằm mục đích thu thuế và mục
đích khác theo yêu cầu tại hồ sơ thuế của người nộp thuế và các bộ phận chức
năng, cũng như các bộ phận có liên quan của Ngành.
Quản trị, tổng hợp và lưu trữ thông tin về thuế của từng hộ kinh doanh
trong phạm vi phân cấp theo quá trình hoạt động của người nộp thuế.
Thực hiện các chế độ về đánh giá, phân tích, báo cáo với các cấp theo
quy định.
Xây dựng dự toán thu và tổng hợp đánh giá tình hình thực hiện dự toán
thu theo qui định.
Ba là, thu nợ và cưỡng chế thuế:
Nhận hồ sơ pháp lý thuế của người nộp thuế và tổ chức thực hiện các
biện pháp đôn đốc thu nợ, cưỡng chế về thuế từ bộ phận quản lý thu nợ và bộ
phận kiểm tra xử lý.
Phân tích dữ liệu - thông tin về tình trạng thuế trên hồ sơ thuế của người
nộp thuế, trên cơ sở đó đưa ra các biện pháp xử lý, phối hợp thực hiện nhằm
mục tiêu đôn đốc thu nợ, cưỡng chế về thuế đối với người nộp thuế không
tuân thủ pháp luật thuế một cách có hiệu quả.
20
Tổ chức thực hiện quy trình theo dõi, đôn đốc thu nợ và cưỡng chế thuế
theo yêu cầu chuyên môn nghiệp vụ, và theo thực tiễn của việc áp dụng cơ
chế tự khai, tự nộp trong phạm vi phân cấp, phân quyền.
Giúp Lãnh đạo xây dựng các biện pháp, cơ chế phối hợp, cũng như hành
lang pháp lý về việc thực thi quyền hành pháp về thuế - mà cụ thể là quyền
đôn đốc thu nợ và cưỡng chế về thuế.
Thực hiện các chế độ về đánh giá, phân tích, báo cáo với cơ quan cấp
trên theo quy định.
Bốn là, thanh tra, kiểm tra:
Lập kế hoạch thanh tra, kiểm tra hàng năm đối với người nộp thuế trong
phạm vi phân cấp, phân quyền quản lý trên cơ sở thông tin thuế đã được thu
thập, và phân tích theo quy trình, đồng thời dựa trên cơ sở nguồn lực của từng
với hộ kinh doanh cá thể, do tính chất kinh doanh trải rộng và đông đảo trên
khắp địa bàn, để đảm bảo mục tiêu quản lý thu thuế hiệu quả, chặt chẽ, hạn
chế thất thu thuế và yêu cầu Bộ máy quản lý thu thuế phải đơn giản, gọn nhẹ,
chi phí thấp. Mặt khác, cần có một bộ phận chuyên sâu, nắm chắc địa bàn để
có thể quản lý hoạt động kinh doanh của hộ kinh doanh một cách chặt chẽ.
Mô hình quản lý hiện nay là các Đội thuế phường, xã trực thuộc Chi cục thuế
và các Uỷ nhiệm thu thuế thuộc UBND các xã, phường trực tiếp thực hiện
việc quản lý thu thuế. Ngoài ra, còn một số đội bộ phận chuyên môn cùng
thuộc Chi cục thuế quản lý để thực hiện công tác tổng hợp, báo cáo, kiểm tra,
giám sát và tham mưu về công tác thu thuế.
Xây dựng phương thức quản lý thuế trên cơ sở thực hiện các quy trình
quản lý một cách đồng bộ. Mục đích của việc ban hành các quy trình quản lý
nhằm công khai hoá các hoạt động của cơ quan thuế trong quản lý, xoá bỏ các
thủ tục phiền hà, tốn kém cho người nộp thuế. Tạo điều kiện thuận lợi nhất
22
cho người nộp thuế thực hiện nghĩa vụ thuế theo quy định của pháp luật. Mặt
khác ban hành quy trình quản lý còn nhằm kiểm tra việc thực hiện các công
việc của cán bộ thuế với yêu cầu khoa học, tiết kiệm thời gian với hiệu quả
cao nhất.
1.2.2.4. Giám sát việc thực hiện quản lý thuế và việc tuân thủ pháp luật về
thuế của các tổ chức cá nhân trong việc thực hiện pháp luật về thuế.
Giám sát thực hiện quản lý thuế đã được xây dựng theo qui định chung
về pháp luật trong việc tổ chức thực hiện đối với người nộp thuế mà ở đây là
hộ kinh doanh cá thể với cơ quan thuế.
Thực hiện luật quản lý thuế đối với hộ kinh doanh cá thể, cơ quan thuế
đã xây dựng được cơ chế kiểm tra, giám sát hồ sơ kê khai thuế nhằm chống
thất thu thuế qua việc kê khai thuế; ngăn chặn và xử lý kịp thời những vi
phạm về thuế nâng cao tính tự giác tuân thủ pháp luật thuế trong việc thực
hiện kê khai thuế, tính thuế và nộp thuế.
Tổ chức quản lý thuế là hoạt động của cả một hệ thống, được vận hành
Việt Nam đang trên bước đường thành công trong công cuộc phát triển
kinh tế với các thành tựu của hơn 20 năm đổi mới. Tình hình chính trị ổn
định, vị trí của Việt Nam trên trường quốc tế ngày một nâng cao cũng là
những nhân tố tác động tích cực đến sự phát triển của các hộ kinh doanh cá
thể. Bên cạnh đó cũng còn những khó khăn nhất định như, việc ban hành các
sắc thuế quá phức tạp, qui định không rõ ràng, thủ tục hành chính về thuế
rườm rà gây khó khó khăn cho người nộp thuế và cán bộ thuế, trình độ hiểu
biết về thuế và ý thức chấp hành các luật, pháp lệnh về thuế của các tầng lớp
dân cư còn hạn chế, nếu các hộ kinh doanh cá thể hiểu Luật thuế và các quy
định khác liên quan đến quyền lợi và nghĩa vụ của mình thì việc thực hiện
Luật thuế sẽ được tuân thủ ở mức độ cao và ngược lại, nếu không hiểu biết,
24