NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ QUẢN LÝ THU THUẾ ĐỐI VỚI HỘ KINH DOANH CÁ THỂ - Pdf 75

NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ QUẢN LÝ THU THUẾ ĐỐI
VỚI HỘ KINH DOANH CÁ THỂ
1.1. VAI TRÒ CỦA KINH TẾ CÁ THỂ ĐỐI VỚI NỀN KINH TẾ:
1.1.1. Quan điểm của Nhà nước về thành phần kinh tế cá thể:
Sau hơn một thập kỷ tiến hành công cuộc đổi mới cùng với sự chuyển biến to lớn
của nền kinh tế, thành phần kinh tế cá thể đã được "khai sinh trở lại" từng bước phát triển
và ngày càng khẳng định vai trò, vị trí của mình trong nền kinh tế nhiều thành phần dưới
sự quản lý của Nhà nước.
Vào những năm trước khi tiến hành công cuộc đổi mới, kinh tế cá thể được coi là
"hàng ngày hàng giờ" đẻ ra tư bản chủ nghĩa, vì vậy luôn là đối tượng cải tạo của xã hội
chủ nghĩa và không được khuyến khích phát triển.
Đến Đại hội Đảng Toàn quốc Lần thứ VI, Đảng ta thực hiện đường lối đổi mới kinh
tế, chuyển dịch cơ cấu kinh tế từ nền kinh tế kế hoạch sang nền kinh tế thị trường có sự
tham gia của nhiều thành phần kinh tế - trong đó có thành phần kinh tế cá thể. Chủ trương
này tiếp tục được khẳng định tại Đại hội Đảng VII "Nền kinh tế Việt Nam là nền kinh tế
nhiều thành phần, thành phần kinh tế chủ yếu trong thời kỳ quá độ ở nước ta là kinh tế
quốc doanh, kinh tế tập thể, kinh tế cá thể, kinh tế tư bản tư nhân và kinh tế tư bản Nhà
nước ...". Các thành phần kinh tế tồn tại khách quan tương ứng với tổ chức và trình độ phát
triển của lực lượng sản xuất trong giai đoạn hiện nay (điều kiện sản xuất nhỏ, phân công
lao động đang ở trình độ thấp) nên quan hệ sản xuất được thiết lập từng bước từ thấp đến
cao, đa dạng hoá về hình thức sở hữu. Trong đó kinh tế cá thể gồm những đơn vị kinh tế và
hoạt động sản xuất kinh doanh dựa vào vốn và sức lao động của từng hộ là chủ yếu. Nếu
như thành phần kinh tế quốc doanh đóng vai trò chủ đạo nắm giữ nhiều bộ phận then chốt
thì thành phần kinh tế cá thể nói riêng và kinh tế ngoài quốc doanh nói chung tuy chiếm tỷ
trọng nhỏ hơn nhưng ngày càng phát triển và chiếm một vị trí xứng đáng trong nền kinh tế
quốc dân. Kinh tế cá thể không những tạo ra một lượng sản phẩm không nhỏ trong tổng
sản phẩm xã hội mà nguồn thu từ thành phần kinh tế này vào Ngân sách Nhà nước cũng
chiếm một tỷ trọng tương đối lớn, đồng thời còn thu hút được một lực lượng lớn lao động
nhàn rỗi đáp ứng mọi yêu cầu của xã hội mà thành phần kinh tế quốc doanh chưa đảm bảo
hết, tạo thu nhập và từng bước góp phần nâng cao đời sống của các tầng lớp nhân dân.
Như vậy, thành phần kinh tế cá thể vẫn còn tồn tại như một tất yếu khách quan, bắt

- Trong quá trình sản xuất kinh doanh, khu vực kinh tế cá thể đã thu hút một lực
lượng lao động đáng kể, góp phần giải quyết vấn đề việc làm cho xã hội. Ở nước ta hàng
năm có khoảng 1,5 đến 2 triệu người bổ sung vào lực lượng lao động, bao gồm nhiều loại
hình như công nhân, kỹ sư, cử nhân kinh tế ... nhưng khả năng thu hút lao động của khu
vực nhà nước lại rất hạn chế, thậm chí dư thừa một số lao động hiện có do sắp xếp lại quá
trình sản xuất. Vì vậy, tình trạng người có sức lao động nhưng chưa có việc làm và người
có việc làm nhưng chưa sử dụng hết thời gian lao động còn phổ biến. Với hình thức kinh
doanh linh hoạt trong nhiều ngành nghề và sử dụng công nghệ - kỹ thuật thủ công, khu vực
kinh tế cá thể có khả năng tận dụng lao động dôi thừa trong xã hội.
- Sự đa dạng trong loại hình sản xuất kinh doanh của khu vực kinh tế này cho phép
tạo ra nhiều chủng loại sản phẩm, dịch vụ ở mọi nơi, mọi lúc, đáp ứng nhu cầu của xã hội,
đóng vai trò vệ tinh cho các doanh nghiệp trong nền kinh tế. Trên thực tế, có những ngành
nghề nếu tổ chức sản xuất tập thể hoặc do Nhà nước đảm nhiệm với quy mô lớn sẽ không
có hiệu quả hoặc hiệu quả thấp hơn so với việc tổ chức sản xuất nhỏ ở các hộ gia đình.
Bên cạnh những ưu thế trên, thành phần kinh tế hộ cá thể cũng có một số mặt hạn
chế. Đặc điểm của hộ cá thể là làm ăn riêng lẻ, tản mạn, rời rạc và luôn tìm mọi cách để
tìm ra những chỗ sơ hở, non yếu trong quản lý kinh tế để kinh doanh trái phép, trốn lậu
thuế ... Dưới tác động của quy luật giá trị, thành phần kinh tế này rất dễ bị phân hoá.
Sự năng động của thành phần kinh tế cá thể mang tính chất tự phát theo thị trường,
nếu thiếu sự định hướng thì sẽ không bao quát được nhu cầu thị trường.
Để phát huy được những tiềm năng vốn có và khắc phục được những khiếm khuyết
trên, cần phải tăng cường sự quản lý của Nhà nước về kinh tế đối với thành phần kinh tế cá
thể thông qua công cụ pháp luật, nhằm tạo ra hành lang pháp lý và môi trường hoạt động
lành mạnh, giúp thành phần kinh tế này hoạt động có hiệu quả theo định hướng XHCN, trở
thành một thành phần kinh tế trọng điểm đem lại hiệu quả kinh tế và xã hội cho đất nước.
1.2. CÔNG TÁC QUẢN LÝ THU THUẾ ĐỐI VỚI HỘ KINH DOANH CÁ THỂ.
1.2.1. Các sắc thuế chủ yếu áp dụng đối với hộ kinh doanh:
Kể từ ngày 1/1/1999 thực hiện chương trình cải cách thuế bước hai, hệ thống thuế
của nước ta bao gồm 10 sắc thuế, trong đó có 4 sắc thuế chủ yếu áp dụng đối với hộ kinh
doanh.

Thuế GTGT
đầu ra
=
Giá tính thuế của
hàng hoá, dịch vụ
chịu thuế bán ra
x
Khối lượng
hàng hoá bán ra
x
Thuế suất thuế
GTGT của hàng
hoá, dịch vụ tương
ứng
Thuế GTGT đầu vào là số thuế được ghi trên hoá đơn mua hàng của hàng hoá, dịch
vụ mà hộ đó mua vào.
+ Phương pháp trực tiếp: Theo phương pháp này có ba hình thức khác nhau.
• Đối với hộ kinh doanh đã thực hiện đầy đủ chế độ hoá đơn, chứng từ theo quy
định: Hàng hoá dịch vụ mua vào và bán ra đều có hoá đơn, chứng từ hợp lệ thì:
Thuế GTGT phải nộp = GTGT của hàng hoá,
dịch vụ
x Thuế suất thuế GTGT
tương ứng
GTGT của hàng hoá, dịch
vụ
= Doanh số bán ra - Giá thanh toán của hàng
hoá, dịch vụ mua vào
• Đối với hộ kinh doanh đã thực hiện chế độ lập hoá đơn, chứng từ khi bán hàng
hoá, dịch vụ nhưng không có đủ hoá đơn, chứng từ đối với hàng hoá, dịch vụ mua vào thì:
Thuế GTGT

hợp lý
+ Thu nhập khác
Các hộ kinh doanh không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ, đúng chế độ kế
toán, hoá đơn, chứng từ, cơ quan thuế sẽ ấn định thu nhập chịu thuế để tính thuế TNDN.
Sang năm 2003, thuế TNDN sẽ áp dụng thống nhất mức thuế suất chung cho mọi
đối tượng nộp thuế là 28%.
1.2.1.4. Thuế tiêu thu đặc biệt (TTĐB).
Thuế TTĐB là loại thuế gián thu đánh vào việc sản xuất và nhập khẩu một số loại
hàng hoá và dịch vụ thuộc diện đặc biệt.
- Đối tượng nộp thuế TTĐB là những hộ có sản xuất hàng hoá, kinh doanh dịch vụ
mặt hàng thuộc diện chịu thuế TTĐB.
- Phương pháp tính thuế:
Số thuế
TTĐB phải
nộp
=
Giá bán
1+ thuế suất
x
Lượng sản
phẩm tiêu
thụ
x
Thuế suất
thuế TTĐB
-
Thuế TTĐB
đầu vào (nếu
có)
Đối với các hộ không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ, đúng chế độ kế toán,

+ Kiểm tra, giám sát chặt chẽ hộ nghỉ kinh doanh.
+ Quản lý hết các đối tượng tham gia sản xuất, kinh doanh (gồm cố định có cửa hàng
- cửa hiệu và đối tượng kinh doanh vãng lai).
+ Quản lý sát doanh thu thực tế của đối tượng nộp thuế (thường xuyên kiểm tra sổ
sách kế toán, hoá đơn, chứng từ ..., rà soát điều chỉnh thuế hộ khoán ổn định).
- Phải thực hiện đầy đủ, đúng quy trình nghiệp vụ của ngành đã đề ra cho từng loại
đối tượng kinh doanh.
1.2.3. Quy trình quản lý thu thuế đối với hộ kinh doanh.
Căn cứ vào các quy định về tổ chức bộ máy ngành thuế, các tổ, đội và đối tượng
thuộc Chi cục Thuế liên quan trực tiếp đến quy trình quản lý thu thuế là:
• Lãnh đạo Chi cục Thuế.
• Tổ Kế hoạch - Nghiệp vụ (KH-NV).
• Các Đội thuế xã, phường.
• Tổ Kiểm tra
• Tổ Quản lý ấn chỉ.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status