TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
KHOA NGÂN HÀNG - TÀI CHÍNH
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG CÔNG TÁC
QUẢN LÝ THU THUẾ
ĐỐI VỚI HỘ KINH DOANH CÁ THỂ TẠI CHI CỤC THUẾ
HAI BÀ TRƯNG
Giáo viên hướng dẫn : Ts. VŨ DUYHÀO
Sinh viên thực hiện : Nguyễn MỹPhúc
Lớp : Tài chính công-41A
Hà Nội - 2003
MỤC LỤC
Vấn đề cơ bản về quản lý thu thuế đối với hộ kinh doanh cá thể
3
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
KHOA NGÂN HÀNG - TÀI CHÍNH
_________________________________
CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP
Đề tài:
GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ THU
THUẾ
ĐỐI VỚI HỘ KINH DOANH CÁ THỂ TẠI CHI CỤC THUẾ
HAI BÀ TRƯNG
Giáo viên hướng dẫn : Ts. VŨ DUYHÀO
Sinh viên thực hiện : Nguyễn MỹPhúc
Lớp : Tài chính công
Vấn đề cơ bản về quản lý thu thuế đối với hộ kinh doanh cá thể
LỜI MỞ ĐẦU
Đất nước ta đang ở trong giai đoạn thực hiện chiến lược phát triển kinh tế xã
hội 2001-2010 đẩy mạnh công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nước, đưa đất nước
phát triển nhanh và bền vững, chủ động hội nhập quốc tế có hiệu quả. Trong đó,
6
CHƯƠNG I
NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ
QUẢN LÝ THU THUẾ ĐỐI VỚI HỘ KINH DOANH CÁ
THỂ
1.1. VAI TRÒ CỦA KINH TẾ CÁ THỂ ĐỐI VỚI NỀN KINH TẾ:
1.1.1. Quan điểm của Nhà nước về thành phần kinh tế cá thể:
Sau hơn một thập kỷ tiến hành công cuộc đổi mới cùng với sự chuyển biến to
lớn của nền kinh tế, thành phần kinh tế cá thể đã được "khai sinh trở lại" từng bước
phát triển và ngày càng khẳng định vai trò, vị trí của mình trong nền kinh tế nhiều
thành phần dưới sự quản lý của Nhà nước.
Vào những năm trước khi tiến hành công cuộc đổi mới, kinh tế cá thể được
coi là "hàng ngày hàng giờ" đẻ ra tư bản chủ nghĩa, vì vậy luôn là đối tượng cải tạo
của xã hội chủ nghĩa và không được khuyến khích phát triển.
Đến Đại hội Đảng Toàn quốc Lần thứ VI, Đảng ta thực hiện đường lối đổi
mới kinh tế, chuyển dịch cơ cấu kinh tế từ nền kinh tế kế hoạch sang nền kinh tế thị
trường có sự tham gia của nhiều thành phần kinh tế - trong đó có thành phần kinh tế
cá thể. Chủ trương này tiếp tục được khẳng định tại Đại hội Đảng VII "Nền kinh tế
Việt Nam là nền kinh tế nhiều thành phần, thành phần kinh tế chủ yếu trong thời kỳ
quá độ ở nước ta là kinh tế quốc doanh, kinh tế tập thể, kinh tế cá thể, kinh tế tư
bản tư nhân và kinh tế tư bản Nhà nước ...". Các thành phần kinh tế tồn tại khách
quan tương ứng với tổ chức và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất trong giai
đoạn hiện nay (điều kiện sản xuất nhỏ, phân công lao động đang ở trình độ thấp)
nên quan hệ sản xuất được thiết lập từng bước từ thấp đến cao, đa dạng hoá về hình
thức sở hữu. Trong đó kinh tế cá thể gồm những đơn vị kinh tế và hoạt động sản
xuất kinh doanh dựa vào vốn và sức lao động của từng hộ là chủ yếu. Nếu như
thành phần kinh tế quốc doanh đóng vai trò chủ đạo nắm giữ nhiều bộ phận then
chốt thì thành phần kinh tế cá thể nói riêng và kinh tế ngoài quốc doanh nói chung
Vấn đề cơ bản về quản lý thu thuế đối với hộ kinh doanh cá thể
7
8
- Có tiềm năng về kinh nghiệm quản lý, tổ chức sản xuất, những bí quyết sản
xuất truyền thống được tích luỹ từ nhiều thế hệ. Điều này cho phép phát huy những
ngành nghề truyền thống để tạo ra những sản phẩm phục vụ cho nhu cầu xã hội và
xuất khẩu. Nó có ý nghĩa quan trọng trong điều kiện đất nước còn thiếu vốn như
hiện nay. Thực tế những nước như Nhật Bản, Hàn Quốc đã biết vận dụng đúng đắn
tiềm năng này và đã thành công trong quá trình phát triển kinh tế.
- Trong khi nguồn vốn của Nhà nước, của tập thể còn hạn hẹp thì nguồn vốn
tiềm năng trong dân lại rất lớn. Do đó, nếu có các chính sách kinh tế hợp lý sẽ mở
đường cho các hộ cá thể gia đình có khả năng bỏ vốn vào sản xuất, tiết kiệm trong
tiêu dùng để tích luỹ, mở rộng tái sản xuất góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế
nhanh chóng.
- Trong quá trình sản xuất kinh doanh, khu vực kinh tế cá thể đã thu hút một
lực lượng lao động đáng kể, góp phần giải quyết vấn đề việc làm cho xã hội. Ở
nước ta hàng năm có khoảng 1,5 đến 2 triệu người bổ sung vào lực lượng lao động,
bao gồm nhiều loại hình như công nhân, kỹ sư, cử nhân kinh tế ... nhưng khả năng
thu hút lao động của khu vực nhà nước lại rất hạn chế, thậm chí dư thừa một số lao
động hiện có do sắp xếp lại quá trình sản xuất. Vì vậy, tình trạng người có sức lao
động nhưng chưa có việc làm và người có việc làm nhưng chưa sử dụng hết thời
gian lao động còn phổ biến. Với hình thức kinh doanh linh hoạt trong nhiều ngành
nghề và sử dụng công nghệ - kỹ thuật thủ công, khu vực kinh tế cá thể có khả năng
tận dụng lao động dôi thừa trong xã hội.
- Sự đa dạng trong loại hình sản xuất kinh doanh của khu vực kinh tế này cho
phép tạo ra nhiều chủng loại sản phẩm, dịch vụ ở mọi nơi, mọi lúc, đáp ứng nhu cầu
của xã hội, đóng vai trò vệ tinh cho các doanh nghiệp trong nền kinh tế. Trên thực
tế, có những ngành nghề nếu tổ chức sản xuất tập thể hoặc do Nhà nước đảm nhiệm
với quy mô lớn sẽ không có hiệu quả hoặc hiệu quả thấp hơn so với việc tổ chức
sản
xuất nhỏ ở các hộ gia đình.
Bên cạnh những ưu thế trên, thành phần kinh tế hộ cá thể cũng có một số mặt
10
Tuy số thu hàng năm của thuế môn bài luôn giữ một địa vị khiêm nhường so
với số thu các loại thuế khác nhưng đây lại là một tài nguyên tương đối vững chắc
cho ngân sách Nhà nước, đáp ứng kịp thời nhu cầu chi tiêu của Nhà nước ngay từ
đầu mỗi năm khi các nguồn thu khác chưa nhiều. Một ưu điểm quan trọng nhất của
thuế môn bài là nó có giá trị chỉ dẫn cho thuế thu nhập doanh nghiệp và thuế giá trị
gia tăng, thuế tiêu thụ đặc biệt. Mọi tổ chức, cá nhân muốn kinh doanh đều phải
đăng ký kinh doanh và nộp thuế môn bài. Vì thế, thuế môn bài có tác dụng kiểm kê,
kiểm soát, các cơ sở kinh doanh nhằm hỗ trợ cho việc hành thu các loại thuế có số
thu cao như thuế thu nhập doanh nghiệp và thuế giá trị gia tăng.
1.2.1.2. Thuế giá trị gia tăng (GTGT).
Thuế GTGT là loại thuế gián thu đánh vào phần giá trị tăng thêm của các sản
phẩm hàng hoá, dịch vụ phát sinh trong quá trình từ sản xuất, lưu thông đến tiêu
dùng.
- Đối tượng nộp thuế GTGT là tất cả các hộ có hoạt động sản xuất, kinh
doanh hàng hoá, dịch vụ chịu thuế.
- Các hộ kinh doanh cá thể áp dụng đồng thời cả hai phương pháp tính thuế
GTGT là: phương pháp khấu trừ và phương pháp tính thuế trực tiếp trên GTGT.
+ Phương pháp khấu trừ: áp dụng đối với các hộ kinh doanh lớn chấp hành
đầy đủ chế độ kế toán, hoá đơn, chứng từ mua bán hàng hoá, hạch toán được cả đầu
vào, đầu ra.
Số thuế GTGT phải nộp = Thuế GTGT đầu ra - Thuế GTGT đầu vào
Trong đó:
Thuế GTGT
đầu ra
=
Giá tính thuế của
hàng hoá, dịch vụ
chịu thuế bán ra
x
• Đối với hộ kinh doanh không thực hiện chế độ kế toán, chế độ lập hoá đơn,
chứng từ khi mua bán hàng hoá, dịch vụ: Về nguyên tắc, những hộ loại này thường
là những hộ kinh doanh nhỏ, bán lẻ và kinh doanh nhiều mặt vụn vặt, hàng bán có
thể không có hoá đơn, chứng từ (vì chi phí cho hoá đơn chứng từ chiếm tỷ lệ cao
trong doanh số). Những hộ này nộp thuế GTGT như sau:
Thuế GTGT
phải nộp
= Doanh số ấn định x Tỷ lệ GTGT x Thuế suất thuế
GTGT
Bước sang năm 2003, luật thuế GTGT có một số sửa đổi:
- Giảm bớt số lượng mức thuế suất từ 4 mức xuống còn 3 mức, bỏ mức thuế
suất 20%.
Vấn đề cơ bản về quản lý thu thuế đối với hộ kinh doanh cá thể
12
- Áp dụng một phương pháp tính thuế là phương pháp khấu trừ thuế. Các đối
tượng nộp thuế không đủ điều kiện áp dụng phương pháp khấu trừ thuế thì nộp thuế
theo một tỷ lệ % trên doanh thu.
1.2.1.3. Thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN).
Thuế TNDN là loại thuế trực thu tính trên phần thu nhập của doanh nghiệp
sau khi đã trừ đi các chi phí hợp lý, hợp lệ.
- Đối tượng nộp thuế TNDN là tất cả các hộ cá thể có hoạt động sản xuất,
kinh doanh hàng hoá, dịch vụ.
- Phương pháp tính thuế:
Số thuế TNDN phải nộp = Thu nhập chịu thuế x Thuế suất thuế TNDN
Thu nhập
chịu thuế
= Doanh thu để tính thu
nhập chịu thuế
- Chi phí
hợp lý