Đề án môn học
LỜI MỞ ĐẦU
Tăng trưởng kinh tế là chủ đề giành được nhiều sự quan tâm của các nước,
đặc biệt là các nước trong tinh trạng kém phát triển, cùng xuất phát điểm thấp
cần đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng trong đó có nước ta. Tăng trưởng kinh tế là
điều kiên nền tảng cần thiết để nâng cao thu nhập, góp phần cải thiện đời sống
vật chất và tinh thần của quảng đại quần chúng nhân dân. Vì vây, mọt yêu cầu
đặt ra là cần phải duy trì được tốc độ tăng trưởng phù hợp và ổn định trong dài
hạn theo tiến trình phát triển kinh tế của đất nước.
Theo những phân tích như trên thì đề tài được lựa chọn dựa trên một số phân tích
và lập luận sau:
- thứ nhất, tốc độ tăng trưởng của nước ta đạt khá, nhưng có biểu hiện chu
kỳ và khả năng chống đở với các cú sốc bên ngoài chưa cao, vì vậy cần
bóc tách để giảm thiểu những yếu kém của nền kinh tế.
- thứ hai, để đạt được một tốc độ tăng trưởng như ở nước ta thì với trình độ
tương đương trong quá khư, các nước trong khu vực và gần chúng ta như
Nics đông á đã sử dụng ít nguồn lực hơn, trong khi nền kinh tế của chúng
ta vừa khát vốn vừa tạo ra giá trị gia tăng với hiệu suất thấp là điều chưa
phù hợp.
- thứ ba, nền kinh tế tăng trưởng không bền vững sẽ có những ảnh hưởng
không tốt tới những khía cạnh của đời sống KT-XH, cũng như làm giảm
khả năng thực hiện tốt các mục tiêu mà chúng ta hướng tới.
- thứ tư, việc chỉ ra tính thiếu bền vững của tăng trưởng là một trong số các
cơ sở nhiền nhận, đánh giá lại mô hình tăng trưởng kinh tế hiện hành. Qua
đó làm nền tảng xây dựng một mô hình phù hợp cho giai đoạn mới.
Bố cục của đề tài gồm 3 phần chính:
Phần A: Tổng quan nghiên cứu
Phần B: Nội dung chính của đề tài
Chương I: cơ sở lý luận về tăng trưởng kinh tế và kinh nghiệm quốc tế
về lựa chọn mô hình tăng trưởng với việt nam
Chương II. Đánh giá thực trang tính bền vững trong tăng trưởng kinh
Đề án môn học
Quan điểm này chủ yếu đề cập rộng tới vấn đề tạo tính đồng thuận của
tăng trưởng với các vấn đề xã hội, con người hướng dần tới phát triển bền
vững.
Trong khuôn khổ đề án, người viết sử dụng thống nhất khái niệm tăng
trưởng bền vững như sau trong bài viết:
Tăng trưởng bền vững là tăng trưởng đạt được trong dài hạn, xuất phát
từ đảm bảo được chất lượng tăng trưởng (xét cả về cấu trúc nội tại và cấu
trúc đầu ra), ảnh hưởng đồng thuận với các mục tiêu phát triển xã hội trong
từng giai đoạn phát triển.
I.1.2 Các yếu tố tác động đến tăng trưởng và tăng trưởng bền vững
Có rất nhiều nhân tố ảnh hưởng tới tăng trưởng, nhưng tựu chung lại các
yếu tố tác động tới tăng trưởng kinh tế được chia ra 2 nhóm: nhóm các nhân
tố kinh tế và nhóm các nhân tố phi kinh tế.
I.1.2.1 Các nhân tố kinh tế
Đây là các nhân tố có tác động trực tiếp tới các biến số đầu vào và đầu ra của
nền kinh té. Thể hiện ở dạng hàm sản xuất tổng quát sau.
Y=F(X
i
) (trong đó Y: là giá trị đầu ra; X
i
là giá trị các biến số đầu vào)
Trong nền kinh tế thị trường thì giá trị đầu ra của nền kinh tế phụ thuộc chính
vào sức mua và khả năng thanh toán của nền kinh tế tức tổng cầu AD, còn giá
trị các biến số đàu vào có liên quan trực tiếp tới tổng cung AS.
Các nhân tố kinh tế lại được chia thành các nhân tố ảnh hưởng tới tổng cung
(AS) và các nhân tố ảnh hưởng tới tổng cầu (AD):
I.1.2.1.1 các nhân tố tác động tới tổng cung (AS) gồm; K, L, TFP
Yếu tố vốn được xem xét trong tăng trưởng được thể hiện ở vốn vật
chất (chứ không phải giá trị) thể hiện dưới các dạng tài sản sản xuất (cơ sở
nhập khả dụng và xu hướng tiêu dùng cận biên (MPC). Được xác định trong
từng giai đoạn phát triển kinh tế nhất định.
+chi tiêu của chính phủ (G) bao gồm: cacskhoangr mục chi cho hàng hóa
và dịch vụ ( chi đầu tư phát triển và chi thường xuyên), không tính trợ cấp và
chi trả lãi. Nguồn chi này phụ thuộc vào thu ngân sách.
+ chi cho đầu tư (I). đây là khoản chi cho nhu cầu đầu tư của các doanh
nghiệp và dơn vị kinh tế bao gồm đầu tư vào tài sản cố định và lưu động.
nguồn này lấy từ khả năng tiết kiệm của nền kinh tế.
+chi tiêu qua hoạt động xuất nhập khẩu (NX). Tính bằng chênh lệch giữa
trị giá xuất khẩu và giá trị nhập khẩu.
Các nhân tố phi kinh tế gồm có: đặc điểm văn hóa-xã hội, nhân tố thể
chế -chính trị-xã hội, cơ cấu dân tộc, cơ cấu tôn giáo và sự tham gia của cộng
đồng.
+ đặc điểm văn hóa xã hội:là nhân tố quan trọng ảnh hưởng nhiều tới
quá trình phát triển của đất nước. để tạo dựng quá trình tăng trưởng và phst
triển bền vững thì đầu tư vào sự nghệp văn hóa phải được coi trọng và được
đầu tư ở mức thích hợp.
+nhân tố thể chế-chính trị-xã hội: nó ảnh hưởng tới tăng trưởng thông
qua việc tạo dựng các hành lang pháp lý và môi trường cho các nhà đầu tư.
Một thể chế linh hoạt mềm dẻo sẽ tạo điểu kiện liên tục cơ cấu và công nghệ
phù hợp với điều kiện thực thế.
+cơ cấu dân tộc. trong một đất nước có rất nhiều dân tộc khác nhau và
do đó lợi ích có thể mâu thuẩn xung đột với nhau, cần lấy tính công bằng
trong các chính sách để ban hành.
+cơ cấu tôn giáo. Vấn đề tôn giáo là vấn đề nhạy cảm, mỗi một tôn giáo
lại có những quan điểm thiên hướng khác nhau, vì vậy bên cạnh việc đơn
Đề án môn học
thuần tăng trưởng kinh tế cần huy động sự đồng lòng của các tôn giáo, ít nhất
không trờ thành rào cản tới tăng trưởng kinh tế.
+sự tham gia của cộng đồng. Dân chủ và phát triển là hai vấn đề có tính
cấu kinh tế đươc xét trên các khía cạnh sau.
cơ cấu ngành kinh tế (quan trọng nhất). là tổng thể các ngành trong nền
kinh tế quốc dân có mối quan hệ hữu cơ và tác động qua lại cả về số và chất
lượng với nhau. Được xét theo sự phân công lao động xã hội, thể hiện sự phân
bổ nguồn lực trong nền kinh tế quốc dân. Một cơ cấu ngành kinh tế hợp lý
phải chuyển dịch theo hướng tăng dần tỷ trọng (GDP, vốn, lao động) của
ngành công nghiệp và dịch vụ so với nông nghiệp phù hợp với từng giai đoạn
của quá trình phát triển. trong đó thì dịch vụ phải có tốc độ tăng trưởng cao
hơn công nghiệp. Một nền kinh tế có trình độ phát triển thuộc loại cao khi mà
ngành sản xuất phi nông nghiệp chiếm >90% về GDP.
Cơ cấu thành phần kinh tế. Xét trên góc độ sở hữu và xã hội hóa tư liệu
sản xuất. Xét theo tiêu chí này thì nước ta hiện nay có 5 thành phần kinh tế
khác nhau cùng tồn tại trong một môi trường thể chế chính trị xã hội và bình
đẳng trước pháp luật và trong cơ hội phát triển. (TP Kinh tế nhà nước, kinh tế
tập thể, kinh tế tư nhân, kinh tế tư bản nhà nước, kinh tế có vốn đầu tư nước
ngoài)
Cơ cấu thể chế. Xét theo góc độ vai trò, vị trí của các thành phần trong
vòng luân chuyển kinh tế. (khu vực nhà nước, hộ gia đình, khu vực tài chính,
phi tài chính và khu vực vô vị lợi phục vụ gia đình), ngoài ra còn có thể có
thêm khu vực người nước ngoài.
Đề án môn học
Cơ cấu thương mại quốc tế: xét theo độ mở của nền kinh tế, tính trên
tiêu chí giá trị xuất khẩu, nhập khẩu / GDP
Cơ cấu tái sản xuất. xét theo góc độ cơ cấu tích lũy tiêu trong nền kinh
tế quốc dân.
I.3.2 Chỉ tiêu phản ánh hiệu quả kinh tế:
- năng suất lao động
Năng suất lao động là một chỉ tiêu quan trọng và có ý nghĩa. Như Marx từng
nói chỉ trong một thời gian phát triển chưa đầy 200 năm của CNTB, tổng của
cải xã hội đã bằng tổng tất cả các giai đoạn trước cộng lại. Năng suất lao động
hóa,, thuộc các khâu khác nhau trong quá trình tạo ra hàng hóa dịch vụ.
IC=GO-GDP.
I.3.3 Chỉ tiêu phản ảnh tăng trưởng kinh tế liên quan tới phúc lợi xã hội
và bảo vệ môi trường
- Giải quyết việc làm, xóa đói giảm nghèo.
Khi nền kinh tế tạo ra tăng trưởng nhưng mô hình tăng trưởng đó không phải
là tăng trưởng vì người nghèo (đối với các nước đang phát triển) thì có thể nói
rằng tăng trưởng đó không thể bền vững. Ở các nước đang phát triển thì người
nghèo và cận nghèo chiếm một phần đáng kể trong dân số, và 90% người
người nghèo xuất phát từ khu vực nông thôn, khu vực có số dân đông hơn
nhiều so với dân số thành thị. Với việt nam thì vấn đề nông nghiệp, nông thôn
được xác định là địa bàn chiến lược và không thể phát triển bền vững được
khi mà công nghiệp hóa nông thôn không được thực hiện thành công, tăng
trưởng không lan tỏa được tới khu vực nông thôn thông qua các chỉ tiêu như
tỷ lệ người nông thôn dùng nước sạch, nhà tiêu hợp vệ sinh, tỷ lệ trẻ em nông
Đề án môn học
thôn được tới trường ở các cấp học, hệ số co giãn của việc làm theo sản
lượng….
- Bảo vệ môi trường
Được thể hiện qua viêc tăng trưởng gây ảnh hưởng như thế nào tới hệ sinh
thái, môi trường sống của con người. qua các chỉ tiêu như (nồng độ ô nhiễm
chất thải rắn ở đô thị, ô nhiễm khói bụi, tiếng ồn…)
I.3.4 Chỉ tiêu phản ánh xu thế tăng trưởng theo thời kỳ
Tốc độ tăng trưởng và tính chu kỳ trong tăng trưởng kinh tế qua các năm,
thời gian mà một chu kỳ tồn tại.
I.4 bài học kinh nghiệm về tăng trưởng bền vững
Xung quanh chúng ta có rất nhiều các quốc gia được nhìn nhận như những bài
học kinh nghiệm quý giá cho chúng ta học tập kinh nghiệm trong tăng trưởng
kinh tế bền vững.
Thứ nhất với nhật bản
dài, là năm thứ 27 có tốc độ tăng trưởng kinh tế liên tục, trong vòng 22 năm
đổi mới, tốc độ tăng bình quân 6,8%. Tốc độ tăng trưởng nói trên thuộc nhóm
Đề án môn học
đầu châu lục và cả trên thế giới. Đây là một yếu tố cơ bản để đảm bảo Việt
Nam vượt được ngưỡng nước đang phát triển có thu nhập thấp
II.2 Đánh giá tính bền vững của tăng trưởng
II.2.1 Tính chu kỳ trong tăng trưởng kinh tế việt nam.
Tính chu kỳ được coi là một trong những biểu hiện của nền kinh tế thị trường
và đó được Karx Marx xem như căn bệnh cố hữu của Chủ nghĩa Tư Bản do
sự mâu thuẫn giữa chế độ tư nhân tư bản chủ nghĩa và sự xã hội hóa tư liệu
sản xuất ngày càng được sâu rộng. Ngày nay các nhà kinh tế học hiện đại nhìn
nhận chu kỳ tăng trưởng như một quá trình có tích lũy, tăng trưởng và có thời
kỳ suy thoái sau khi tăng tới đỉnh tăng trưởng nóng.
Bảng 2.1 tốc độ tăng trưởng của việt nam giai đoạn 1998-2010
Chỉ
tiêu
199
8
199
9
2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 2008 2009 2010
G 6.1 5.2 6.79 6.89 7.08 7.34 7.79 8.44 8.23 8.48 6.23 5.32 6.7
(nguồn: TCTK)
Biểu đồ 2.2
Chúng ta có thể thấy rằng nền kinh tế của chúng ta đã hình thành một chu kỳ
khá rõ nét với thời gian là khoảng trên dưới 10 năm, nếu tính dài hơn thì
Đề án môn học
chúng ta còn thấy rằng kể từ năm 1986 tới nay đã có hai chu kỳ với suy thoái
năm 1986 tới 1998, năm tiếp theo là năm 2008, 2009 với cuộc khủng hoảng
tiếp đến các chỉ tiêu năng suất lao động, hiệu quả đầu tư, và nhất là đến khả
năng duy trì bức tranh tăng trưởng kinh tế trong dài hạn cũng như khả năng
khai thác triệt để các tiềm năng của đất nước. Sự đóng góp của yếu tố TFP
thấp còn cho thấy: công nghệ sử dụng trong nền kinh tế của VN chủ yếu là ở
trình độ công nghệ thấp (60%), chỉ có 20% công nghệ trình độ cao. Yếu tố đó
đã làm cho năng lực cạnh tranh toàn cầu của VN đang ở điểm số rất thấp.
Đề án môn học
Trong bảng xếp hạng năng lực cạnh tranh toàn cầu, thứ hạng của VN luôn bị
tụt, năm 2007 tụt đi so với 2006 4 hạng, đến năm 2008, lại tụt đi 3 hạng. Hiện
nay chúgn ta chỉ đạt 3,89 điểm và đứng thứ 77/125 nước.
Trong số 2 nhân tố tăng trưởng theo chiều rộng là vốn và lao động thì yếu
tố vốn đóng vai trò quyết định nhất. Hiện nay tăng trưởng GDP của VN vẫn
chịu ảnh hưởng lớn (đến ≈ 60%) là do yếu tố vốn. Mô hình tăng trưởng của
VN còn được gọi là mô hình tăng trưởng dựa vào vốn, trong khi vốn lại được
sử dụng chưa có hiệu quả, mà quan trọng hơn chúng ta lại là nước không có
lợi thế vốn. Nếu trong những năm tới, do ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế
toàn cầu, các nhà đầu tư nước ngoài giảm tốc độ đầu tư vốn vào Việt Nam,
dòng vốn ODA, vay thương mại bị gián đoạn, điều đó chắc chắn sẽ ảnh
hưởng đến khả năng duy trì tốc độ tăng trưởng GDP cao của Việt nam và như
vậy thì mục tiêu vượt ngưỡng các nước đang phát triển có mức thu nhập thấp
sẽ bị ảnh hưởng đáng kể.
II.2.2.2. Cấu trúc tăng trưởng theo ngành.
Biểu đồ 2.4 : Tốc độ tăng trưởng kinh tế theo ngành thời kỳ 2000- 2009
(Nguồn: tính toán từ số liệu niên giám thống kê 2005, 2006 và báo cáo thực hiện
KH 2007)
Đề án môn học
Có thể thấy, tốc độ tăng trưởng khu vực công nghiệp gần như ổn định trong
suốt 7 năm liền, năm 2009, có dấu hiệu khôi phục sau khi bị suy giảm khá nhiều
ở năm 2007 do ảnh hưởng suy thoái kinh tế. Tuy hai năm 2007 và 2009, tốc độ
tăng trưởng bị sụt giảm, nhưng nhìn chung, tốc độ tăng trưởng ngành dịch vụ có
1611,1 1801,1
Tốc độ tăng
NSLĐ (%)
- 1,52 5,4 5,5 11,2 14,48 12,71 14,44 11,79
Nguồn: tính toán từ số liệu của tổng cục thống kê
Bảng số liệu trên cho thấy thời kỳ từ 2000 đến nay, tốc độ tăng năng suất
lao động của Việt nam có xu hướng đạt trên 10%/năm. Tuy vậy, đây là tốc độ
tăng trưởng danh nghĩa, nếu loại bỏ yếu tố biến động giá trong GDP danh
Đề án môn học
nghĩa thì tốc độ tăng năng suất lao động của chúng ta chưa cao (chỉ khoảng 4-
5%/năm), và có xu hướng không đều. Năm 2008 có biểu hiện giảm đi so với
những năm gần đây, thậm chí tốc độ tăng NSLĐ năm 2008 so với 2007 là con
số âm nếu tính theo mức tăng trưởng thực. Nếu so sánh với năng suất lao
động của một số nước trong khu vực (xem biểu đồ dưới đây)
Biểu đồ 2.4: Năng suất lao động của Việt Nam và một số nước trong khu vực
Nguồn: Bộ Kế hoạch và Đầu tư
Ghi chú: GDP VN là số liệu năm 2008, các nước còn lại là số liệu năm
2006.
Rõ ràng năng suất lao động của VN hiện tại đạt được quá thấp, chỉ bằng ½
của Trung quốc, ¼ Thái lan, thậm chí Năng suất lao động của Hàn quốc gấp
20 lần và của Singapore gấp 40 lần NSLĐ của Việt Nam. Nếu chúng ta thực
hiện được chiến lược nâng cao NSLĐ lên, với số lượng lao động trên 50 triệu
người, thì khả năng nâng cao mức GDP sẽ cao hơn nhiều và chúng ta vừa có
khả năng vượt xa ngưỡng nghèo danh nghĩa, đồng thời sẽ có cơ hội thực hiện
vượt ngường nghèo đích thực và hiệu quả.
Đề án môn học
Trong khi NSLĐ của những lao động đang hoạt động kinh tế thấp thì tỷ lệ
thất nghiệp của cả khu vực thành thị và nông thôn cũng còn ở mức độ khá
cao. Năm 2008, Tình trạng thất nghiệp lại có biểu hiện tăng lên ở cả 2 khu
vực này, tỷ lệ thất nghiệp ở thành thị ở mức trên 5% và tỷ lệ sử dụng thời gian
Việt Nam 2001-2005
2006
2007
2008
37,7%
40%
43%
7,5
8,17
7,48
6,5
5,0
5,01
5,8-6
Trung Quốc 1991-2003 39,1 9,5 4,1
Nhật Bản 1961-1970 32,6 10,2 3,2
Hàn Quốc 1981-1990 29,6 9,2 3,2
Đài Loan 1981-1990 21,9 8,0 2,7
Đề án môn học
Chúng ta thấy: hệ số ICOR của chúng ta hiện nay cao hơn nhiều so với
Thái lan (3,84 năm 2004), và so với quốc gia có tốc độ tăng trưởng cao hơn
của Việt Nam là Trung Quốc, hệ số này cũng chỉ đạt 4,1 bình quân giai đoạn
1991-2003 cho tốc độ tăng trưởng GDP bình quân là 9,5%. Sự yếu kém này
có thể sẽ làm ảnh hưởng tiêu cực đến đà tăng trưởng kinh tế Việt Nam trong
những năm tới. Hơn nữa, nếu chúng ta sử dụng vốn có hiệu quả hơn thì với
lượng vốn tích lũy được như vậy, khả năng đạt mức GDP cao hơn nhiều là
điềutrong tầm tay và khả năng vượt ngưỡng nghèo đích thực sẽ thực hiện
được.
+tỷ lệ chi phí trung gian.
Có thể sử dụng sự so sánh giữa tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất (GO) với
vậy nhưng chúng ta đã phải hi sinh, trả giá đắt cho quá trình tăng trưởng ấy về
mặt môi trường để biến 2 đầu tàu tăng trưởng HN, TP HCM thành những
thành phố nổi tiếng cả về độ ô nhiễm trên thế giới, thêm vào đó là vấn đề bất
Đề án môn học
bình đẳng đang gia tăng theo hướng ngày một tăng và tăng trưởng rơi nhiều
vào người giàu hơn.
- Hạn chế từ thiếu nguồn lực tăng trưởng theo chiều sâu.
Chúng ta đã xác định rằng kết hợp với khoa học công nghệ thì yếu tố vốn con
người trở thành yếu tố quyết định tới tăng trưởng dài hạn thì chúng ta đào tạo,
dạy nghề cũng chưa tốt, nhiều bất cập đến độ mà giai đoạn hiện nay được
xem là “khủng hoảng” giáo dục nhất là giáo dục đại học.
Đề án môn học
CHƯƠNG III.
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
Tăng trưởng kinh tế việt nam là tăng trưởng theo chiều rộng, hiệu quả
thấp, chủ yếu dựa vào gia công và xuất khẩu, có xuất hiện tính chu kỳ khá rõ
nét nên tăng trưởng thiếu bền vững. Vì vậy cần phải thay đổi tư duy, quan
điểm về mô hình tăng trưởng, về cách thức theo đuổi tăng trưởng theo hướng:
Nâng cao năng lực quản lý, hiệu quả sử dụng vốn, đầu tư trọng điểm
(giảm Icor)
Tập trung nguồn lực cho công tác giáo dục-đào tạo-dạy nghề cho các
cấp, bậc học, trong đó suất đầu tư cho giáo dục tiểu học là cao nhất nên cần
chú trọng kết hợp với giáo dục đại học.
Nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế trên cả 3 phương diện:
cạnh tranh tăng trưởng, cạnh tranh công nghệ và cạnh tranh thể chế.
Năm 2010 chuẩn bị kết thúc với những thành công và bài học kinh
nghiệm rút ra để tái cấu trúc nền kinh tế cho giai đoạn chiến lược quyết định
2011-2020 có thể đưa việt nam về cơ bản trở thành nước công nghiệp theo
hướng hiện đại, vì thế mọi cố gắng và hành động lúc này đều trở nên hết sức
cấp thiết.