Chuyên đề tốt nghiệp
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan ban chuyên đề tốt nghiệp này là công trình nghiên cứu
thực sự của cá nhân, được thực hiện trên cơ sở nghiên cứu lý thuyết, nghiên cứu
khỏa sát tình hình thực tiễn tại địa phương dưới sự hướng dẫn khoa học của cô
PGS.TS Vũ Hoàng Ngân.
Các số liệu và những kết quả trong chuyên đề là trung thực, các giải pháp
đưa ra suất phát từ thực tiễn và kinh nghiệm, chưa từng được công bố dưới bất cứ
hình thức nào.
Một lần nữa tôi xin khẳng định về sự trung thực của lời cam kết trên.
Hà Nội, ngày 15 tháng 5 năm 2011
Sinh viên thực hiện
Hoàng Văn Hợp
SVTH: Hoàng Văn Hợp Lớp: QTNL – KV19
Chuyên đề tốt nghiệp
LỜI CẢM ƠN
Xin chân thành cảm ơn PGS.TS Vũ Hoàng Ngân đã tận tình hướng dẫn và
quý thầy cô trong khoa Kinh tế và Quản lý nguồn nhân lực đã truyền dạy những
kiến thức quý báu trong chương trình học Đại học và giúp đỡ, hướng dẫn, chỉ bảo
tận tình cho chuyên đề được hoàn thành thuận lợi.
Cảm ơn Th.S Nguyễn Chung Thủy - Trưởng phòng NN&PTNT huyện Than
Uyên và các phòng ban trong huyện đã cung cấp thông tin, số liệu, nhiệt tình trao
đổi, góp ý kiến để tôi hoàn thành chuyên đề thực tập tốt nghiệp của mình.
SVTH: Hoàng Văn Hợp Lớp: QTNL – KV19
Chuyên đề tốt nghiệp
MỤC LỤC
DANH MỤC BẢNG BIỂU, SƠ ĐỒ
Biểu 1.1. Phân bố hộ đói nghèo theo vùng năm 2005 (theo chuẩn mới cho giai đoạn
2006-2010)
Biểu 2.1. Tổng hợp diện tích tự nhiên toàn huyện
Biểu 2.2. Tổng hợp lao động của huyện Than Uyên
kém phần quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của nước ta. Công tác
xóa đói giảm nghèo là một vấn đề xã hội ngày càng được Đảng Nhà nước đặc biệt
quan tâm và cụ thể hóa bằng các chương trình, chính sách giúp đỡ cụ thể như: Chương
trình 134, 135, 167, 159, Đặc biệt là Nghị quyết 30a/2008/NQ-CP ngày 27/12/2008
của chính phủ về hỗ trợ giảm nghèo nhanh và bền vững tại các huyện nghèo nhằm tạo
bước chuyển mạnh mẽ về kinh tế - xã hội, cải thiện đời sống nhân dân những huyện
nghèo, thu hẹp dần mức sống giữa các vùng, miền và tiếp tục thực hiện công tác xóa
đói giảm nghèo bền vững.
Lai Châu là một tỉnh biên giới nằm ở phía Tây Bắc của Tổ quốc với diện tích tự
nhiên 9.059,4km
2
, tổng dân số 370 135 người với hơn 20 dân tộc anh em cùng chung
sống. Lai Châu là một trong những tỉnh nghèo của cả nước, tỷ lệ đói nghèo cao 52%,
điều kiện tự nhiên khắc nghiệt, trình độ dân trí thấp, tốc độ tăng dân số cao, điều kiện
cở sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng còn thấp. Vì vậy, Tỉnh ủy, HĐND và UBND
tỉnh cũng đặc biệt quan tâm đến vấn đề xóa đói giảm nghèo. Tỉnh Lai Châu có 5/7
huyện nghèo, trong đó Than Uyên cũng là một trong 62 huyện nghèo của cả nước.
Than Uyên là huyện vùng sâu, vùng xa của tỉnh Lai Châu, với diện tích tự nhiên
là 79.687,6 ha, dân số có 56.537 người (mật độ dân số 57 người/km
2
) trong đó dân tộc
thiểu số chiếm 87% dân số. Gồm 10 dân tộc, trong đó dân tộc Thái chiếm 63%;
H'Mông 16%; Kinh 13%; Khơ Mú 3%; Dao 2,5%, còn lại là các dân tộc khác. Kinh tế
có xuất phát điểm thấp, chậm phát triển, tỷ lệ đói nghèo cao, điều kiện tự nhiên khắc
nghiệt, trình độ dân trí thấp, việc chăm sóc sức khỏe nhân dân còn kém, điều kiện cơ sở
vật chất còn thiếu và yếu kém. Những yếu kém đó đã làm cho nền kinh tế của huyện
chậm phát triển, sản xuất nhỏ lẻ, manh mún, chủ yếu là tự cung tự cấp. Khoảng cách
chênh lệch về mức sống giữa thị trấn và các xã, giữa các dân tộc trong huyện ngày
càng tăng. Do vậy, xóa đói giảm nghèo được coi là nhiệm vụ trọng tâm hàng đầu trong
công cuộc phát triển kinh tế xã hội của huyện là nhiệm vụ trọng tâm, thường xuyên của
cuộc sống, tiếp cận những nhu cầu, các vấn đề về dinh dưỡng, giáo dục và các dịch vụ
y tế, việc xác định một đối tượng là nghèo hay không, phải dựa trên chuẩn nghèo của
quốc gia và của thế giới.
* Nghèo tương đối: Là tình trạng một bộ phận dân cư, một cá nhân có thu nhập
thấp hơn mức thu nhập, mức sống trung bình của xã hội, do đó họ thiếu cơ hội để tạo
thu nhập, thiếu tài sản để tiêu dùng và dễ bị tổn thương khi gặp rủi ro.
1.1.1. Những quan niệm chung về xóa đói, giảm nghèo
* Quan niệm về nghèo đói: Mỗi quốc gia, từng vùng, từng nhóm dân cư nhìn
chung không có sự khác biệt đáng kể, tiêu chí để xác định đều dựa trên khả năng thu
nhập hoặc mức chi tiêu để thỏa mãn những nhu cầu cơ bản của con người về ăn, mặc,
ở, đi lại, chăm sóc sức khỏe, học hành giao tiếp xã hội. Sự khác biệt rõ nhất là mức độ
thỏa mãn những nhu cầu đó cao hay thấp, phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế xã
hội cũng như phong tục tập quán của từng vùng, từng quốc gia.
Ở nước ta quan niệm về đói nghèo thường trực diện hơn, đơn giản hơn như:
nghèo đói không đủ ăn, thiếu ăn, nhà cửa dột nát, thường xuyên ốm đau nhưng không
có tiền chữa bệnh, con cái không được đến trường.
Nhìn chung có 3 đặc trưng cơ bản của đói nghèo là:
- Không được thụ hưởng những nhu cầu cơ bản ở mức tối thiểu dành cho
con người.
- Có mức sống thấp hơn mức sống trung bình của cồng đồng dân cư.
- Thiếu cơ hội lựa chọn, tham gia vào quá trình phát triển của cộng đồng.
SVTH: Hoàng Văn Hợp 3 Lớp: QTNL – KV19
Chuyên đề tốt nghiệp
Biểu hiện và đặc điểm của người nghèo:
- Thiếu cơ hội và khả năng lựa chọn cơ hội, ẩn mình trong giao tiếp, ngại tiếp
xúc ở chỗ đông người, tự ti trong quan hệ.
- Không giám đưa ra ý kiến đóng góp vì thấy ý kiến của mình có vẻ như thiếu
trọng lượng, không được người khác coi trọng.
Khái niệm xóa đói - giảm nghèo: Xóa đói giảm nghèo là tổng thể các biện
pháp, chính sách của nhà nước và xã hội hay là của chính những đối tượng thuộc diện
tiện, cơ sở hạ tầng thiếu thốn, không có điều kiện phát triển sản xuất đảm bảo cuộc
sống và là vùng có số hộ nghèo và xã nghèo cao.
1.2. Chuẩn mực về đói nghèo ở Việt Nam và trên thế giới
Ngưỡng nghèo hay mức nghèo là mức chi dùng tối thiểu, được xác định như
tổng số tiền chi cho giỏ hàng tiêu dùng trong thời hạn nhất định, bao gồm một lượng
tối thiểu lương thực thực phẩm và đồ dùng cá nhân, cần thiết để bảo đảm cuộc sống và
sức khỏe một người ở tuổi trưởng thành, và các khoản chi bắt buộc khác.
Người ở ngưỡng nghèo là người có tổng thu nhập tương đương với tổng chi
dùng tối thiểu đó.
1.2.1. Chuẩn mực đói nghèo ở một số nước trên thế giới
Nhiều nước trên thế giới ấn định ngưỡng nghèo thành một điều luật. Ở các nước
phát triển ngưỡng nghèo cao hơn đáng kể so với các nước đang phát triển. Hầu như
mọi xã hội đều có công dân đang sống nghèo khổ.
Theo Ngân hàng Thế giới (WB), từ những năm 80 cho đến nay chuẩn mực để
xác định danh giới giữa người giàu với người nghèo ở các nước đang phát triển và các
nước thuộc khu vực ASEAN được xác định bằng mức chi phí lương thực thực phẩm
cần thiết để duy trì cuộc sống với mức tiều dùng nhiệt lượng từ 2100 - 2300
calo/ngày/người hoặc mức thu nhập bình quân tính ra tiền là 370USD/người/năm.
- Ấn Độ: lấy chuẩn nghèo là 2250 calo/người/ngày.
- Băng la đét: lấy tiêu chuẩn là 2100 calo/người/ngày.
- In đô nê xi a: vào đầu những năm 80 lấy mức tiêu dùng nhiệt lượng là 2100
calo/người/ngày làm mức chuẩn để xác định danh giới giữa giàu với nghèo.
- Ở Trung Quốc: năm 1990 lấy mức tiêu dùng là 2150 calo/người/ngày.
SVTH: Hoàng Văn Hợp 5 Lớp: QTNL – KV19
Chuyên đề tốt nghiệp
- Các nước công nghiệp phát triển Châu Âu: 2570 calo/người/ngày.
1.2.2. Chuẩn mực về đói nghèo ở Việt Nam
Ở mỗi thời kỳ, mỗi giai đoạn phát triển khác nhau của nền kinh tế đều có chuẩn
mực đói nghèo riêng, để xác định mức đói nghèo cho phù hợp với thu nhập bình quân
của dân chúng. Chuẩn mực đói nghèo là khái niệm động, nó biến đổi theo không gian
nghèo là tỷ lệ số hộ có thu nhập dưới hoặc bằng chuẩn nghèo đối với toàn bộ số hộ
trong quốc gia. Các cải cách kinh tế - xã hội như phúc lợi xã hội và bảo hiểm thất
nghiệp được tiến hành dựa trên những phản ánh của các chỉ số như ngưỡng nghèo và tỷ
lệ nghèo.
Các yếu tố của ngưỡng nghèo: Việc xác định ngưỡng nghèo thường được
thực hiện bằng cách tìm ra tổng chi phí cho tất cả các sản phẩm thiết yếu mà một
người lớn tiêu thụ trong một năm. Phương pháp tiếp cận này dựa trên cơ sở rằng cần
một mức chi tiêu tối thiểu để đảm bảo duy trì cuộc sống. Đây đã là cơ sở ngưỡng
nghèo ở Hoa Kỳ, mức chuẩn này đã được nâng lên theo lạm phát. Trong các nước
đang phát triển, loại chi dùng đắt nhất trong các khoản là trả cho thuê nhà (giá thuê
căn hộ). Do đó, các nhà kinh tế đặc biệt chú ý đến thị trường bất động sản và giá
thuê nhà vì ảnh hưởng mạnh mẽ của chúng đến ngưỡng nghèo. Các yếu tố cá nhân
thường được nghiên cứu như vị trí trong gia đình: người đó có phải là bố mẹ, người
già, trẻ con, kết hôn hay không, v.v.
Chính phủ Việt Nam đã 4 lần nâng mức chuẩn nghèo trong thời gian từ năm
1993 đến năm 2005.
Theo Quyết định số 143/2001/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 27 tháng
9 năm 2001, trong đó phê duyệt "Chương trình quốc gia xóa đói và giảm nghèo giai
đoạn 2001 - 2005, thì những hộ có thu nhập bình quân đầu người ở khu vực nông thôn
miền núi và hải đảo từ 80.000 đồng/người/tháng (960.000 đồng/người/năm) trở xuống
là hộ nghèo, ở khu vực nông thôn bằng những hộ có thu nhập bình quân đầu người từ
100.000 đồng/người/tháng (1.200.000 đồng/người/năm) trở xuống là hộ nghèo, ở khu
vực thành thị những hộ có thu nhập bình quân đầu người từ 150.000 đồng/người/tháng
(1.800.000 đồng/người/năm) trở xuống là thuộc hộ nghèo.
Theo Quyết định số 170/2005/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 8 tháng
7 năm 2005 về việc ban hành chuẩn nghèo áp dụng cho giai đoạn 2006 - 2010 thì ở
nông thôn những hộ có thu nhập bình quân từ 200.000 đồng/người/tháng (2.400.000
đồng/người/năm) trở xuống là hộ nghèo, ở khu vực thành thị những hộ có thu nhập
bình quân từ 260.000 đồng/người/tháng (dưới 3.180.000 đồng/người/năm) trở xuống là
hộ nghèo.
2005 là 26%, 2006 là 19%.
SVTH: Hoàng Văn Hợp 8 Lớp: QTNL – KV19
Chuyên đề tốt nghiệp
Theo chuẩn giai đoạn 2006-2010, cuối năm 2005, cả nước có khoảng 4,6 triệu
hộ nghèo. Dưới đây là bảng phân bố hộ nghèo theo các vùng trong cả nước năm 2005.
Biểu 1.1. Phân bố hộ đói nghèo theo vùng năm 2005 (theo chuẩn mới cho giai
đoạn 2006-2010)
TT Các vùng Tỷ lệ so với vùng (%)
1
Đông Bắc
36.1
2
Tây Bắc
62.3
3
Đồng bằng sông Hồng
19.8
4
Bắc Trung Bộ
39.7
5
Duyên Hải miền Trung
23.3
6
Tây Nguyên
52.2
7
Đông Nam Bộ
10.2
8
Nghèo đói
Bệnh tật Gia tăng dân số
Môi trường sống Suy dinh dưỡng
Tệ nạn xã hội Thất học
Nghèo đói dẫn đến
SVTH: Hoàng Văn Hợp 10 Lớp: QTNL – KV19
- Cản trở tăng trưởng kinh tế
- Kìm hãm sự phát triển con người
- Nguy cơ mất ổn định và phát triển bền
vững
- Bất bình đẳng xã hội
- Phá hủy môi trường
Chuyên đề tốt nghiệp
Vòng luẩn quẩn của sự nghèo đói kéo theo các vấn đề phát sinh tiêu cực khác của sự
phát triển của mỗi quốc gia, của một vùng, mỗi dân tộc. Vì vậy, muốn cho đất nước phát triển
chúng ta phải phá vỡ các mắt xích cơ bản như: hạn chế gia tăng dân số; nâng cao sức khoẻ và
dinh dưỡng cho người dân; nâng cao trình độ dân trí, hạn chế sự thất học. Để đảm bảo phá vỡ
được vòng luẩn quẩn trên thì chúng ta phải tháo gỡ từng mắt xích cụ thể.
Từ thực tế hiện nay, khi nước ta đang thực hiện chính sách nền kinh tế nhiều
thành phần, đất nước đang bước vào thời kỳ đổi mới toàn diện thì sự phân hóa giàu
nghèo diễn ra rất nhanh. Do vậy, nếu chúng ta không tích cực xóa đói giảm nghèo, giải
quyết việc làm và giải quyết tốt các vấn đề xã hội, thì chúng ta khó có thể đạt được
mục tiêu xây dựng một cuộc sống ấm no về vật chất, tốt đẹp về tinh thần, vừa phát huy
được truyền thống tốt đẹp của dân tộc, vừa tiếp thu được yếu tố lành mạnh và tiến bộ
của thời đại.
Do đó, trong chính sách phát triển kinh tế - xã hội, Đảng và Nhà nước ta đã xây
dựng các chương trình mục tiêu quốc gia, trong đó có chương trình xóa đói giảm nghèo
quốc gia. Xóa đói giảm nghèo là một vấn đề kinh tế - xã hội quan trọng, cần có sự chỉ
đạo thống nhất giữa chính sách kinh tế và chính sách xã hội.
cuộc sống, hòa nhập cộng đồng, xây dựng được mối quan hệ xã hội lành mạnh, giảm
được mức chênh lệch giữa người giàu và người nghèo, giúp người nghèo tự khẳng định
mình, từ đó có lòng tin vào đường lối, chủ trương và chính sách của Đảng và Nhà
nước. Đồng thời hạn chế và tiến tới xóa bỏ được các tệ nạn xã hội, bảo vệ môi trường
sinh thái.
Giải quyết thành công xóa đói, giảm nghèo thì mới giải quyết được xu hướng
phân hóa giàu nghèo, có nguy cơ đẩy tới phân hóa giai cấp từ đó sẽ đe dọa tình hình ổn
định chính trị. Không giải quyết được xóa đói giảm nghèo thì sẽ không thể thực hiện
được công bằng xã hội. Vì vậy, chúng ta nên tập trung mọi nguồn lực để nhanh chóng
xóa đói giảm nghèo nhanh, đảm bảo tính bền vững. Tạo tiền đề để khai thác và phát
triển nguồn lực con người phục vụ sự nghiệp CNH-HĐH đất nước, đưa nước ta "sánh
ngang với các cường quốc năm châu" như Chủ tịch Hồ Chí Minh hằng mong ước.
Cho đến nay, đói nghèo vẫn là nỗi ám ảnh thường trực đối với cả loài người.
Thế giới đã chứng kiến những thảm họa của chiến tranh, thảm họa của thiên tai, dịnh
bệnh với bao nỗi kinh hoàng. Thế nhưng hậu quả do những nạn đói gây ra cũng vô
cùng khủng khiếp. Điều đáng sợ hơn nữa là: nếu như các cuộc chiến tranh dù khốc liệt
vô cùng nhưng rồi trước sau cũng được giải quyết, nếu như những thảm họa do thiên
tai, dịch bệnh gây ra từng bước cũng sẽ được khắc phục thì vấn đề nghèo đói của nhân
SVTH: Hoàng Văn Hợp 12 Lớp: QTNL – KV19
Chuyên đề tốt nghiệp
loại lại là một vấn đề vừa cấp bách, vừa phức tạp lại như một căn bệnh kinh niên khó
bề chạy chữa.
Đói nghèo là nỗi bất hạnh và là một phi lý lớn. Trong khi nền văn minh thế giới
đã đạt được những thành tựu hiển nhiên về tiến bộ khoa học - công nghệ làm tăng đáng
kể của cải vật chất xã hội, tăng thêm vượt bậc sự giàu có cho con người, thì thảm cảnh
đeo đẳng mãi trên lưng con người lại vẫn là sự nghèo đói. Hàng tỷ người thực tế là 1/3
dân số trên thế giới vẫn khốn cùng và đói khát. Thiệt thòi lớn nhất là trẻ em. Hàng
ngày, có gần 100 triệu trẻ em không có cái ăn, trên 100 triệu trẻ em vô gia cư chỉ sống
nhờ của bố thí hoặc sống dựa vào sự lao động quá sức, kể cả bằng các nghề đặc biệt là
móc túi, mại dâm; trên 50 triệu trẻ em làm việc trong những ngành có hại; hàng trăm
Ngay từ những ngày đầu mới thành lập nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, một
trong những nhiệm vụ đầu tiên mà Bác Hồ đã chỉ đạo là chống giặc đói. Vấn đề công
bằng xã hội - vấn đề có quan hệ trực tiếp và quyết định đối với việc xóa đói giảm
nghèo đã được Đảng ta luôn quan tâm chú ý. Những đại hội Đảng gần đây, từ đại hội
VI đến đại hội X, Đảng ta đã có nhiều nghị quyết, nhiều văn bản đề cập đến vấn đề
công bằng xã hội.
Chúng ta hiểu công bằng xã hội vừa là mục tiêu vừa là động lực để phát triển xã
hội không bó hẹp trong lĩnh vực kinh tế mà liên quan tới tất cả các lĩnh vực chính trị -
pháp luật - văn hóa - xã hội. Công bằng xã hôi phải được giải quyết và chỉ có thể được
giải quyết gắn liền với sự pháp triển sản xuất, xây dựng xã hội thực sự dân chủ, xây
dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, xây dựng nền văn hóa tiên tiến đậm đà
bản sắc dân tộc. Công bằng xã hội đòi hỏi phải huy động mọi nguồn lực trong nhân
dân, xã hội hóa nhiệm vụ đền ơn đáp nghĩa, xây dựng và thực hiện tốt kế hoạch phát
triển kinh tế xã hội trên cơ sở vừa tăng nhanh tốc độ phát triển, vừa giảm dần sự mất
cân đối giữa các vùng; giảm dần khoảng cách về thu nhập, mức sống, hưởng thụ giáo
dục, văn hóa, bảo vệ sức khỏe của các tầng lớp dân cư giữa các vùng khác nhau. Đặc
biệt công bằng xã hội đòi hỏi phải thực hiện tốt chương trình xóa đói giảm nghèo, an
sinh xã hội.
Trong các văn kiện quan trọng của Đảng cộng sản Việt Nam, vấn đề xóa đói
giảm nghèo được nhiều lần đề cập tới. Để bảo đảm và hướng tới công bằng xã hội,
Đảng ta khẳng định "khuyến khích làm giàu hợp pháp, chống làm giàu phi pháp đi đôi
với chăm lo xóa đói giảm nghèo, thu hẹp dần khoảng cách về trình độ phát triển, về
mức sống giữa các vùng căn cứ cách mạng và kháng chiến cũ, các gia đình thuộc diện
chính sách, làm cho mọi người, mọi nhà đều tiến tới cuộc sống ấm no, hạnh phúc, ai
cũng có việc làm, có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành và chữa bệnh, từng bước
thực hiện điều Chủ tịch Hồ Chí Minh hằng mong ước".
SVTH: Hoàng Văn Hợp 14 Lớp: QTNL – KV19
Chuyên đề tốt nghiệp
Trong quá trình thiết kế, chỉ đạo thi công việc xây dựng nền kinh tế thị trường
theo định hướng xã hội chủ nghĩa, trên cơ sở nắm bắt những mặt mạnh và mặt yếu của
Chuyên đề tốt nghiệp
kinh tế - xã hội là một bước cải thiện đời sống của nhân dân; bởi vì đây cũng chỉ là
việc thực hiện truyền thống, đạo lý của dân tộc "thương người như thể thương thân",
mà còn là nhiệm vụ để đảm bảo ổn định xã hội, củng cố khối đại đoàn kết dân tộc.
Hai là, tăng trưởng kinh tế là điều kiện giúp cho việc xóa đói giảm nghèo,
nhưng đây là hai nhiệm vụ có tính độc lập tương đói và không phải là một.
Có người cho rằng, muốn xóa đói giảm nghèo thì trước hết phải đầu tư phát
triển sản xuất để tăng trưởng kinh tế. Chỉ khi kinh tế đã phát triển đến một giai đoạn
nhất định sẽ hết đói nghèo, vì thế không nên đặt vấn đề xóa đói giảm nghèo là nhiệm
vụ lâu dài và trọng yếu. Thực ra tăng trưởng kinh tế có ảnh đến việc giải quyết vấn đề
đói nghèo bởi vì nguyên nhân chính yếu của đói nghèo là do kinh tế chưa phát triển.
Tuy nhiên, đói nghèo lại do nhiều nguyên nhân khác mang tính đặc thù. Vả lại, trong
điều kiện kinh tế như nước ta hiện nay, chúng ta chấp nhận kinh tế nhiều thành phần
cùng vận động, phát triển cũng là phải chấp nhận tình trạng phân hóa giàu nghèo tương
đối. Vì vậy, xóa đói giảm nghèo không những là vấn đề cần thiết và là nhiệm vụ cấp
bách và quan trọng. Chúng ta xác định sự phân hóa giàu nghèo không thể tránh khỏi,
nên cũng quyết tâm không để xảy ra tình trạng làm giàu vô tội vạ trên lưng người khác,
cũng như tình trạng "kẻ ăn không hết, người lần không ra", không thể để người nghèo
bị bỏ rơi trước con mắt của cộng đồng.
Ba là, xóa đói giảm nghèo thực hiện công bằng xã hội không có nghĩa là kìm
hãm sự phát triển kinh tế, không có nghĩa là cào bằng.
Bốn là, xóa đói giảm nghèo là công việc của toàn xã hội.
Cần khẳng định một cách mạnh mẽ rằng, xóa đói giảm nghèo không dừng lại ở
việc thực hiện chính sách xã hội, không phải việc riêng của ngành lao đông - xã hội
hay một số ngành khác, mà là nhiệm vụ chính trị, kinh tế, văn hóa, là nhiệm vụ chung
của toàn Đảng, toàn dân. Muốn thực hiện thành công việc xóa đói giảm nghèo, tất cả
mọi cán bộ, đảng viên, chính quyền đều phải quan tâm cùng giải quyết, thực hiện các
giải pháp một cách đồng bộ và phải có sự tham gia của toàn thể cồng đồng.
1.4.1. Chương trình quốc gia
* Khái niệm về chương trình mục tiêu quốc gia
* Nội dung của chương trình quốc gia
- Đánh giá thực trạng tình hình của lĩnh vực mà chương trình sẽ thực hiện, luận
chứng những vấn đề cấp bách phải giải quyết bằng chương trình quốc gia.
SVTH: Hoàng Văn Hợp 17 Lớp: QTNL – KV19
Chuyên đề tốt nghiệp
- Xác định phạm vi quy mô và mục tiêu của chương trình, các chỉ tiêu cụ thể cơ
bản phải đạt được trong từng thời gian cụ thể.
- Xác định tổng mức vốn của chương trình, phân luồng nguồn vốn theo từng năm
và phương thức huy động các nguồn vốn.
- Xác định hiệu quả kinh tế - xã hội chung của chương trình và của các dự án đầu tư.
- Đề xuất khả năng lồng ghép với các chương trình sẵn có.
- Kế hoạch, tiến độ thực hiện dự án.
- Sự hợp tác quốc tế (nếu có).
1.4.2. Mục tiêu, phương hướng, thời gian, phạm vi và đối tượng của chương
trình xóa đói giảm nghèo quốc gia
1.4.2.1. Quan điểm
- Xóa đói giảm nghèo là chủ trương lớn, nhất quán của Đảng, Nhà nước là sự
nghiệp của toàn dân. Phải huy động nguồn lực của nhà nước, của xã hội và của người
dân để khai thác có hiệu quả tiềm năng, lợi thế của từng địa phương, nhất là sản xuất
nông nghiệp, lâm nghiệp để xóa đói giảm nghèo, phát triển Kinh tế - xã hội bền vững.
Cùng với sự đầu tư hỗ trợ của Nhà nước và cộng đồng xã hội, sự nỗ lực phấn đấu vươn
lê thoát nghèo của chính những người nghèo, hộ nghèo là nhân tố quyết định sự thành
công của công cuộc xóa đói giảm nghèo.
- Công cuộc giảm nghèo nhanh, bền vững đói với các huyện nghèo là nhiệm vụ
chính trị trọng tâm hàng đầu, đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp của các cấp ủy Đảng, sự chỉ
đạo sâu sát, cụ thể và đồng bộ của các cấp chính quyền, sự phối hợp tích cực của Mặt
trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân; đồng thời, phải phát huy vai trò làm chủ của
người dân từ khâu xây dựng kế hoạch, đến tổ chức thực hiện, giám sát, đánh hiệu quả
của Chương trình.
- Cùng với việc tiếp tục thực hiện các chính sách giảm nghèo chung cho cả nước,
trên 50%; số xã đạt tiêu chuẩn nông thôn mới khoảng 50% . Phát triển đồng bộ kết cấu
hạ tầng kinh tế - xã hội nông thôn, trước hết là hệ thống thủy lợi đảm bảo tưới tiêu chủ
động cho toàn bộ diện tích đất lúa có thể trồng 2 vụ, mở rộng diện tích tưới cho rau
màu, cây công nghiệp; bảo đảm giao thông thông suốt bốn mùa tới hầu hết các xã và
cơ bản có đường ô tô tới các thôn, bản đã được quy hoạch; cung cấp điện sinh hoạt cho
hầu hết dân cư; bảo đảm cơ bản điều kiện học tập, chữa bệnh, sinh hoạt văn hóa, tinh
thần, giữ gìn bản sắc văn hóa văn hóa dân tộc.
SVTH: Hoàng Văn Hợp 19 Lớp: QTNL – KV19
Chuyên đề tốt nghiệp
1.4.2.3. Phương hướng
- Xóa đói giảm nghèo phải gắn với tăng trưởng kinh tế.
- Phát huy nguồn lực tại chỗ để từ đó người nghèo, xã nghèo, vươn lên tự xóa
đói giảm nghèo.
- Xóa đói giảm nghèo phải gắn với công bằng xã hội, ưu tiên giải quyết cho các
xã ĐBKK, xã nghèo vùng sâu, vùng xa, đồng bào dân tộc ít người, vùng căn cứ cách
mạng.
- Thực hiện xã hội hóa công tác xóa đói giảm nghèo.
1.4.2.4. Phạm vi
Chương trình được thực hiện trong phạm vi cả nước, trong những năm đầu tập
trung ưu tiên các xã nghèo, các vùng ĐBKK, vùng cao, vùng sâu vùng xa, hải đảo.
1.4.2.5. Đối tượng của công tác xóa đói giảm nghèo quốc gia
Đối tượng tác động của Chương trình xóa đói giảm nghèo là người nghèo, hộ
nghèo, xã nghèo. Việc xác định được đối tượng xóa đói, giảm nghèo là hết sức quan
trọng, để từ đó đề ra các chính sách, cơ chế và đầu tư nguồn lực hỗ trợ đúng mục tiêu,
đúng đối tượng.
1.4.2.6. Nhiệm vụ
- Làm chuyển biến trong toàn Đảng, toàn dân về chủ chương xóa đói giảm
nghèo của Đảng và Nhà nước.
- Phát huy tổng hợp toàn bộ nguồn nhân lực.
- Thực hiện những ưu tiên về xã hội, cần thiết cho việc xóa đói giảm nghèo ở
pháp luật còn cao.
- Do bệnh tật sức khoẻ yếu kém và bất bình đẳng giới…
- Nguy cơ dễ bị tổn thương do ảnh hưởng của thiên tai và các rủi ro khác.
* Do lịch sử và điều kiện tự nhiên:
- Chiến tranh lâu dài, gian khổ, cơ sở vật chất bị tàn phá và nguồn lực bị giảm
sút do mất mát trong chiến tranh.
SVTH: Hoàng Văn Hợp 21 Lớp: QTNL – KV19