I. ĐẶC ĐIỂM THỊ TRƯỜNG MỸ
1. Môi trường vĩ mô
1.1. Pháp luật, chính sách
Do tác động của thuế nhập khẩu sau khi Hiệp định Thương mại Việt Nam- Hoa Kỳ
(BTA) được ký kết vào năm 2001 có hiệu lực nên các mặt hàng Việt Nam đã và sẽ thâm
nhập thị trường Hoa Kỳ có thể tạm được phân thành hai nhóm: nhóm có thuế nhập khẩu
thấp hoặc bằng 0, và nhóm có thuế nhập khẩu cao hơn. Cà phê hạt các loại là mặt hàng
được hưởng mức thuế suất bằng 0 cho dù nước xuất khẩu được hay không được hưởng
quy chế Tối huệ quốc (Đãi ngộ Tối huệ quốc (Most Favoured Nation, viết tắt là MFN) là
một trong những quy chế pháp lý quan trọng trong thương mại mại quốc tế hiện đại. Quy
chế này được coi là một trong những nguyên tắc nền tảng của hệ thống thương mại đa
phương của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO)). Tuy nhiên, Việt Nam không nằm
trong số những nước được ưu tiên về thuế quan đối với các sản phẩm cà phê hoà tan.
Các chính sách, luật lệ của Hoa Kỳ khi tham gia thương mại với Việt Nam trong
ngành cà phê. Theo báo The Wall Streets Journal ngày 9/7/2007, ngành công nghiệp cà
phê Hoa Kỳ đã có những cố gắng nhằm thi hành các biện pháp để làm tăng thêm sức ép
đối với những người trồng và xuất khẩu cà phê châu Á, trong đó có Việt Nam, gây trở
ngại cho hoạt động phát triển cà phê chất lượng cao của nước ta. Giờ đây, ngoài đòi hỏi
nhà xuất khẩu phải có giấy chứng nhận về quá trình chấp hành qui định hải quan và tờ
khai về các nơi cung cấp cà phê, nhà xuất khẩu còn phải cung cấp thông tin nhằm bảo
đảm có thể dễ dàng tìm ra xuất xứ của từng lô cà phê. Người ta dự kiến quá trình này sẽ
làm tăng thêm ít nhất 1% chi phí xuất khẩu, tức là khoảng 10 đến 15 USD cho mỗi tấn cà
phê.
Về mối quan hệ với bạn hàng, hầu hết các doanh nghiệp, công ty Hoa Kỳ không
thích làm việc qua trung gian, coi trọng luật lệ và luôn đòi hỏi mọi việc phải được trả lời
nhanh chóng, rõ ràng. Các doanh nghiệp nhỏ và vừa của Hoa Kỳ thường có nhu cầu xuất
nhập hàng hóa rất lớn. Đây mới chính là các đối tác chủ yếu của các doanh nghiệp xuất
khẩu Việt Nam
Mặc dù tự do thương mại nhưng ở Hoa Kỳ hiện có rất nhiều luật lệ quy định về kỹ
thuật và chất lượng, tạo thành các rào cản kỹ thuật đối với sản phẩm cà phê nước ngoài.
Ngoài ra, hoạt động của hàng chục hiệp hội ngành hàng tại Hoa Kỳ trong đó có Hiệp hội
cũng như sự chống đối của họ đối với việc tập trung quyền lực quá đáng. Tuy nhiên, niềm
tin của người Mỹ vào doanh nghiệp tự do không loại bỏ vai trò quan trọng của chính phủ.
Các doanh nghiệp Mỹ sử dụng chính phủ để bảo vệ họ trong cạnh tranh. Vì thế, doanh
nghiệp nước ngoài cần phải nghiên cứu và tìm hiểu kỹ trước khi gia nhập vào thị trường
cạnh tranh khốc liệt này.
2. Tình hình tiêu thụ
2.1. Khả năng tiêu thụ
Hoa Kỳ không những là một nền kinh tế đứng đầu thế giới, mà còn là một thị
trường rộng lớn với dân số đông thứ ba thế giới sau Trung Quốc, Ấn Độ, dân số trẻ chiếm
phần lớn trong cơ cấu dân số. Phần lớn người dân Hoa Kỳ có thói quen uống cà phê và
xem cà phê là một thức uống rất quan trọng trong cuộc sống hàng ngày của họ.
Hoa Kỳ là nước tiêu thụ và nhập khẩu cà phê lớn nhất thế giới, Hoa Kỳ không
trồng cà phê nên tất cả cà phê tiêu dùng ở Hoa Kỳ kể cả cà phê nguyên liệu đều từ nguồn
nhập khẩu. Nhu cầu nhập khẩu cà phê của nước này tương đối ổn định mỗi năm trên 7
triệu tấn. Tuy nhiên, do giá cà phê thế giới thường biến động nên trị giá nhập khẩu cũng
thường biến động theo.
Sản lượng nhập khẩu cà phê của Hoa Kỳ trong 4 năm 2007-2010
Năm Sản lượng (nghìn tấn)
Mức tăng so với năm trước
Tuyệt đối (tấn) Tương đối
2007 6864
2008 8136 1272 18.5%
2009 9012 876 10.6%
2010 10400 1388 15.4%
(nguồn: Vụ quy hoạch - kế hoạch, Bộ NN&PTNT)
Nhìn chung, nhu cầu tiêu dùng cà phê của thị trường Hoa Kỳ vẫn tăng tương đối
qua trong những năm vừa qua, do đây là một thức uống không thể thiếu trong cuộc sống
người Hoa Kỳ, bên cạnh đó thì trong những năm vừa qua dân số Hoa Kỳ tăng trưởng ở
mức cao.
Theo Hiệp hội cà phê Việt Nam (VICOPA) Thị trường Hoa Kỳ rất ưa chuộng loại
Hiện nay Việt Nam có khoảng 500.000 – 525.000 ha cà phê, hiện nay nhà nước
Việt Nam đang cố gắng hạn chế việc mở thêm diện tích trồng cà phê, chỉ trồng tái canh
đối với các diện tích cà phê bị già cỗi, sâu bệnh, năng suất thấp hoặc cải tạo, trồng thay
thé các vườn cà phê giống cũ. Cà phê được trồng tập trung ở các tỉnh Tây Nguyên và
miền Đông Nam Bộ, Quảng Trị, Nghệ An trong đó các tỉnh Tây nguyên chiếm đến 90%
diện tích đất trồng . 3 loại cà phê được trồng chủ yếu ở nước ta là Robusta, Arabica,
Cheri.
Đối với cà phê,điều kiện tự nhiên, địa lí khí hậu của nước ta cho phép trồng được
hai loại cà phê là cà phê chè (Arabica) và cà phê vối (Robusta) trên các vùng riêng biệt.
Việt Nam luôn được xem là nước có sản lượng cà phê Robusta lớn nhất thế giới, hằng
năm đạt 90-95% tổng sản lượng cà phê cả nước, cà phê Robusta được trồng chủ yếu ở
vùng đất cao nguyên chủ yếu là ở Tây Nguyên, đây cũng là nơi có sản lượng cao nhất của
Robusta với khí hậu nhiệt đới nóng ẩm thích hợp với cà phê Robusta, cho sản lượng cao
hơn và có sức đề kháng mạnh hơn cà phê Arabica. Về điều kiện trồng trọt, Robusta thuộc
loại khỏe và cứng cáp, chúng có thể trồng được ở những độ cao thấp, có sức đề kháng
cao với dịch bệnh. Do những đặc tính trên mà cà phê Robusta có sản lượng cao hơn và
giá thành rẻ hơn.
Để tăng năng suất cà phê thì 1 yếu tố cực kì quan trọng là khoa học công nghệ.
Khoa học công nghệ thúc đẩy tăng sản xuất cả vè quy mô và chất lượng. Khoa học công
nghệ tạo ra những cây giống cà phê tốt nhất có khả năng chống chịu sâu bệnh. Công nghệ
tạo khả năng tiết kiệm thời gian, tăng năng suất lao động,giảm giá thành sản xuất, cơ khí
hóa các quá trình tưới tiêu, thu hoạch, chế biến đảm bảo một cách tốt nhất chất lượng cà
phê xuất khẩu tránh thất thoát không đang có trong qua trìh chế biến đáp ứng các yêu cầu
nghiêm ngặt về mặt chất lượng của các thị trường khó tính trên thế giới ghóp phàn làm
tăng giá trị của việc xuất khẩu cà phê.
Nguồn: Tổng cục thống kê
2. Tổng quan về công ty CP XNK Intimex
Công ty xuất nhập khẩu Intimex thành lập năm 1979, là một doanh nghiệp nhà
nước, bị quản lý bởi cơ chế quản lý kinh tế quan liêu bao cấp, nhưng công ty luôn tìm
cách khắc phục mọi khó khăn và luôn là doanh nghiệp đứng thứ hai trong lĩnh vực xuất
một đội ngũ cán bộ - công nhân viên lành nghề để quản lý, vận hành máy…đã đem lại
cho công ty một lợi thế lớn về sản phẩm so với đối thủ cạnh tranh.
4. Chiến lược xâm nhập thị trường
4.1. Xuất khẩu trực tiếp
Công ty cổ phần Intimex là công ty xuất khâu cà phê hàng đầu và có quy mô lớn ở
Việt Nam, cũng như bao công ty xuất khẩu cà phê khác ở Việt Nam xuất khẩu trực tiếp luôn
là phương thức xuất khẩu chủ yếu của công ty . Thuân lợi của phương pháp xuất khẩu trực
tiếp là công ty kiểm soát được nhiều hơn tiến trình xuất khẩu, có khả năng thu được lợi
nhuận và nắm được chặt chẽ hơn người mua bên ngoài và thị trường liên quan , các hợp
đồng được ký kết thông qua sự chào hàng của công ty. Nhưng phương thức này cũng bộc lộ
nhiều hạn chế mà công ty gặp phải, xuất khẩu theo phương thức này công ty đã phải tốn
nhiều thời gian hơn để tìm hiểu thị trường và tốn nhiều nhân sự và sử dụng nhiều nguồn tài
lực của công ty.
4.2. Xuất khẩu cà phê theo phương thức giao xa
Hợp đồng theo phương thức giao xa là hợp đồng nhà nhập khẩu phải ứng trước cho
doanh nghiệp 70% giá trị hàng hóa ở hiện tại nhưng không chốt giá, mà vào thời điểm giao
hàng mới chốt giá dựa vào giá giao dịch trên thị trường và trừ lùi một mức nhất định. Vì vậy,
các doanh nghiệp bán hàng theo phương thức này có nguy cơ thua lỗ nặng, thậm chí bị đối
tác kiện vì không có hàng giao theo hợp đồng, đây là tình trạng chung của các DN xuất khẩu
cà phê nói chung và của Intimex. Thị trường nông sản diễn biến rất khó dự đoán, nếu giao xa
khi giá thế giới tăng, doanh nghiệp sẽ được lợi so với giao ngay nhưng các nhà đầu cơ nước
ngoài họ các doanh nghiệp Việt Nam còn nhiều lô hàng “bán trừ lùi” chưa chốt giá (do chờ
giá sẽ lên), nên họ đã cố tình ép giá xuống ,các nhà đầu cơ nước ngoài họ có sức mạnh tài
chính nên họ tìm cách và ép giá xuống.
4.3. Phương thức giao dịch qua sàn
Mô hình giao dịch này đã được áp dụng từ rất lâu trên thế giới nhưng lại được đưa
vào Việt Nam chưa lâu ,ưu thế lớn nhất của cách giao dịch này là người ta có thể bán cà phê
trong tương lai theo mức giá hiện tại - mức giá mà các doanh nghiệp biết chắc là hợp lý.
Công ty cổ phần Intimex Việt Nam đã và đang áp dụng hình thức giao dịch này, tuy
chỉ ở mức độ khiêm tốn ,năm 2009 vào khoảng 5% lượng cà phê xuất khẩu của công ty