Lời nói đầu
Mỗi doanh nghiệp đều tồn tại và hoạt động trong một môi trường kinh
doanh nhất định. Để đạt được mục tiêu lợi nhuận của mình buộc các Doanh
nghiệp phải tìm cách thích ứng với môi trường kinh doanh đó. Đặc biệt ngày
nay, khi nền kinh tế ngày càng phát triển lên một trình độ cao hơn với sự cạnh
tranh khốc liệt của nó, đòi hỏi mỗi doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển
được thì không những phải biết thích ứng với môi trường mà còn phải tạo
được cho mình những nét đặc thù riêng để có thể phân biệt mình với các
doanh nghiệp khác. Những nột riờng, nét đặc thù đó thường được thể hiện
dưới hình thức văn hoá doanh nghiệp. Văn hoá doanh nghiệp có ảnh hưởng
lớn tới sự thành công và hiệu quả trong hoạt động sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp. Nó tạo ra uy tín, danh tiếng và sức sống cho doanh nghiệp, tạo
ra định hướng chiến lược cho bản thân doanh nghiệp.
Mỗi doanh nghiệp đều có văn hoá, bản sắc riêng của mình. chỉ có điều
văn hoỏ đú, bản sắc đó mạnh hay yếu, được coi trọng hay không và có tác
động tích cực hay tiêu cực tới hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
Đề tài: “Một số giải pháp phát triển văn hóa doanh nghiệp trong hoạt
động kinh doanh của Công ty TNHH Thương mại quốc tế Hữu Tài ” sẽ
phần nào giúp chúng ta thấy được tầm quan trọng của vấn đề Văn hoá trong
doanh nghiệp hiện nay. Từ đó, có thể đưa ra những giải pháp nhằm nâng cao
khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp thông qua văn hóa doanh nghiệp ,
góp phần làm cho nền kinh tế nước ta phát triển ngày càng mạnh hơn.
Để nghiên cứu về một đề tài rộng lớn như đề tài văn hoỏ, thỡ việc chỉ
gói gọn nội dung đề tài trong phạm vi mét doanh nghiệp cụ thể là chưa đầy đủ
và trọn vẹn. Chính vì vậy , trong nội dung đề tài , để có cái nhìn khách quan,
chính xác khi đánh giá về tình hình hoạt động của doanh nghiệp ta có sự xem
xét, đánh giá chung về văn hóa kinh doanh của các doanh nghiệp nước ta nói
chung.
Nội dung đề tài ngoài phần mở đầu và kết luận gồm 3 chương:
Chương I: Một số vấn đề chung về văn hóa và văn hóa doanh nghiệp .
Chương II: Thực trạng tổ chức quản lý và xây dựng văn hoá doanh
Thị trờng
đầu vào
của DN
Quá trình sản xuất
kinh doanh, dịch vụ
của DN
Thị trờng
đầu ra
của DN
- Mỗi DN, xét cho cùng, thường chỉ hoạt động kinh doanh trên một thị
trường nhất định. Việc nghiên cứu là căn cứ quan trọng để DN xác định cho
mình thị trường thích hợp, từ đó có những điều chỉnh về chiến lược kinh
doanh cho phù hợp, đặc biệt là các chiến lược và chính sách dài hạn, đem lại
hiệu quả cao nhất.
- Trong tiến trình hội nhập hiện nay, khi mà nền kinh tế toàn cầu đang
phát triển với tốc độ "chóng mặt", việc tạo ra bản sắc riêng biệt cho mỗi cá
nhân đã, đang và sẽ trở thành một vấn đề quan trọng trong sách lược phát
triển kinh doanh của mỗi DN.
- Nền kinh tế đất nước ta chuyển từ cơ chế bao cấp sang cơ chế thị
trường có sự quản lý của Nhà nước đã tạo cho các DN Việt Nam có nhiều cơ
hội phát triển đầu tư, đồng thời cũng đặt ra cho các DN không Ýt những thử
thách, khó khăn mới trong việc hội nhập và phát triển. Vì vậy, việc tạo ra cho
mình một bản sắc riêng biệt nổi bật là điều rất cần thiết cho sự phát triển bền
vững của đẩI NGHèO.
2.Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
2.1. Đối tượng nghiên cứu
Theo Mác: “Con người là một thực thể thống nhất giữa cái sinh vật và
cái xã hội. Trong tính hiện thực của nó, bản chất con người là tổng hoà
những quan hệ xã hội”. Bản chất của quản trị là quản trị con người. Thực tế,
con người luôn sống trong một môi trường VH đặc thù, tính đặc thù của mỗi
để có thể nắm bắt, hiểu rõ về văn hoá nói chung cũng như VHDN nói riêng,
tuy nhiên bởi tính đồ sộ của nó, đề tài chỉ tập trung nghiên cứu từng nhóm
nhân tố văn hoá cơ bản trong DN.
- Về nội dung, đề tài nghiên cứu trong phạm vi mét DN cụ thể.
+ Tỡm hiểu các yếu tố văn hoá ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh
của DN nói chung.
+ Đánh giá sự ảnh hưởng của yếu tố văn hoá đến hoạt động kinh doanh
của DN tham gia thực tập.
+ Những thành quả về văn hoá mà DN đã đạt được trong thời gian
vừa qua.
+ Xõy dựng các giải pháp vận dụng yếu tố văn hoá trong DN nhằm
nâng cao khả năng cạnh tranh của các DN trong giai đoạn tới.
- Về thời gian,
Thời gian nghiên cứu:
Từ Từ 19/1/2003 đến 29/4/2003
3.Mục đích nghiên cứu.
Nếu như truớc đây, trong các Công ty, DN, Tập đoàn, các Tổ chức
thường chỉ quan tâm đến những quy tắc, những thể chế pháp lý và những thủ
tục có tính công nghiệp thỡ giờ đõy, họ đã chú ý đến những tác động tích cực
của yếu tố văn hoá đối với hoạt động của DN. Nú đó thu hót được sự quan
tâm cùng sự hưởng ứng từ phớa cỏc DN. Do vậy, mục đích nghiên cứu được
đặt ra là:
- Nghiên cứu, tìm hiểu sâu hơn về văn hoá doanh nghiệp của Công ty
TNHH Thương mại quốc tề Hữu Tài trên cơ sở những kiến thức được học
trong và ngoài trường.
- Hệ thống hoá cơ sở lý luận về văn hoá và VHDN.
- Mặt khác, nhằm đáp ứng cho nhu cầu hiểu biết, sự nhận thức về tầm
quan trọng của VHDN đối với những nhà quản trị, những nhà kinh tế,
- Trên cơ sở nghiên cứu ảnh hưởng của yếu tố văn hoá trong kinh doanh,
kiến nghị một số biện pháp vận dụng yếu tố văn hoá vào hoạt động của DN để
- Phương pháp so sánh: Những vấn đề kinh tế chủ yếu thông qua so
sánh các chỉ tiêu cần chú ý đến những điều kiện cụ thể, các giai đoạn phát
triển nhất định và các yếu tố văn hoá khác nhau để lùa chọn quyết định sản
xuất kinh doanh phù hợp với vùng hoặc đơn vị sản xuất cụ thể.
4.3.Phương pháp hệ thống và toàn diện
Là phương pháp chủ yếu để tạo ra tính thống nhất giữa các nội dung,
các vấn đề cần giải quyết trong phạm vi nghiên cứu của đề tài.
4.4. Phương pháp phân tích - tổng hợp
Phương pháp này nhằm phân tích và tổng hợp các tri thức đã thu nhận
được thành một hệ thống kiến thức để nắm bắt được các nội dung cơ bản và
hiểu sâu sắc, tường tận những dấu hiệu đặc thù, cấu trúc bên trong của vấn đề
nghiên cứu,
Chương I:
MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ VĂN HOÁ VÀ VĂN HOÁ
DOANH NGHIỆP
1.1.Khái quát về văn hoá
1.1.1. Văn hoá là gì ?
Văn hoá là lĩnh vực vô cùng phong phú, phức tạp, khó mà định ra một
công thức, khuôn mẫu chung và chính xác cho Văn hoá. Cho đến nay, người
ta đã thống kê là có hơn 400 định nghĩa khác nhau về văn húa. Trong từ “văn
hoá” thì văn có nghĩa là “vẻ đẹp”, văn hoá có nghĩa là “trở thành đẹp, thành
có giá trị”. Nói tới văn hoá là nói tới con người, là nói tới việc phát huy
những năng lực bản chất của con người nhằm hoàn thiện con người, hoàn
thiện xã hội. Do đó, khái niệm văn hoá chứa đựng tính chất nhân văn.
Văn hoá hiểu theo nghĩa rộng bao gồm toàn bộ các giá trị do con người
sáng tạo ra và phương thức con người sử dụng các giá trị đó trong các hoạt
động của mình. Đó là toàn bộ sự hiểu biết của con người về tự nhiên, xã hội
và bản thân con người; là toàn bộ những phương pháp, phương thức hoạt
động của con người trong quá trình cải tạo tự nhiên, xã hội, bản thân; là cách
ứng xử của con người đối với tự nhiên xung quanh, đối với xã hội và đối với
năngtổ chức Xã hội. VH thường xuyên làm tăng tính ổn định Xã hội, cung
cấp cho Xã hội mọi phương tiện cần thiết để ứng phó với môi trường tự
nhiên, Xã hội của mình.
- Tính giá trị (Chân - Thiện - Mỹ). Văn hoá chứa cái đẹp, chứa các giá
trị. Nó là thước đo giá trị nhân bản của xã hội và con người.
VH thực hiện chức năng điều chỉnh Xã hội, giúp cho Xã hội duy trì
được trạng thái cân bằng động của mình, không ngừng tự hoàn thiện và thích
ứng với những biến đổi của môi trường nhằm tự bảo vệ để tồn tại và phát
triển.
- Tính nhân sinh. Văn hoá là sản phẩm do con người sáng tạo ra, nó là
một hiện tượng xã hội, là sản phẩm hoạt động thực tiễn của con người. Văn
hoá là phần giao giữa tự nhiên và con người. Đặc trưng này của văn hoá cho
phép phân biệt loài người sáng tạo với loài vật bản năng.
- Tính lịch sử. Văn hoá bao giê cũng hình thành trong một quá trình và
được tích luỹ qua nhiều thế hệ dưới dạng ngôn ngữ, phong tục, tập quán, nghi
lễ, luật pháp, dư luận,
+ VH thực hiện chức năng giao tiếp, mà biểu hiện cụ thể của nó chính
là ngôn ngữ. Do gắn liền với những hoạt động của con người. VH trở thành
một công cụ giao tiếp quan trọng. Nếu ngôn ngữ là hình thức giao tiếp thì VH
là nội dung của nú.Ngụn ngữ là công cụ đầu tiên, quan trọng nhất để phân biệt
giữa các cộng đồng khác nhau trên thế giới.
+ VH thực hiện chức năng giáo dục. Đây là chức năng quan trọng
nhất của VH.Truyền thống VH tồn tại được là nhờ giáo dục.VH thực hiện
chức năng giáo dục không những bằng các giá trị truyền thống mà bằng cả
những giá trị đang hình thành. Với chức năng giáo dục, VH tạo nên sự phát
triển liên tục của lịch sử nhân loại và lịch sử mỗi dõn tộc, là chiếc cầu nối hữu
nghị gắn bó những dõn tộc, những thế hệ hướng về cỏi Chõn- Thiện-Mỹ.
1.1.3. Bản chất của văn hoá
Về bản chất, VH là hoạt động nhằm sản xuất ra các giá trị tinh thần,
VH là một tổng thể của rất nhiều hoạt động. Các hoạt động đó đều hướng tới
liên kết với nhau trong những nhóm xã hội và trong toàn xã hội. Đồng thời, sự
sáng tạo Êy được thực hiện trong từng giai đoạn lịch sử nhất định của xã hội
và dựa trờn một phương thức sản xuất nhất định. Sự sáng tạo văn hoá được
thực hiện thông qua những cá nhân cấu thành xã hội. Không có văn hoá tự
nhiên và văn hoá cá nhân thuần tuý.
- Tính giai cấp của văn hoá. Trong xã hội phân chia thành giai cấp,
văn hoá bao giê cũng mang tính giai cấp và sự kế thừa văn hoỏ luụn mang
theo tính giai cấp. Tính giai cấp của văn hoá biểu hiện trong hệ thống giá trị
xã hội in đậm dấu Ên của giai cấp sáng tạo ra nó. Nếu giai cấp là tiến bộ, cách
mạng thì văn hoỏ nú để lại cũng biểu hiện tính chất tiến bộ, cách mạng của
giai cấp đó và thúc đẩy xã hội phát triển; ngược lại, văn hoá của giai cấp lỗi
thời, lạc hậu thì kìm hãm sự phát triển xã hội
- Tớnh dõn tộc của văn hoá. Mọi nền văn hoá đều mang tớnh dõn tộc.
Vỡ mọi cá nhân, giai cấp xã hội từ trước đến nay đều thuộc về một dõn tộc
nhất định, do đó văn hoá được sáng tạo vừa có tinh giai cấp lại vừa có tính
dõn tộc. Tớnh dõn tộc của văn hoá là tính cộng đồng dõn tộc được thể hiện
trong các giá trị văn hoỏ. Tớnh dõn tộc của văn hoá không hề phủ nhận tính
nhân loại, tính thời đại của văn hoá.
Mỗi một nền văn hoá đều có một tiến trình phát triển riêng, qua những
giai đoạn khác nhau lại cú thờm những đặc tính và biểu hiện mới. Song nó
vẫn có một số điểm chung của xã hội loài người. Trong quá trình phát triển
của văn hoỏ cũn cú sự giao lưu lẫn nhau giữa cỏc dõn tộc, giữa các nền văn
minh. Sù giao lưu đú giỳp cho mỗi dõn tộc có thể tiếp thu được các thành tựu
văn hoá của dõn tộc khỏc, cỏc giá trị văn minh của thời đại, có thể bảo tồn và
phát triển tớnh dõn tộc lờn một trình độ mới. Tớnh dõn tộc là một đặc điểm
rất quan trọng của văn hoá mà hiện nay tất cả các quốc gia trên thế giới đều
rất quan tâm khôi phục và phát triển các truyền thống văn hoỏ dõn tộc.
1.1.5. Vai trò của văn hoá
Văn hoá không chỉ là phương tiện để đạt được những phóc lợi trong
cuộc sống mà còn nhằm mục đích phát triển và hoàn thiện con người. Văn
trị Chân - Thiện - Mỹ. Đó vừa là động cơ vừa là mục tiêu cao cấp nhất của
mỗi cá nhân. Các giá trị văn hoá trở thành những chuẩn mực định hướng và
điều chỉnh hành vi của cá nhân, họ tuân theo các chuẩn mực đó một cách tự
giác.
1.1.5.2. Văn hoá đối với sự phát triển kinh tế - xã hội
Trong thời đại ngày nay, khi mà trên thế giới đang diễn ra những biến
đổi xã hội nhanh chóng và sâu sắc, khi mà cuộc cách mạng khoa học và công
nghệ đang đạt được những thành tựu to lớn thì văn hoá càng đóng vai trò đặc
biệt quan trọng trong sự phát triển kinh tế- xã hội. Dõn tộc sẽ không phát triển
được nếu trình độ VH của nhân dân thấp kém.
- VH là mục tiêu, là động lực của sự phát triển kinh tế- xã hội. Nếu như
trước đây, trong xã hội TBCN, quyền lực về kinh tế đóng vai trò chủ đạo
quyết định sự hùng mạnh của một quốc gia thỡ giờ đõy, trong tình hình thế
giới đang biến đổi một cách nhanh chóng cùng với tiến trình toàn cầu hoỏ, thỡ
trình độ phát triển của các quốc gia không những căn cứ vào sự tăng trưởng
và phát triển kinh tế mà còn căn cứ vào mức độ phát triển con người. Ngày
nay, khi nhắc đến một nền kinh tế hùng mạnh, ta không thể chỉ hiểu đơn giản
đó là nền kinh tế đem lại mức xiêu lợi nhuận mà đó là nền kinh tế đã tạo dựng
được cho mình một bản sắc riêng biệt không chỉ nhằm phân biệt mình với các
nền kinh tế khác mà còn để khẳng định sức mạnh cá nhân trước môi trường
xung quanh.
- Văn hoá là nền tảng tinh thần của Xã hội. Đời sống vật chất và đời
sống tinh thần là hai mặt của đời sống con người, chúng có quan hệ mật thiết
và tác động qua lại lẫn nhau. Khi mà đời sống vật chất ngày càng được nâng
cao thì đời sống tinh thần cũng phải được nâng cao tương ứng. Văn hoá với tư
cách là nền tảng tinh thần của Xã hội cũng không ngừng phát triển và hoàn
thiện.
1.1.6. Mối quan hệ giữa văn hoá với kinh tế và chính trị
Mặc dù VH là hoạt động tinh thần, thuộc về ý thức của con người và
con người được xem xét trong khuôn khổ là sản phẩm và là chủ thể của văn
Kinh tế không thể phát triển lành mạnh và lâu bền nếu thiếu nền tảng văn hoá.
Và văn hoá không phải là sản phẩm thụ động của kinh tế, mà cũn cú một sức
mạnh tinh thần lớn lao tác động ngược lại đối với kinh tế. Chỉ có trên cơ sở
mối quan hệ hài hoà, hợp lý giữa kinh tế và văn hoỏ thỡ mỗi quốc gia mới
mong đạt tới sự phát triển năng động, có hiệu quả và chất lượng cao về mọi
mặt của đời sống.
Vì thế, phát triển không nên giới hạn hẹp vào tăng trưởng kinh tế. Nú
cũn mang tính chính trị, xã hội, nhân văn và môi trường cũng như văn hoá
(phát triển là bền vững). Không có văn hoá, kinh doanh vẫn hoạt động, nhưng
điều đó không dẫn đến phát triển bền vững.
1.1.6.2. Văn hoá với Chính trị
Cùng với kinh tế là chính trị, văn hoá không thể nằm ngoài chính trị, dù
văn hoá và chính trị đều thuộc kiến trúc thượng tầng. Chính trị quy định
phương hướng phát triển của văn hoá, tạo nên nội dung ý thức hệ của văn hoá
và bằng hệ thống các chính sách pháp luật quản lý các hoạt động văn hoá. Vì
vậy, một chế độ chính trị phản động không tạo nên nền văn hoá tiến bộ. Văn
hoá, theo nghĩa đích thực của nó, bao giê cũng vươn tới cỏi Chõn, cái Thiện,
cái Mỹ. Chính trong quá trình đó, văn hoá hướng tới nhân dân, hướng tới các
tư tưởng chính trị tiên tiến của thời đại.
Chính sự phát triển của một xã hội văn minh, trong đó trình độ văn hoá,
tư tưởng, chính trị, đạo đức của con người được nâng cao lại tác động trở lại
các hoạt động kinh tế, thúc đẩy xã hội phát triển cao hơn. Việc nâng cao văn
hoá, xây dựng một tầm vóc văn hoá tương xứng với một xã hội hiện đại là hết
sức quan trọng đối với mỗi quốc gia.
1.2.Văn hoá Doanh nghiệp
1.2.1.Sù cần thiết và tầm quan trọng phải xây dựng VHDN
Nhà khoa học Alvin Toffler đã nói: Bất kỳ DN nào mà thiếu VH, thiếu
ngôn ngữ, thiếu tư liệu và thông tin, nói chung là thiếu tri thức thì không sao
có thể đứng vững được trong thị trường hiện đại.
Còn theo thuyết hiện đại- Thuyết về nguồn lực - thì nguồn lực hay tài
động, lối sống của con người trong DN nhất định đã được nâng lên thành
phong cách chung của tất cả các thành viên. Ngoài bộ phận môi trường
VHDN, VHDN còn bao gồm sự thể hiện cái bản sắc của DN - các nhân tố văn
hoá của nã - ra bên ngoài DN, trong sản xuất, kinh doanh.
VHDN thực chất là văn hoá kinh doanh của Doanh nghiệp đó. Ở nước
ta, văn hoá kinh doanh (Business Culture) là một từ ghép mới xuất hiện trên
thương trường khoảng 10 năm nay. Văn hoá kinh doanh bao hàm ý nghĩa hoạt
động kinh tế có hiệu quả, đạt năng suất, sản lượng giá trị cao, giá thành hạ;
Doanh nghiệp có thái độ lịch sự, văn minh trong giao tiếp; sản phẩm được thị
trường trong nước, ngoài nước chấp nhận; Doanh nghiệp làm tròn nghĩa vụ
với Nhà nước. VHKD bao hàm những giá trị, những tinh hoa do con người
sáng tạo ra trong sản xuất kinh doanh và nó tác động mạnh mẽ trở lại đối với
sản xuất kinh doanh.
Kinh doanh phải có văn hoá, có đạo đức, tuân theo luật pháp; không
được vì mình mà không quan tâm đến lợi Ých của người khác, làm ảnh hưởng
xấu đến người khác, xâm hại đến các giá trị văn hoá truyền thống của dõn tộc.
1.2.3. Cấu trúc của VHDN
Ta có thể hiểu một cách tổng quát về cấu trúc của VHDN qua công
thức sau:
VHDN = MTVH của DN + hệ thống các giá trị của DN + các nhân tố VH
trong SX, KD của DN.
+ Môi trường văn hoá của DN do DN xác lập và tạo thành sắc thái
riêng của từng DN. Đó là bầu không khí, là tình cảm, sự giao lưu mối quan hệ
và ý thức trách nhiệm, tinh thần hợp tác phối hợp trong thực hiện công việc.
+ Các nhân tố văn hoá trong sản xuất, kinh doanh của DN là phần thể
hiện cỏi tõm và là bản chất văn hoá của người tham gia sản xuất, kinh doanh.
Nú chớnh là thước đo trình độ văn hoá, giáo dục, tình cảm và trách nhiệm của
người kinh doanh trước khách hàng.
Mặc dù chỉ là một “tiểu văn hoá” thuộc loại hình văn hoá tổ chức cộng
đồng, nhưng VHDN vẫn là một hệ thống bao gồm nhiều thành tố có quan hệ
trường, làm cho việc sản xuất kinh doanh được tốt hơn.
a) Vai trò của VHDN với bên ngoài.
- Tạo sự khác biệt với các DN khác.
- Tạo sự hấp dẫn nhân tài.
- Tạo sù tin tưởng của các đối tác.
- Tạo được hình ảnh, thương hiệu.
- Tạo được niềm tin của cộng đồng.
- Bảo vệ DN trước sự công phá từ bên ngoài.
b) Vai trò của VH với bên trong DN.
- VH mang lại một môi trường sống và làm việc vui vẻ, thoải mái không
mua được bằng tiền.
- VH làm cho mọi người gần gũi với nhau hơn.
- VH dạy người ta biết tôn trọng các giá trị. Qua đó, giúp con người có ý
thức trách nhiệm cao hơn trong công việc, trong quan hệ với mọi người.
- Các hoạt động văn hoá, văn nghệ giúp phát hiện những tài năng đa
dạng còn đang tiềm Èn.
- VHDN là niềm tự hào chung của mọi nhân viên.
1.2.5. Các thể hiện của VHDN
Trong từng DN, khía cạnh văn hoá thường rất đặc thù, đặc trưng cho
từng DN và thường được thể hiện ở các mặt sau:
- Biểu tượng của một tổ chức: Biểu tượng này thường được dùng để
phản ánh tính chất hay ý nghĩa về sự tồn tại của tổ chức đó trong xã hội hay
trên thương trường.
- Truyền thống: Truyền thống của một DN thể hiện qua các sự kiện, các
truyền thuyết về lịch sử với những ý nghĩa tốt đẹp, mang niềm tự hào, của
thành viên trong một tổ chức. Điều này có ý nghĩa nếu mọi thành viên tôn
trọng và phát huy các truyền thống tốt đẹp đó cú, nhất là đối với các thành
viên mới, tạo được sự hài hoà trong mối quan hệ giữa mọi người trong DN.
- Những giá trị VH được công nhận trong DN.
+ Các tín điều của DN.
cho dõn tộc Việt Nam tồn tại và tự khẳng định mình, vượt qua mọi thử thách
của thiên tai và giặc ngoại xâm không phải chỉ là sức mạnh vật chất, mà chủ
yếu còn là nhờ sức mạnh tinh thần- những giá trị VH. Việt Nam có một nền
VH thống nhất. Tính thống nhất của nền VH Việt Nam biểu hiện ở ý thức
cộng đồng, gắn bó giữa cỏc dõn tộc với nhau trong quá trình dựng nước và
giữ nước.
Nền VH Việt Nam là nền VH đa dõn tộc. Đó là một ưu thế của Việt
Nam khi hội nhập với cộng đồng thế giới. Cỏc dõn tộc khác nhau trên thế giới
nhìn thấy ở Việt Nam những sự đồng cảm VH gần gũi với họ.
Đất nước Việt Nam với 54 dõn tộc anh em, nằm ở khu vực tiếp xúc
giữa nhiều nền VH và có vị trí địa lý chiến lược cực kỳ quan trọng trong giao
thương buôn bán. Vị trí này giúp Việt Nam giao lưu, tiếp xúc được với nhiều
nền VH trong khu vực và thế giới, đồng thời cũng đặt trước những khó khăn,
thử thách lớn là luôn phải đối phó đương đầu với nhiều kẻ thù ngoại xâm lớn,