Website: Email : Tel : 0918.775.368
LỜI NÓI ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Ở nước ta tồn tại nhiều loại hình doanh nghiệp khác nhau, mỗi loại hình
doanh nghiệp đều có một loại văn bản pháp luật điều chỉnh, tạo nên môi trường
và địa vị pháp lí cho các doanh nghiệp khi tham gia vào nền kinh tế thị trường.
Công ty TNHH do một cá nhân là một loại hình doanh nghiệp mới được ghi
nhận trong Luật doanh nghiệp (2005) cần được quan tâm và khuyến khích phát
triển. Sự mới mẻ này cũng là lí do tác giả chọn đề tài: “Công ty trách nhiệm
hữu hạn do một cá nhân làm chủ theo luật doanh nghiệp (2005)” làm khoá
luận cho mình.
2. Phạm vi, mục đích nghiên cứu
Trong khuôn khổ khoá luận này tập trung nghiên cứu và làm rõ những
vấn đề sau:
+ Khoá luận nghiên cứu khái quát lý luận về công ty nói chung và công ty
TNHH nói riêng
+ Khoá luận nghiên cứu hệ thống pháp luật hiện hành về tổ chức và hoạt
động của công ty TNHH do một cá nhân làm chủ quy định trong luật doanh
nghiệp (2005)
+ Khoá luận tìm hiểu qua về thực tế của loại hình công ty TNHH do một
cá nhân làm chủ để đưa ra một số giải pháp thực thi luật doanh nghiệp (2005)
3. Phương pháp nghiên cứu khoá luận
Khoá luận được nghiên cứu trên nền tảng của phương pháp duy vật biện
chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mac - Lênin. Ngoài ra còn sử dụng
phương pháp nghiên cứu khoa học cụ thể như: phân tích, so sánh, tổng hợp… để
nhằm nêu rõ các quy định của pháp luật về công ty TNHH do một cá nhân làm
chủ ở Việt Nam.
4. Cấu trúc khoá luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo khoá luận
được kết cấu bởi 3 chương:
1
rơi vào vị trí bất lợi trong quá trình cạnh tranh. Để tránh sự bất lợi đó các nhà
kinh doanh cần liên kết nhau lại thông qua hình thức góp vốn để thành lập một
doanh nghiệp nhằm tạo thế đứng vững chắc trên thị trường.
Mặt khác, trong kinh doanh thường phát sinh rủi ro, trong trường hợp đó
đòi hỏi các nhà kinh doanh phải liên kết với nhau để có thể phân chia rủi ro cho
nhiều người.
Tóm lại, khi hai hay nhiều người cùng góp vốn thành lập một doanh
nghiệp để tiến hành hoạt động kinh doanh kiếm lời chia nhau đã hình thành một
3
loại hình doanh nghiệp gọi là công ty. Trong thực tế thì mô hình này tỏ ra phù
hợp với nền kinh tế thị trường và rất hấp dẫn với nhiều nhà kinh doanh. Sự ra
đời của công ty là sản phẩm tất yếu của việc thực hiện nguyên tắc tự do kinh
doanh, tự do khế ước và tự do lập hội. Tuy nhiên, công ty là gì lại được quan
niệm không hoàn toàn đồng nhất bởi các nhà luật học và luật thực định các
nước.
Nhà luật học Kubler người Đức quan niệm: “Khái niệm công ty được hiểu
là sự liên kết của hai hay nhiều cá nhân hoặc pháp nhân bằng một sự kiện pháp
lí nhằm tiến hành các hoạt động để đạt mục tiêu chung nào đó”
1
Bộ luật dân sự Pháp định nghĩa: “Công ty là một hợp đồng, thông qua đó
hai hay nhiều người thoả thuận với nhau sử dụng tài sản hay khả năng của mình
vào một hoạt động chung nhằm chia lợi nhuận qua hoạt động đó”
2
.
Bộ luật dân sự và thương mại Thái Lan quy định về công ty: “hợp đồng tổ
chức hội kinh doanh hoặc công ty là hợp đồng qua đó hai hay nhiều người thoả
thuận hợp nhau lại để tiến hành một công việc chung, nhằm chia lời có thể có
được qua công việc chung đó ” (điều 1012)
Ở Việt Nam luật công ty ra đời muộn và chậm phát triển, mãi đến năm
điều kiện quan trọng để thành lập công ty. Tuy nhiên, vai trò của vốn góp đối
với các loại công ty là khác nhau.
- Mục đích của việc thành lập công ty là để kinh doanh kiếm lời chia
nhau. Như vậy, về thực chất công ty kinh doanh là một lọai hình doanh nghiệp
có sự liên kết của ít nhất hai bên, các bên tham gia có thể là thể nhân, pháp nhân,
nó hoàn toàn khác với doanh nghiệp một chủ sở hữu. Tuy nhiên trên thực tế hệ
thống pháp luật của một số quốc gia trong đó có Việt Nam đã quy định công ty
TNHH một thành viên. Mặc dù vậy, dấu hiệu sự liên kết vẫn là đặc điểm phổ
biến, cơ bản của các loại hình công ty.
Ở Việt Nam, khi ban hành Luật doanh nghiệp (1999) đã không đưa ra một
định nghĩa chung về công ty mà đưa ra các khái niệm về từng loại hình công ty
dưới dạng liệt kê các đặc điểm. Công ty theo quy định tại Luật doanh nghiệp
(1999) đã được mở rộng, bao gồm: công ty cổ phần, công ty TNHH, công ty hợp
danh. Công ty TNHH lại bao gồm công ty TNHH một thành viên là tổ chức và
công ty TNHH hai thành viên trở lên. Như vậy, Luật doanh nghiệp (1999) đã bổ
sung thêm loại hình công ty TNHH một thành viên và công ty hợp danh.
Theo Luật doanh nghiệp (1999) thì khái niệm công ty đã được mở rộng,
không còn nguyên vẹn theo nghĩa truyền thống là sự liên kết của hai hay nhiều
3
Giáo trình Luật thương mại, trường Đại học Luật Hà Nội
5
cá nhân hoặc pháp nhân. Ngoài sự liên kết của hai hay nhiều cá nhân hoặc pháp
nhân, công ty có thể là doanh nghiệp do một tổ chức làm chủ sở hữu, tức là pháp
luật Việt Nam cũng đã thừa nhận sự tồn tại của công ty TNHH một thành viên
như pháp luật của nhiều nước trên thế giới. Tuy nhiên, do còn nhiều lực cản bởi
nhận thức và khả năng kiểm soát, thực thi pháp luật mà các nhà làm luật của
Việt Nam ở giai đoạn này mới chỉ ghi nhận và điều chỉnh tại Luật doanh nghiệp
(1999) đến loại hình công ty TNHH do một tổ chức làm chủ sở hữu mà chưa ghi
nhận, điều chỉnh đến loại hình công ty TNHH do một các nhân làm chủ.
Kế thừa và phát triển Luật doanh nghiệp (1999), Luật doanh nghiệp
Công ty cổ phần có các đặc điểm cơ bản sau đây:
-Về thành viên: Công ty cổ phần thường có số lượng cổ đông lớn. Pháp
luật chỉ hạn định mức tối thiểu mà không hạn định mức tối đa số cổ đông của
công ty cổ phần. Theo luật doanh nghiệp, cổ đông của công ty cổ phần có thể là
tổ chức hay cá nhân với số lưọng tối thiểu là 3 và không hạn chế số lượng tối đa.
Quy định về số lượng cổ đông tối thiểu của luật doanh nghiệp có sự khác biệt
với Luật công ty (1990). Luật công ty (1990) quy định số lượng cổ đông tối
thiểu của công ty cổ phần phải là
-Về vốn điều lệ: vốn điều lệ được chia làm nhiều phần bằng nhau gọi là cổ
phần, giá trị của mỗi cổ phần được gọi là mệnh giá cổ phần. Cổ đông của công
ty cổ phần có thể mua một hoặc nhiều cổ phần. Cổ phần được thể hiện dưới hình
thức chứng khoán đó là cổ phiếu.
Cổ phiếu là chứng chỉ do công ty cổ phần phát hành hoặc bút toán ghi sổ
xác
nhận quyền sở hữu một hoặc một số cổ phần. Cổ phần có thể ghi tên hoặc
không ghi tên (điều 85 Luật doanh nghiệp).
- Về chế độ chịu trách nhiệm: Cổ đông chỉ chịu trách nhiệm về các khoản
nợ và các nghĩa vụ tài sản khác của công ty trong phạm vi số vốn đã góp vào
công ty( trách nhiệm hữu hạn). Như vậy, công ty cổ phần cũng có sự tách bạch
rõ ràng về tài sản của công ty và tài sản của thành viên công ty. Công ty cổ phần
chịu trách nhiệm về các khoản nợ và các nghĩa vụ tài sản khác của công ty trong
phạm vi tài sản của mình ( giống như công ty TNHH).
7
- Về chuyển nhượng vốn: Các cổ đông của công ty cổ phần được tự do
chuyển nhượng cổ phần của mình cho người khác trừ cổ phần quy định tại
khoản 3 điều 81 và khoản 5 điều 84 luật doanh nghiệp (2005). Như vậy, cơ chế
chuyển nhượng vốn của cổ đông ở công ty cổ phần có sự thông thoáng và tự do
hơn nhiều so với cơ chế chuyển nhượng vốn của thành viên công ty TNHH. Đặc
điểm này của công ty cổ phần đã cho phép các nhà đầu tư có khả năng chuyển
đổi hình thức và mục tiêu đầu tư một cách nhanh nhậy và linh hoạt.
vào điều lệ công ty. Mỗi thành viên của công ty đóng góp một phần vốn và các
phần vốn đó có thể bằng nhau hoặc không bằng nhau. Tên, địa chỉ và phần vốn
góp của mỗi thành viên được ghi trong sổ đăng ký thành viên, không đuợc thể
hiện dưới hình thức cổ phiếu để ghi nhận phần vốn góp của các thành viên công
ty.
- Về chế độ chịu trách nhiệm: Các thành viên chịu trách nhiệm về các
khoản nợ và các nghĩa vụ tài sản khác của công ty trong phạm vi số vốn đã cam
kết góp vào công ty ( trách nhiệm hữu hạn). Công ty chỉ chịu trách nhiệm về các
khoản nợ của công ty trong phạm vi tài sản của mình.
- Về chuyển nhượng vốn: Thành viên công ty có quyền chuyển nhượng
một phần hoặc toàn bộ vốn góp của mình cho người khác. Tuy nhiên, thành viên
của công ty TNHH muốn chuyển nhượng một phần hoặc toàn bộ vốn góp của
mình phải chào bán phần vốn đó cho tất cả các thành viên còn lại theo tỷ lệ
tương ứng với phần vốn góp của họ trong công ty với cùng điều kiện.
Thành viên công ty chỉ được chuyển nhượng cho người khác không phải
là thành viên công ty nếu các thành viên còn lại không mua hoặc mua không hết
trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày chào bán. Quy định này cho thấy, trong chừng
mực nhất định các thành viên công ty vẫn quan tâm đến nhân thân, độ uy tín, độ
tin cậy của các thành viên. Nếu công ty không muốn có sự thâm nhập của người
lạ tham gia vào công ty thì các thành viên phải cùng nhau mau hết phần vốn của
thành viên muốn chuyển nhượng vốn. Khi các thành viên không mua hoặc
không mua hết thì thành viên chuyển nhượng có quyền chuyển nhượng vốn ra
ngoài công ty.
Thành có viên công ty cũng có quyền yêu cầu công ty mua lại phần vốn
góp theo quy định tại điều 43 Luật doanh nghiệp hoặc sử dụng phần vốn góp để
9
trả nợ và người nhận thanh toán có quyền sử dụng phần vốn góp theo một trong
hai cách: hoặc trở thành thành viên công ty nếu được Hội đồng thành viên chấp
nhận hoặc chào bán và chuyển nhượng theo Điều 44 Luật doanh nghiệp (2005)
- Về phát hành chứng khoán: Công ty TNHH hai thành viên trở lên không
Cụng ty hp danh cú nhng c im c bn sau:
- V thnh viờn: Cụng ty hp danh phi cú ớt nht hai thnh viờn hp danh
tr lờn. Thnh viờn hp danh phi l cỏ nhõn m khụng th l t chc.
Ngoi cỏc thnh viờn hp danh, cụng ty hp danh cú th cú thnh viờn
gúp vn. Thnh viờn gúp vn cú th l cỏ nhõn hoc t chc.
- V ch chu trỏch nhim: Cỏc thnh viờn hp danh cựng nhau liờn i
chu trỏch nhim bng ton b ti sn ca mỡnh v mi khon n ca cụng ty.
Trỏch nhim ca cỏc thnh viờn hp danh v cỏc khon n ca cụng ty l trỏch
nhim liờn i v vụ hn. Nu ti sn cũn li ca cụng ty khụng thanh toỏn
cỏc khon n n hn thỡ cỏc thnh viờn hp danh cũn phi em c ti sn riờng
ca mỡnh thanh toỏn.
Trng hp cụng ty cú thnh viờn gúp vn thỡ cỏc thnh viờn ny ch chu
trỏch nhim v cỏc khon n ca cụng ty trong phm vi phn vn ca mỡnh ó
cam kt gúp.
4
- V phỏt hnh chng khoỏn: Cụng ty hp danh khụng c phỏt hnh bt
k loi chng khoỏn no, nh c phiu, trỏi phiu c im ny cho thy, so
vi cụng ty TNHH v cụng ty c phn, kh nng huy ng vn ca cụng ty hp
danh l rt hn ch.
- V t cỏch phỏp lý: Cụng ty hp danh cú t cỏch phỏp nhõn.
Mc dự cỏc thnh viờn hp danh phi liờn i chu trỏch nhim vụ hn v
cỏc ngha v ti sn ca cụng ty, nhng cụng ty hp danh vn cú s tỏch bch rừ
rang gia ti sn ca cụng ty v ti sn cỏc thnh viờn cụng ty. Vỡ vy, khỏc vi
doanh nghip t nhõn (DNTN)- l mt phỏp nhõn. õy l quy nh mi ca lut
doanh nghip (2005) so vi lut doanh nghip (1999).
4
Luật doanh nghiệp có sự mâu thuẫn giữa điểm c khoản 1 Điều 130 với khoản 3 Điều 131
và điểm a khoản 2 Điều 140. Khoản 1 Điều 130 là quy phạm định nghĩa (quy định
chung), còn khoản 3 Điều 131 và khoản 2 Điều 140 là quy định riêng. Vì vậy, khi có sự
mâu thuẫn giữa các điều luật thì quy định riêng đợc u tiên áp dụng trớc quy quy định
Trong những trường hợp như vậy, pháp luật nhiều nước vẫn cho phép công ty
này tiếp tục hoạt động mà không phải chuyển hình thức hay giải thể công ty.
12
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Sau này, trong quá trình hoạt động thương mại, công ty TNHH một thành viên
đã được thừa nhận bằng con đường thành lập mới và không ngừng được khuyến
khích phát triển.
Ở Việt Nam, công ty TNHH một thành viên mới được thừa nhận tại Luật
doanh nghiệp (1999). Tuy nhiên, Luật doanh nghiệp (1999) cũng chỉ thừa nhận
công ty TNHH một thành viên do tổ chức làm chủ sở hữu, mặc dù mô hình công
ty TNHH do một cá nhân làm chủ đã được Ban soạn thảo đưa vào Luật doanh
nghiệp (dự thảo). Theo quan điểm của các nhà làm luật của Việt Nam ở giai
đoạn này (thực chất là quan điểm của đa số Đại biểu Quốc hội) thì những tổ
chức là chủ sở hữu của công ty TNHH một thành viên phải là pháp nhân. Sự
tách bạch giữa tài sản công ty và tài sản thành viên công ty là đặc điểm quan
trọng thể hiện chế độ trách nhiệm hữu hạn. Thành viên công ty chỉ chịu trách
nhiệm tương ứng với phần vốn họ góp vào công ty. Trong khi đó nếu thành viên
công ty là một cá nhân thì rất khó để phân tách đâu là tài sản công ty, đâu là tài
sản cá nhân và chủ doanh nghiệp góp bao nhiêu vốn vào công ty. Mặt khác,
trong suốt quá trình hoạt động của công ty sẽ dễ có sự chuyển dịch tài sản cá
nhân chủ sở hữu công ty và tài sản công ty. Vì vậy, nguyên tắc trách nhiệm hữu
hạn trong công ty TNHH một thành viên dễ bị lạm dụng.
Ngoài ra, đa số các Đại biểu Quốc hội cũng cho rằng không cần thiết phải
thừa nhận loại hình công ty TNHH do một cá nhân làm chủ, vì trên thực tế khi
một cá nhân muốn tham gia vào thị trường thì đã có loại hình doanh nghiệp tư
nhân. Việc thừa nhận công ty TNHH một thành viên do một cá nhân làm chủ dễ
làm vô hiệu hoá các quy định về doanh nghiệp tư nhân do chủ doanh nghiệp
phải chịu trách nhiệm vô hạn về mọi khoản nợ của của doanh nghiệp, trong khi
đó cá nhân chủ sở hữu công ty TNHH một thành viên chỉ chịu trách nhiệm hữu
hạn trong kinh doanh. Bởi vậy, Quốc hội đã không thông qua mô hình công ty
Vì vậy, khi ban hành Luật doanh nghiệp (2005) đã không có bất cứ trở
ngại nào trong việc thừa nhận công ty TNHH do một cá nhân làm chủ sở hữu.
Điều 63.1 Luật doanh nghiệp (2005) quy định: “Công ty TNHH một thành viên
là doanh nghiệp do một tổ chức hoặc một cá nhân làm chủ sở hữu (sau đây gọi
14
Website: Email : Tel : 0918.775.368
là chủ sở hữu công ty); chủ sở hữu công ty chịu trách nhiệm về các khoản nợ và
nghĩa vụ tài sản khác của công ty trong phạm vi số vốn điều lệ của công ty”.
Việc thừa nhận công ty TNHH do một cá nhân làm chủ có ý nghĩa quan
trọng đối với sự phát triển kinh tế - xã hội ở nước ta hiện nay. Cá nhân có quyền
lựa chọn hình thức, lĩnh vực, ngành nghề kinh doanh, lập doanh nghiệp, tự do
giao kết hợp đồng, thuê lao động, và các quyền khác phù hợp với quy định của
pháp luật. Việc thành lập công ty nói chung và công ty TNHH do một cá nhân
làm chủ nói riêng đều nhằm mục tiêu lợi nhuận, thông qua đó, nhu cầu xã hội
cũng được đáp ứng ngày một tốt hơn.
Do vậy, các nhà làm luật Việt Nam thấy cần thiết phải ghi nhận và bảo vệ
loại hình doanh nghiệp này bên cạnh các loại hình doanh nghiệp khác đang tồn
tại ở Việt Nam, đáp ứng yêu cầu đòi hỏi của thực tiễn và hoà nhập với xu hướng
chung của pháp luật về công ty trên thế giới.
Công ty TNHH do một cá nhân làm chủ ra đời góp phần khẳng định
nguyên tắc cơ bản của công ty đó là sự tự do ý chí và tự do kinh doanh. Nguyên
tắc tự do ý chí và tự do kinh doanh được xem là nền tảng cơ bản thể hiện bản
chất pháp lí của công ty. Học thuyết tự do ý chí, tự do kinh doanh dựa trên nền
tảng của tự do cá nhân, có nghĩa là không ai có thể ép buộc làm hay không làm
một việc gì đó ngoài ý muốn của họ, không ai có thể bị ép buộc làm hay không
làm một việc gì đó mà không xuất phát từ lợi ích bản thân họ. Lợi ích cá nhân là
động lực thúc đẩy các hoạt động kinh tế. Tự do ý chí được đề cao, con người vì
lợi ích của mình trong xã hội tự do cạnh tranh, mang lại những lợi ích chung.
Tuy nhiên, tự do cá nhân sẽ bị hạn chế trong lợi ích chung của cả cộng đồng. Vì
thế, pháp luật đưa ra những quy định có tính bắt buộc để điều tiết các quan hệ cá
hình công ty khác. Bên cạnh việc thừa nhận công ty TNHH một thành viên do
một tổ chức làm chủ, Luật doanh nghiệp (2005) đã thừa nhận chủ sở hữu công
ty TNHH là một cá nhân nhằm góp phần tạo môi trường pháp lí đa dạng và
thuận tiện để các cá nhân có khả năng thành lập công ty theo ý chí riêng của
mình. Với tư cách chủ sở hữu duy nhất và thống nhất, cá nhân chủ sở hữu công
ty TNHH một thành viên có toàn quyền quyết định về mọi hoạt động kinh doanh
của công ty mà không bị phân chia quyền lực bởi bất kỳ ai. Đặc điểm này lại rất
16
Website: Email : Tel : 0918.775.368
phù hợp với tâm lý chung của các nhà kinh doanh Việt Nam ưa sự mạo hiểm
theo phương châm: “được ăn cả, ngã về không”
Thứ hai, cá nhân chủ sở hữu công ty TNHH chịu trách nhiệm hữu hạn về
các khoản nợ và các nghĩa vụ tài sản khác của công ty trong phạm vi số vốn điều
lệ của công ty.
Vốn điều lệ được hiểu là số do cá nhân chủ sở hữu cam kết góp và ghi vào
Điều lệ công ty.
Chủ sở hữu công ty phải góp đầy đủ và đúng hạn như đã cam kết, trường
hợp không góp đủ và đúng hạn số vốn đã cam kết góp thì phải chịu trách nhiệm
về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của công ty.
Vốn điều lệ của công ty có thể là tiền Việt Nam, ngoại tệ, vàng, giá trị
quyền sử dụng đất, giá trị quyền sở hữu trí tuệ, công nghệ, bí quyết kĩ thuật, các
tài sản khác ghi trong Điều lệ công ty do thành viên góp để tạo thành vốn của
công ty.
Trong quá trình hoạt động kinh doanh, nếu phát sinh các khoản nợ và
nghĩa vụ tài sản khác của công ty thì chủ sở hữu phải chịu trách nhiệm trong
phạm vi số vốn điều lệ của công ty (thực chất cũng là số vốn chủ sở hữu cam kết
góp vào công ty). Trong trường hợp công ty phá sản, tài sản còn lại của công ty
không đủ thanh toán các khoản nợ thì chủ sở hữu công ty cũng không phải đưa
tài sản riêng của mình để thanh toán các khoản nợ đó.
Vì thế mà chủ sở hữu đăng kí thành lập công ty phải đăng kí số vốn điều
chủ sở hữu phải liên đới chịu trách nhiệm đối với công ty. Đây cũng chính là
đặc điểm xuất phát từ chế độ chịu trách nhiệm hữu hạn của công ty TNHH một
thành viên.
Thời điểm ghi nhận tư cách pháp nhân của công ty TNHH do một cá nhân
làm chủ cũng được nhìn nhận là một vấn đề quan trọng. Theo quan điểm chung
của các luật gia nhiều nước thì công ty được coi là có tư cách pháp nhân ngay
sau khi hoàn tất thủ tục thành lập mà không phụ thuộc vào công việc công ty đó
đã được công bố hay chưa. Việc đăng bố cáo thành lập chỉ đơn thuần là việc
doanh nghiệp thông báo cho công chúng biết mà thôi.
18
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Luật doanh nghiệp (2005) quy định cụ thể thời điểm phát sinh tư cách
pháp nhân của công ty nói chung và của công ty TNHH một thành viên nói riêng
là thời điểm được cấp giấy chứng nhận đăng kí kinh doanh.
Thứ tư, Công ty TNHH do một cá nhân làm chủ không được quyền phát
hành cổ phiếu để công khai huy động vốn. Điều 63.3 Luật doanh nghiệp (2005)
quy định, công ty TNHH một thành viên không được quyền phát hành cổ phần.
Cũng như loại hình công ty TNHH hai thành viên trở lên, Luật doanh nghiệp
(2005) chỉ cấm công ty TNHH một thành viên pháp hành cổ phần. Do vây, theo
nguyên tắc “công dân, tổ chức được làm những gì pháp luật không cấm”, khi
điều kiện cho phép công ty vẫn có thể phát hành trái phiếu để huy động vốn.
19
CHƯƠNG II
QUY ĐỊNH CỦA LUẬT DOANH NGHIỆP (2005) VỀ CÔNG TY
TRÁCH NHIỆM HỮU HẠN DO MỘT CÁ NHÂN LÀM CHỦ
1. Quy chế thành lập và đăng kí kinh doanh, tổ chức lại, giải thể công ty
TNHH do một cá nhân làm chủ
1.1. Thành lập công ty
Công ty TNHH do một cá nhân làm chủ được thành lập theo 2 con đường:
thành lập mới và chuyển đổi loại hình công ty.
- Cán bộ, công chức theo quy định của pháp lệnh về cán bộ, công chức;
- Sĩ quan, hạ sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng
trong các cơ quan, đơn vị thuộc công an nhân dân Việt Nam;
- Cán bộ lãnh đạo, quản lí nghiệp vụ trong các doanh nghiệp 100% vốn sở
hữu nhà nước, trừ những người được cử làm đại diện theo uỷ quyền để quản lí
phần vốn góp của nhà nước tại doanh nghiệp khác;
- Người chưa thành niên, người thành niên bị hạn chế hoặc bị mất năng
lực hành vi dân sự;
- Người đang chấp hành hình phạt tù hoặc đang bị toà án cấm hành nghề
kinh doanh;
- Các trường hợp khác theo quy định của pháp luật về phá sản doanh
nghiệp.
Bên cạnh con đường thành lập mới, công ty TNHH do một cá nhân làm
chủ còn được thành lập thông qua con đường chuyển đổi doanh nghiệp.Vấn đề
chuyển đổi công ty TNHH do một cá nhân làm chủ được quy định tại Điều 155
Luật doanh nghiệp (2005).
Cá nhân muốn thành lập công ty TNHH một thành viên phải làm thủ tục
đăng ký kinh doanh tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo quy định của pháp
luật
Đăng kí kinh doanh là thủ tục luật định nhằm khai sinh tư cách pháp lí
cho công ty, đồng thời xác lập thẩm quyền hoạt động thương mại cho công ty kể
từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng kí kinh doanh, trừ trường hợp ngành
nghề kinh doanh là ngành nghề có điều kiện.
21
Theo pháp luật Việt Nam, việc đăng kí kinh doanh cho công ty TNHH do
một cá nhân làm chủ được thực hiện tại phòng đăng kí kinh doanh thuộc sở kế
hoạch đầu tư nơi dự định đặt trụ sở chính của công ty (gọi là phòng đăng kí kinh
doanh cấp tỉnh)
Người thành lập công ty phải lập và nộp đủ hồ sơ đăng kí kinh doanh hợp
lệ tại phòng đăng kí kinh doanh cấp tỉnh và phải chịu trách nhiệm về tính chính
Website: Email : Tel : 0918.775.368
- Chứng chỉ hành nghề của giám đốc hoặc tổng giám đốc và cá nhân khác
nếu công ty kinh doanh ngành, nghề theo quy định của pháp luật phải có vốn
pháp định;
Khi tiếp nhận hồ sơ, phòng đăng kí kinh doanh cấp tỉnh phải trao giấy
biên nhận về việc nhận hồ sơ cho người nộp hồ sơ. Trong thời hạn 10 ngày, kể
từ ngày nhận hồ sơ, phòng đăng kí kinh doanh cấp tỉnh cấp giấy chứng nhận
đăng kí kinh doanh cho công ty nếu xét thấy công ty có đủ các điều kiện theo
quy định về đăng kí kinh doanh tại điều 24 Luật doanh nghiệp (2005).
Theo Điều 24 Luật doanh nghiệp (2005), điều kiện để công ty được cấp
giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, bao gồm:
- Ngành nghề đăng ký kinh doanh không thuộc lĩnh vực cấm kinh doanh;
- Có hồ sơ đăng kí kinh doanh hợp lệ;
- Tên công ty được đặt đúng theo quy định của Luật doanh nghiệp;
- Có trụ sở chính theo quy định tại khoản 1 Điều 35 Luật doanh nghiệp;
- Nộp đủ số lệ phí đăng kí kinh doanh theo quy dịnh của pháp luật
6
.
Trường hợp hồ sơ không hợp lệ hoặc tên doanh nghiệp được đặt không
đúng theo quy định, Phòng Đăng ký kinh doanh phải thông báo rõ nội dung cần
sửa đổi, bổ sung bằng văn bản cho người thành lập doanh nghiệp trong thời hạn
10 (mười) ngày làm việc, kể từ ngày nhận hồ sơ.
Luật doanh nghiệp (2005) rút ngắn thời hạn xem xét, cấp hoặc từ chối cấp
Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh đối với doanh nghiệp. Theo Điều 15 Luật
doanh nghiệp (2005) trong thời hạn 10 (mười) ngày làm việc, kể từ ngày nhận
được hồ sơ hợp lệ, Phòng Đăng ký kinh doanh cấp tỉnh cấp Giấy chứng nhận
đăng ký kinh doanh cho doanh nghiệp. Nếu sau 10 (mười) ngày làm việc mà
không được cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh hoặc không nhận được
6
Lệ phí đăng kí kinh doanh được xác định căn cứ vào số lượng nghành, nghề đăng kí kinh
đổi hình thức kinh doanh phù hợp với xu thế phát triển kinh tế, tránh tình trạng
giải thể hay phá sản một cách không cần thiết. Hơn nữa, việc đưa ra một khung
pháp lí để tổ chức lại doanh nghiệp hoạt động có hiệu quả, bảo vệ lợi ích của các
bên liên quan như chủ nợ, người lao động, lợi ích nhà nước... là vấn đề hết sức
24
Website: Email : Tel : 0918.775.368
quan trọng và có ý nghĩa thiết thực trong việc tạo lập và ổn định môi trường
kinh doanh. Các biện pháp tổ chức lại doanh nghiệp cũng phong phú và đa dạng,
gồm: sáp nhập, hợp nhất, chia, tách, và chuyển đổi hình thức pháp lí của doanh
nghiệp.
1.2.1. Chia công ty
Pháp luật hiện hành cho phép công ty TNHH một thành viên có thể được
chia thành một số công ty cùng loại. Quy định này hợp nguyên lý, song không
có nhiều ý nghĩa thực tiễn, bởi công ty này chỉ có một cá nhân duy nhất làm chủ
sở hữu. Sau khi chia công ty TNHH một thành viên do cá nhân làm chủ thì chủ
sở hữu công ty TNHH một thành viên bị chia vẫn là chủ sở hữu của các công ty
TNHH một thành viên mới được hình thành.
Việc chia công ty được thông qua quyết định của chủ sở hữu công ty theo
quy định của Luật doanh nghiệp (2005) và điều lệ công ty. Quyết định chia công
ty phải có các nội dung chủ yếu sau: tên, trụ sở công ty bị chia, tên các công ty
sẽ thành lập, nguyên tắc và thủ tục chia tài sản của công ty, phương án sử dụng
lao động, thời hạn và thủ tục chuyển đổi phần vốn góp, nguyên tắc giải quyết
các nghiã vụ của công ty bị chia, thời hạn thực hiện chia công ty. Quyết định
chia công ty được gửi đến tất cả các chủ nợ và thông báo cho người lao động
biết trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày thông qua quyết định.
Chủ sở hữu công ty mới được thành lập có thể đảm nhận hoặc thuê Giám
đốc hoặc Tổng giám đốc và tiến hành đăng kí kinh doanh theo quy định của
Luật doanh nghiệp (2005). Hồ sơ đăng kí kinh doanh phải kèm theo quyết định
chia công ty. Sau khi đăng kí kinh doanh các công ty mới, công ty bị chia chấm
dứt tồn tại. Các công ty mới được thành lập từ công ty bị chia đều phải liên đới