Báo cáo khảo sát tuyến, điểm du lịch Hà Nội – Hạ Long – Móng Cái – Đông Hưng (Trung Quốc) - Pdf 26

Báo cáo khảo sát tuyến, điểm du lịch
Hà Nội – Hạ Long – Móng Cái – Đông Hưng (Trung Quốc)
LỜI NÓI ĐẦU
Du lịch với đặc điểm là “ngành không khói” ngành du lịch đã và đang tích
cực nâng cao vai tròn trách nhiệm của mình. Phát triển du lịch là một hướng đi
quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội của đất nước bởi vì ngành
du lịch là một nganh “kinh tế mũi nhọn” mang tính đa ngành, đa mục tiêu, đa
thành phần có tính mùa vụ, liên vùng và tính chi phí.
Khi nền kinh tế ngày một đi lên thì nhu cầu đời sống vật chất và tinh thần
của con người đòi hỏi ngày càng cao và ngành du lịch ra đời đã đáp ứng một
phần tất yếu đó. Cuộc sống hiện nay đang trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện
đại hóa khiến con người dễ bị căng thẳng, mệt mỏi… lúc này du lịch giúp họ thư
giãn hơn, làm việc hiệu quả hơn. Và thực tế đã cho thấy số lượng khách du lịch
trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng ngày càng tăng. Sự hoạt động
mạnh mẽ của ngành du lịch đã có tác động không nhỏ tới nền kinh tế văn hóa xã
hội của vùng, của địa phương nới đó. Hạ Long – Quảng Ninh là một trong ba
vùng kinh tế trọng điểm Hà Nội - Hải Phòng – Quảng Ninh có nền kinh tế phát
triển mạnh, đặc biệt là ngành du lịch .
Vịnh Hạ Long – di sản thiên nhiên thế giới với hàng ngàn đảo lớn nhỏ kỳ
vĩ nên thơ, đã thu hút được số lượng khách lớn hoạt động thăm quan nơi này làm
cho Hạ Long ngày thêm sôi động và đem lại nguồn thu lơn về kinh tế. Ngoài ra
nó còn ảnh hưởng tới môi trường văn hóa xã hội của vùng tạo cho xã hội một sự
chuyển dịch lớn.
Ngày 17/12/1994 trong phiên bản họp lần thứ 18 của Hội đồng Di sản thế
giới thuộc UNESSCO tổ chức tại Thái Lan, Vịnh Hạ Long đã chính thức được
công nhận là di sản thiên nhiên thế giới, khẳng định giá trị mang tính toàn cầu
của Vịnh Hạ Long. Và tháng 11/2000 một lần nữa Vịnh Hạ Long lại vinh dự
được UNESSCO công nhận là di sản thiên nhiên thế giới về những giá trị địa
chất địa mạo.
Nguyễn Ngọc Huyền VH1-K14.
1

Chuyến đi còn giúp cho sinh viên có điều kiện chứng minh kiểm tra, so
sánh lý thuyết trên lớp với hoạt động thực tiễn. Đồng thời bổ sung những kiển
thức đã học trên lớp.
Mặt khác chuyến đi này còn giúp cho sinh viên nhìn nhận đưng hơn về
nghê nghiệp trong tương lai của mình, ý thức nghề nghiệp và đánh giá năng lực
của mỗi sinh viên từ đó giúp sinh viên tự điều chỉnh đúng hướng cho tương lai
sau này của mình.
1.2 Ý nghĩa của đề tài.
Nguyễn Ngọc Huyền VH1-K14.
2
Báo cáo khảo sát tuyến, điểm du lịch
Hà Nội – Hạ Long – Móng Cái – Đông Hưng (Trung Quốc)
Qua chuyến đi thực tế này đã giúp sinh viên tiếp cận với các hoạt động
trong ngành du lịch: thăm quan các di tích lịch sử văn hóa, thăm quan được
nhiều địa danh, phong cảnh đẹp của từng dịa phương nơi mà mình đã đi qua.
Làm quen với các loại phương tiện vận chuyển như: oto, tàu thủy, các thủ tục
xuất nhập cảnh và rèn luyện được sức bền trong những chuyến đi dài ngày.
Bên cạnh đó chuyến đi còn có sự tham gia, giúp đỡ của các thầy cô trong
khoa đã giúp chúng em học hỏi được rất nhiều điều vầ kiến thức cũng như
những kinh nghiệm của bản thân:kỹ năng hướng dẫn thu hút khách ở trên xe,
hướng dẫn tại điểm.
Trong suốt chuyến đi đã giúp chúng em tận mắt chứng kiến các di tích, các
danh lam thăng cảnh, và được hiểu rõ hơn về nó. Giúp cho mỗi người, có ý thức
gìn giữ và bảo vệ nó hơn. “ Việt Nam – một vẻ đẹp tiềm ẩn”.
III. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU.
Trên cơ sở những môn học cơ bản cà chuyên ngành du lịch, sinh viên
chúng em có điều kiện đi thâm nhập vào thực tế để củng cố,hệ thống kiến thức
và kiểm nghiệm giữa lí luận và thực tiễn.
1.Đối tượng nghiên cứu:
- Nghiên cứu về các giá trị tiềm năng, tài nguyên của các tuyến điểm đã đi

HÀ NỘI
Thời gian : 04 ngày 03 đêm
Phương tiện : Ô tô, Tàu thuyền
Khởi hành : Từ 29/11 ®Õn 2/12/2010.
GIỜ NGÀY ĐIỂM ĐI – ĐIỂM ĐẾN – CÔNG VIỆC
Ngày 01
06h45’ 29/ 11/ 2010 - Xe và HDV đón khách tại điểm quy định
08h40’ - Dừng nghỉ ngơi và ăn sáng tại Hải Dương
10h30’ - Tới Hạ Long , nhận phòng khách sạn
11h00’ - Ăn trưa tại nhà hàng Kim Hằng – TP Hạ Long
12h00’ - Trở về khách sạn nghỉ ngơi
14h35’ - Đi thăm Chùa Long Tiên,Cầu Bãi Cháy.
Chiều - Tự do dạo chơi và mua sắm.
18h00’ - Ăn tối tại nhà hàng Kim Hằng.
19h00’ - Đi thăm Khu du lịch Đảo Quốc tế Tuần Châu
21h00’ - Dời Tuần Châu về Bãi Cháy.
22h00’ - Có mặt tại khách sạn để nghỉ ngơi.
Ngày 2
06h45’ 30/ 11/ 2010 - Trả phòng khách sạn và ăn sáng.Sau đó đi Móng Cái.
07h55’ - Đến Đền Cửa Ông ,thăm tượng Hưng Nhượng
Vương Trần Quốc Tảng.
08h50’ - Dời Đền Cửa Ông .
12h25’ - Đến Móng Cái , ăn trưa tại khách sạn.Sau đó
nhận phòng.
15h00’ - Đi tới Biển Trà Cổ.
16h15’ - Thăm đình Trà Cổ.
16h30’ - Trở về Móng Cái.
18h30’ - Ăn tối tại khách sạn.
Tối - Dạo chơi và tự do mua sắm.
Nguyễn Ngọc Huyền VH1-K14.

14h40’ -Lên bờ và dời Hạ Long
17h45’ - Về Hà Nội
1.2 Cấu tạo giá.
1.2.1 Giá tuor.
- Giá trọn gói 1.280.000 đồng/01 sinh viên
Nguyễn Ngọc Huyền VH1-K14.
6
Báo cáo khảo sát tuyến, điểm du lịch
Hà Nội – Hạ Long – Móng Cái – Đông Hưng (Trung Quốc)
( Một triệu hai trăm tám mươi ngàn đồng )
- Công ty đảm bảo việc ăn nghỉ cho 03 thầy cô quản lý trong toàn tour.
- Tổng khách là 133 người.
Giá tuor bao gồm:
STT
KHOẢN MỤC- CHI PHÍ
CHI PHÍ
TỪNG NGƯỜI
( VND)
CHI PHÍ TỔNG
CẢ ĐOÀN
(133 KHÁCH)
( VND)
1
Dịch vụ vận chuyển
Trong đó :
+ Xe
+ Tàu gỗ Vịnh Hạ Long
290.000
260.000
30.000

6 Hướng dẫn viên. 30.000 3.990.000
7 Bảo hiểm du lịch 5.000 798.000
8 Nước uống khăn lạnh 10.000 1.330.000
9 Phí quản lí và dịch vụ phát sinh 50.000 6.650.000
TỔNG CHI PHÍ 1.280.000 170.240.000
- Xe ô tô HUYNDAI – Euro Express High Class đại.
- Khách sạn 2* ở trung tâm khu du lịch.
- 07 bữa ăn chính tại nhà hàng, trong đó có 01 bữa ăn tại Trung Quốc.
- Vé thắng cảnh
- 03 hướng dẫn viên suốt tuyến,các phụ tour và các hướng dẫn viên tại điểm.
- Bảo hiểm.
Nguyễn Ngọc Huyền VH1-K14.
7
Báo cáo khảo sát tuyến, điểm du lịch
Hà Nội – Hạ Long – Móng Cái – Đông Hưng (Trung Quốc)
- Nước uống, khăn lạnh, thuốc y tế.
Nguyễn Ngọc Huyền VH1-K14.
8
Báo cáo khảo sát tuyến, điểm du lịch
Hà Nội – Hạ Long – Móng Cái – Đông Hưng (Trung Quốc)
CHƯƠNG II
KHẢO SÁT TUOR TUYẾN
Trong suốt chuyến đi thực tế vừa qua đoàn đã đi và dừng lại ở nhiều địa
danh nổi tiếng với bề dày lịch sử, những danh lam thắng cảnh đẹp của đất nước,
những nơi đã từng được UNESCO công nhận là di sản thiên nhiên, văn hóa của
thế giới. Sau đây em xin được phép trình bày về một số tuyến điểm mà em đã
được dừng chân và thăm qua
I. TỈNH BẮC NINH.
Hình 01 : Bản đồ hành chính tỉnh Bắc Ninh – NXB Thống kê 2003
- Bắc Ninh là một tỉnh thuộc miền Bắc nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa

tây sang đông, nhưng độ dốc không lớn. Vùng đồng bằng chiếm gần hết diện
tích tự nhiên tòan tinh, có độ cao phổ biến 3 - 7m so với mặt biển. Do được bồi
đắp bởi các sông lớn như sông Đuống, sông Cầu, sông Thái Bình nên vùng đồng
bằng chủ yếu là đất phù sa màu mỡ. Vùng gò đồi trung du chỉ chiếm 0,5% diện
tích tự nhiên và phần lớn là đồi núi thấp, cao nhất là núi Hàm Long 171m.
Bắc Ninh có diện tích tự nhiên chỉ chiếm 0,2% diện tích tự nhiên cả nước
và là điạ phương có diện tích tự nhiên nhỏ nhất trong 61 tỉnh, thành phố. Theo
kết quả tổng điều tra đất trong tổng diện tích đất tự nhiện của Bắc Ninh, đất
nông nghiệp chiếm 64,4%; đất lâm nghiệ p có rừng chiếm 0,8%; đất chuyên
Nguyễn Ngọc Huyền VH1-K14.
10
Báo cáo khảo sát tuyến, điểm du lịch
Hà Nội – Hạ Long – Móng Cái – Đông Hưng (Trung Quốc)
dùng chiếm 17,4%; đất ở chiếm 6,5%; còn lại 10,9% là đất có mặt nước, sông
suối, đồi núi chưa sử dụng.
Theo sự sắp đặt hành chính hiện nay, Bắc Ninh có 8 đơn vị hành chính cấp
huyện, bao gồm thị xã Bắc Ninh và 7 huyện là: Yên Phong, Quế Võ, Tiên Du,
Từ Sơn, Thuận Thành, Lương Tài và Gia Bình. Tại thời điểm 15/4/2002, Bắc
Ninh có 125 đơn vị hành chính cấp xã, bao gồm 112 xã, 6 phường và 7 thị trấn.
* Một vài chỉ số đáng quan tâm
• Dân số: 956.000 người (tính đến hết tháng 6/2001). Trong đó: 620.944
người có độ tuổi từ 15 tuổi trở lên.
+ Nội thị: 76.660 người
+ Ngoại thị: 884.259 người
• Khí hậu: Thuộc vùng khí hậu nhiệt đới ẩm, có mùa đông lạnh.
- Nhiệt độ trung bình năm: 24,3oC.
• Nhiệt độ tháng cao nhất trong năm: 30,1oC.
• Nhiệt độ tháng thấp nhất trong năm: 16,3oC.
• Số giờ nắng cả năm: 1429 giờ.
• Lượng mưa cả năm: 1558 mm.

vật thể thu hút được nhiều khách thập phương đến thăm quan.
Bắc Ninh là vùng đất hội tụ nhiều di tích văn hóa và tôn giáo lớn, vùng
đất đã hình thành nhiều huyền thoại đi vào tâm linh của cư dân người Việt.
Vùng đất đã sản sinh ra Vương triều Lý - một triều đại đã khai mở ra nên văn
minh Đại Việt và phát triển rực rỡ hơn 200 năm. Bắc Ninh là nơi sinh ra nhiều
nhân tài lịch sử trong đất nước. Bắc Ninh còn là vùng đất cổ của những làn điệu
dân ca quan họ đặc sắc, tiêu biểu cho loại hình dân ca trữ tình Bắc bộ, mang
đậm bản sắc vùng miền. Ngày nay quan họ Bắc Ninh đã trở thành di sản quý giá
của dân tộc Việt Nam. Bắc Ninh còn là quê hương của các chùa tháp, lễ hội và
các văn hóa cổ truyền.
Nguyễn Ngọc Huyền VH1-K14.
12
Báo cáo khảo sát tuyến, điểm du lịch
Hà Nội – Hạ Long – Móng Cái – Đông Hưng (Trung Quốc)
Bắc Ninh là nơi có nhiều ngành nghề thủ công nổi tiếng: gỗ Đông kỵ,
tranh Đông Hồ,….Trên vùng đất cổ thấm đẫm bề dày văn hóa, cứ mỗi độ xuân
về Bắc Ninh lại vui chảy hội.
II. TỈNH HẢI DƯƠNG.
Hình 03: Bản đồ hành chính tỉnh Hải Dương – NXB Thống kê 2005
Hải Dương là một tỉnh nằm ở trung tâm châu thổ sông Hồng, là một
trong những cái nôi của nền văn hoá lâu đời của dân tộc Việt Nam. Lịch sử hàng
ngàn năm của dân tộc đã để lại cho vùng đất này một tài sản vô giá với hàng
trăm di tích lịch sử văn hoá. Vùng đất này gắn bó với tên tuổi và sự nghiệp của
nhiều danh nhân như Trần Nguyên Đán, Nguyễn Trãi, Mạc Đĩnh Chi, Phạm Sư
Mạnh, nơi sinh ra và lớn lên của đại danh y Tuệ Tĩnh.
- Diện tích: 1662 Km
2

- Vị trí địa lý:
Hải Dương là một trong 7 tỉnh, thành thuộc vùng kinh tế trọng điểm phía

+ Dân số thành thị: 324.930 người+ Dân số nông thôn: 1.378.562 người
+ Nam: 833.459 người
+ Nữ: 870.033 người
* Giao thông & cơ sở hạ tầng:
Tỉnh Hải Dương có hệ thống cơ sở hạ tầng khá hoàn chỉnh, tạo điều kiện
thuận lợi cho kinh tế - xã hội của tỉnh phát triển.
+ Hệ thống giao thông: gồm đường bộ, đường thuỷ, đường sắt; Phân bố
hợp lý, giao lưu rất thuận lợi tới các tỉnh.
- Đường bộ: có 4 tuyến đường quốc lộ qua tỉnh dài 99 km, đều là đường
cấp I, cho 4 làn xe đi lại thuận tiện:
- Đường sắt: Tuyến Hà Nội - Hải Phòng chạy song song với quốc lộ 5, đáp
ứng vận chuyển hàng hoá, hành khách qua 7 ga trong tỉnh.
Tuyến Kép - Bãi Cháy chạy qua huyện Chí Linh, là tuyến đường vận
chuyển hàng lâm nông thổ sản ở các tỉnh miền núi phía Bắc ra nước ngoài qua
cảng Cái Lân, cũng như hàng nhập khẩu và than cho các tỉnh
Nguyễn Ngọc Huyền VH1-K14.
14
Báo cáo khảo sát tuyến, điểm du lịch
Hà Nội – Hạ Long – Móng Cái – Đông Hưng (Trung Quốc)
- Đường thuỷ: với 400 km đường sông cho tầu, thuyền 500 tấn qua lại dễ
dàng. Cảng Cống Câu công suất 300.000 tấn /năm và hệ thống bến bãi đáp ứng
về vận tải hàng hoá bằng đường thuỷ một cách thuận lợi.
Hệ thống giao thông trên bảo đảm cho việc giao lưu kinh tế từ Hải Dương
đi cả nước và nước ngoài rất thuận lợi.
* Kinh tế:
Năm 2008, Tổng sản phẩm trong tỉnh (GDP) tăng 10,5%; Giá trị sản xuất
nông, lâm nghiệp và thuỷ sản tăng 3,9%; Giá trị sản xuất công nghiệp, xây dựng
tăng 13 %. Giá trị sản xuất các ngành dịch vụ tăng 13,5%.
* Du lịch :
Hình 04 : Lễ hội Côn Sơn – Kiếp Bạc tại Chí Linh – Hải Dương

Hải Dương là một trong những cái nôi văn hó lâu đời của dân tộc Việt Nam.
Lịch sử hàng ngàn năm của dân tộc đã để lại cho vùng đất nayfmootj tài sản vô giá
với hàng trăm di tích lịch sử. Vùng đất này gắn bó và tên tuổi của nhiều danh nhân
như: Trần Nguyên Đán, Nguyễn Trãi, Mạc Đĩnh Chi Phạm Sư Mạnh, nơi sinh ra
và lớn lên của danh y Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác.
Nơi đây có nhiều lang nghề truyền thống với những sản phẩm tinh xảo đã
từng nổi tiếng ở nhiều thế kỷ Hải Dương cũng là nơi có nền văn hóa dân gian đặc
sắc của vùng Đồng Bằng Sông Hồng với lại hình nghệ thuật: ca trù, chèo.
III. TỈNH QUẢNG NINH.
Nguyễn Ngọc Huyền VH1-K14.
16
Báo cáo khảo sát tuyến, điểm du lịch
Hà Nội – Hạ Long – Móng Cái – Đông Hưng (Trung Quốc)

Hình 05 : Bản đồ hành chính tỉnh Quảng Ninh – NXB Thống kê 2004
- Quảng Ninh là một tỉnh ở địa đầu phía đông bắc Việt Nam, có dáng một
hình chữ nhật lệch nằm chếch theo hướng đông bắc - tây nam. Phía tây tựa lưng
vào núi rừng trùng điệp. Phía đông nghiêng xuống nửa phần đầu vịnh Bắc bộ
với bờ biển khúc khuỷu nhiều cửa sông và bãi triều, bên ngoài là hơn hai nghìn
hòn đảo lớn nhỏ, trong đó có 1.030 đảo có tên, còn lại hơn một nghìn hòn đảo
chưa có tên.
* Địa hình :
Quảng Ninh là tỉnh miền núi - duyên hải. Hơn 80% đất đai là đồi núi. Hơn
hai nghìn hòn đảo nổi trên mặt biển cũng đều là các quả núi.
*Khí hậu :
Khí hậu Quảng Ninh tiêu biểu cho khí hậu các tỉnh miền Bắc Việt Nam vừa
có nét riêng của một tỉnh miền núi ven biển. Các quần đảo ở huyện Cô Tô và
Vân Đồn ... có đặc trưng của khí hậu đại dương.
* Dân số:
Nguyễn Ngọc Huyền VH1-K14.

Điểm cực nam ở đảo Hạ Mai thuộc xã Ngọc Vừng, huyện Vân Đồn. Điểm cực
tây thuộc xã Bình Dương và xã Nguyễn Huệ, huyện Đông Triều. Điểm cực đông
trên đất liền là mũi Gót ở đông bắc xã Trà Cổ, thành phố Móng Cái.
Phía tây giáp tỉnh Lạng Sơn và tỉnh Bắc Giang, phía đông giáp vịnh Bắc
Bộ, phía tây nam giáp tỉnh Hải Dương và Thành phố Hải Phòng, phía bắc giáp
huyện Phòng Thành và thị trấn Đông Hưng (tỉnh Quảng Tây, Trung Quốc) với
Nguyễn Ngọc Huyền VH1-K14.
18
Báo cáo khảo sát tuyến, điểm du lịch
Hà Nội – Hạ Long – Móng Cái – Đông Hưng (Trung Quốc)
cửa khẩu Móng Cái và Trinh Tường. Đường biên giới với Trung Quốc dài 132,8
Km.
Biển Quảng Ninh có hơn 2000 hòn đảo, chiếm 2/3 số đảo cả nước
(2078/2779), trong đó có 1.030 đảo có tên. Tổng diện tích các đảo là 619,913
km². Một số hòn đảo thuộc tỉnh Quảng Ninh là: đảo Trần và quần đảo Cô Tô
(thuộc huyện Cô Tô). Vùng nội thuỷ từ bắc xuống nam có những đảo chính như
đảo Vĩnh Thực, đảo Miễu, đảo Cái Chiên, đảo Thoi Xanh, đảo Vạn Vược, đảo
Thoi Đây, đảo Sậu Nam, đảo Co Bầu, đảo Trà Ngọ, đảo Cao Lô, đảo Trà Bàn,
đảo Chén, đảo Thẻ Vàng, đảo Cảnh Cước, đảo Vạn Cảnh, đảo Cống Tây, đảo
Phượng Hoàng, đảo Nấc Đất, đảo Thượng Mai và đảo Hạ Mai cùng vô số những
đảo nhỏ trong vịnh Bái Tử Long và Hạ Long. Duyên hải Quảng Ninh chạy dài
gần 200 hải lí từ lãnh hải Trung Quốc ở phía đông đến địa giới thành phố Hải
Phòng.
* Kinh tế
Quảng Ninh là một trọng điểm kinh tế, một đầu tàu của vùng kinh tế trọng
điểm phía Bắc đồng thời là một trong bốn trung tâm du lịch lớn của Việt Nam
với di sản thiên nhiên thế giới vịnh Hạ Long đã hai lần được UNESCO công
nhận về giá trị thẩm mĩ và địa chất, địa mạo. Quảng Ninh có 3 Khu kinh tế Vân
Đồn, hai Trung tâm thương mại Hạ Long, Móng Cái là đầu mối giao thương
giữa hai nước Việt Nam - Trung Quốc và các nước trong khu vực.

biển Quảng Ninh, trong đó có những đặc sản giá trị như hải sâm, bào ngư, tôm,
cua, sò, ngán, hầu hà, sá sùng, rau câu.
IV. HẠ LONG.
1. Thành phố Hạ Long.
1.1. Vị trí địa lý.
Toạ độ địa lý của thành phố Hạ Long hiện nay, từ 20
0
55’ đến 21
0
05’ vĩ độ
bắc, 106
0
50’ đến 107
0
30’ kinh độ đông. Phía bắc- tây bắc giáp huyện Hoành Bồ,
phía nam thông ra biển qua vịnh Hạ Long và thành phố Hải Phòng, phía đông-
đông bắc giáp thị xã Cẩm Phả, phía tây- tây nam giáp huyện Yên Hưng.
Thành phố Hạ Long ở trung tâm của Tỉnh, có diện tích đất là 22.250 ha, có
quốc lộ 18A chạy qua tạo thành chiều dài của Thành phố, có cảng biển, có bờ
biển dài 50km, có vịnh Hạ Long 2 lần được UNESCO công nhận là Di sản thế
giới với diện tích 434km
2
.
Thành phố Hạ Long có 20 đơn vị hành chính, gồm 18 phường và 2 xã, cách
thủ đô Hà Nội 165km về phía tây, theo quốc lộ 18A, cách trung tâm thành phố
Hải Phòng 70km về phía Nam theo quốc lộ 10, cách cửa khẩu quốc tế Móng Cái
180 km theo quốc lộ 18A.
Dân số của Thành phố tính đến 1 tháng 4 năm 2009 là 215.795 người,
đông nhất là người Kinh mà nguồn gốc chủ yếu là từ các tỉnh khác đã chuyển
Nguyễn Ngọc Huyền VH1-K14.

các xóm chài Vạ Cháy, Cái Lân, Bến Đáy và xã Tiêu Giao, đến thời Nguyễn thì
thành lập hai xã Giang Võng và Trúc Võng. Tất cả các xã phía có tên sớm hơn,
xuất xứ từ Vạ Cháy, nơi các buổi chiều, thuyền đánh cá về khu bãi này, người
dân chài kéo thuyền lên bãi cát lấy cỏ ràng ràng và lá thông khô thui thuyền, để
làm chết những con hà bám vào đáy thuyền. Từ vịnh Hạ Long nhìn vào, cả khu
bãi này cháy đỏ lửa thui thuyền).
Nguyễn Ngọc Huyền VH1-K14.
21
Báo cáo khảo sát tuyến, điểm du lịch
Hà Nội – Hạ Long – Móng Cái – Đông Hưng (Trung Quốc)
Cùng với việc mở mỏ khai thác than của người Pháp, phố mỏ Hòn Gai dần
được hình thành, tương đương như một đơn vị hành chính thuộc tỉnh Quảng Yên
do triều Nguyễn quản lý. Nhưng về thực chất, đây là đặc khu của người Pháp.
Các nhà tư bản thực dân đã thiết lập ở đây một chế độ riêng.
Sau Cách mạng tháng Tám 1945, Hòn Gai trở thành thị xã thủ phủ của
vùng mỏ. Cuối năm 1946, người Pháp tái chiếm Hòn Gai. Sau hiệp định
Gienève 1954, Hòn Gai nằm trong khu tập kết 300 ngày. Ngày 25/4/1955, người
lính Pháp cuối cùng rút khỏi Hòn Gai. Sau đó, Hòn Gai trở thành thị xã thủ phủ
của khu Hồng Quảng.
Ngày 30/10/1963, Quốc hội Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà phê chuẩn
việc hợp nhất tỉnh Hải Ninh và khu Hồng Quảng thành tỉnh Quảng Ninh, từ đó
Hòn Gai trở thành thủ phủ của tỉnh Quảng Ninh. Thị xã mở rộng địa giới về phía
tây với các xã Thành Công, Tuần Châu, các thôn Cái Dăm, Cái Lân, Đồng
Mang, Giếng Đáy. Ở phần đất phía đông, Thành phố mở rộng đến làng Khánh.
Trên cơ sở của thị xã Hòn Gai đã được mở rộng, thành phố Hạ Long được
thành lập ngày 27/12/1993. Năm 2001, hai xã Việt Hưng và Đại Yên của huyện
Hoành Bồ được sáp nhập về thành phố Hạ Long, làm cho Thành phố trải dài từ
Yên Lập (sát với địa phận huyện Yên Hưng) tới Đèo Bụt (sát với địa phận thị xã
Cẩm Phả) như hiện nay.
Nguyễn Ngọc Huyền VH1-K14.

0
C. Về
mùa đông, nhiệt độ trung bình thấp là 13.7
0
C rét nhất là 5
0
C.
Lượng mưa trung bình một năm là 1832mm, phân bố không đều theo 2
mùa. Mùa hè, mưa từ tháng 5 đến tháng 10, chiếm từ 80- 85% tổng lượng mưa
cả năm. Lượng mưa cao nhất vào tháng 7 và tháng 8, khoảng 350mm. Mùa đông
là mùa khô, ít mưa, từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau, chỉ đạt khoảng 15-20%
tổng lượng mưa cả năm. Lượng mưa ít nhất là tháng 12 và tháng 1, chỉ khoảng
từ 4 đến 40 mm.
Độ ẩm không khí trung bình hằng năm là 84%. Cao nhất có tháng lên tới
90%, thấp nhất có tháng xuống đến 68%.
Do những đặc điểm về địa hình và vị trí địa lý, ở thành phố Hạ Long có 2
loại hình gió mùa hoạt động khá rõ rệt là gió Đông Bắc về mùa đông và gió
Tây Nam về mùa hè. Tốc độ gió trung bình là 2.8m/s, hướng gió mạnh nhất là
gió Tây Nam, tốc độ 45m/s.
Hạ Long là vùng biển kín nên ít chịu ảnh hưởng của những cơn bão lớn,
sức gió mạnh nhất trong các cơn bão thường là cấp 9, cấp 10. Cá biệt có cơn bão
mạnh cấp 11.
Nguyễn Ngọc Huyền VH1-K14.
23
Báo cáo khảo sát tuyến, điểm du lịch
Hà Nội – Hạ Long – Móng Cái – Đông Hưng (Trung Quốc)
1.3. Sông, suối và chế độ thủy chiều.
Các sông chính chảy qua địa phận Thành phố gồm có các sông Diễn
Vọng, Vũ Oai, Man, Trới, cả 4 sông này đều đổ vào vịnh Cửa Lục rồi chảy ra
vịnh Hạ Long. Riêng sông Míp đổ vào hồ Yên Lập.

xuất gạch ngói nổi tiếng cả nước.
* Tài nguyên du lịch:
Nguyễn Ngọc Huyền VH1-K14.
24
Báo cáo khảo sát tuyến, điểm du lịch
Hà Nội – Hạ Long – Móng Cái – Đông Hưng (Trung Quốc)
Gắn liền với vịnh Hạ Long, Di sản thiên nhiên thế giới, với nhiều hang
động huyền ảo như hang Bồ Nâu, Trinh Nữ, Sửng Sốt, Đầu Gỗ, như động Thiên
Cung, Tam Cung, Mê Cung và gần 1000 hòn đảo, trong đó có trên 300 hòn đảo
đã có tên. Một số hòn đảo có dáng hình kỳ vĩ, đẹp nổi tiếng khắp thế giới như
hòn Gà Chọi, hòn Lư Hương, hòn Đầu Người… Đặc biệt khu di tích văn hoá núi
Bài Thơ, Công viên Hoàng và đảo Tuần Châu hai trung tâm du lịch quốc tế luôn
giành được sự mến mộ của khách trong và ngoài nước.
* Tài nguyên biển:
Vùng biển Hạ Long có 950 loài cá, 500 loài động vật thân mềm và 400 loài
giáp xác, trong đó có nhiều loài hải sản có giá trị kinh tế cao như cá thu, cá nhụ,
cá song, cá hồi, cá tráp, cá chim và tôm, cua, mực, ngọc trai, bào ngư, sò
huyết… 117 loài san hô thuộc 40 họ, 12 nhóm. Đây là 1 trong 4 ngư trường của
Việt Nam.
Với 50km bờ biển có diện tích bãi triều lớn như vùng Cửa Lục, Yên Cư,
Đại Đán, xung quanh đảo Tuần Châu… Rất thuận lợi cho việc nuôi trồng thuỷ
sản, nhất là tôm, cá, ngọc trai, sò huyết… Đây cũng là vùng công nghiệp đóng
tàu và cảng biển nổi tiếng, với cảng nước sâu Cái Lân, và nhà máy đóng tàu Hạ
Long đã hạ thuỷ những con tàu viễn dương có trọng tải lớn.
* Tài nguyên rừng:
Đất rừng ở thành phố Hạ Long có 5153ha, trong đó rừng tự nhiên là
1442ha, rừng trồng 3711ha. Độ che phủ thấp, chỉ đạt 16.68%. Ngoài ra Hạ Long
còn 3923ha đất trống đồi trọc và đồi cỏ, có các loại cây bụi, mở ra khả năng phát
triển trồng rừng ở những năm tiếp theo.
Hệ thực vật và động vật của vùng rừng Hạ Long có nhiều chủng loại. Hệ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status