LỜI CẢM ƠN
Nhân dịp luận văn được hoàn thành, tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn chân
thành và sâu sắc tới:
- Ban Giám Hiệu, bộ môn Điều dưỡng, các phòng ban trường đại học
Thăng Long, khoa khám bệnh và điều trị ngoại trú bệnh viện Mắt trung ương đã
tạo điều kiện cho tôi được học và hoàn thành bài luận văn này.
- Gs.Ts. Phạm Thị Minh Đức, Trưởng bộ môn Điều dưỡng Trường Đại học
Thăng Long, người đã đào tạo, hướng dẫn, dạy bảo tận tình và tạo mọi điều kiện
thuận lợi cho tôi được hoc tập và hoàn thành luận văn.
- Ths.Bs. Nguyễn Thu Thủy, phó khoa khám bệnh - điều trị ngoại trú bệnh
viện Mắt trung ương, người đã trực tiếp hướng dẫn, giúp đỡ, động viên tôi trong
quá trình nghiêm cứu và hoàn thành luận văn.
Với tất cả lòng thành kính tôi xin chân thành cảm tạ và biết ơn sâu sắc đến
các giáo sư, phó giáo sư, tiến sỹ trong hội đồng thông qua đề cương và hội đồng
chấm luận văn tốt nghiệp đã đóng góp cho tôi những ý kiến quý báu giúp tôi
hoàn thành luận văn này.
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới gia đình, bạn bè, đồng nghiệp, các
Anh, Chị, Em lớp KCT1, những người luôn bên cạnh giúp đỡ, động viên tôi
trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu khoa học.
Hà Nội, ngày 11 tháng 1 năm 2011
Nguyễn Thị Thùy Vân
MỤC LỤC
1.3. NGUYÊN NHÂN VÀ ĐIỀU KIỆN XẢY RA TAI NẠN GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ (TNGTĐB) 7
1
DANH MỤC VIẾT TẮT
Kí hiệu viết tắt Tên đầy đủ
TNGT Tai nạn giao thong
BN Bệnh nhân
2
DANH MỤC BẢNG BIỂU
1.3. NGUYÊN NHÂN VÀ ĐIỀU KIỆN XẢY RA TAI NẠN GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ (TNGTĐB) 7
trước đến nay tại bệnh viện Mắt Trung Ương chưa có nghiên cứu nào về thực trạng tai
nạn thương tích tại mắt do TNGT, chính vì vậy chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài :
“ Đánh giá thực trạng tai nạn thương tích tại mắt do tai nạn giao thông tại phòng
trực cấp cứu Bệnh viện Mắt Trung ương”.
Mục tiêu đề tài:
Đánh giá về thực trạng tai nạn thương tích mắt do TNGT tại phòng trực cấp
cứu bệnh viện Mắt Trung ương
Tìm hiểu một số yếu tố liên quan đến tai nạn thương tích tại mắt
45
CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN
1.1. Những hiểu biết về tai nạn giao thông:
Tai nạn là một sự kiện xảy ra bất ngờ ngoài ý muốn, do một tác nhân bên ngoài
gây nên các tổn thương thương tích cho cơ thể về thể chất hay tâm hồn của nạn nhân".
Có hai loại tai nạn:
+ Tai nạn không chủ định thường không có nguyên nhân rõ ràng, khó có thể đoán
trước được như ngã, bỏng, ngộ độc, chết đuối.
+ Tai nạn có chủ định như chiến tranh, bạo lực, tự tử, bạo hành thường có
nguyên nhân và có thể phòng tránh được.
TNGT là sự việc bất ngờ xảy ra ngoài ý muốn chủ quan của người điều khiển
phương tiện giao thông khi đang di chuyển trên đường giao thông, do vi phạm các quy
tắc an toàn giao thông hay do gặp những tình huống, sự cố đột xuất không kịp phòng
tránh, gây nên thiệt hại nhất định về người và tài sản
TNGT đã có từ rất lâu trong lịch sử dưới nhiều hình thức khác nhau. Tuy nhiên,
hiện tại vẫn chưa có một định nghĩa thật chính xác có thể lột tả hết những đặc tính của
nó. Về cơ bản tai nạn giao thông có những đặc tính như:
- Được thực hiện bằng những hành vi cụ thể.
an toàn
< 0,4 0,4 - 0,6 0,6 - 0,8 > 0,8
Tình trạng của
đoạn đường
Rất nguy hiểm Nguy hiểm ít nguy hiểm
Thực tế không
nguy hiểm
7
Để đánh giá mức độ nguy hiểm của các đoạn đường, người ta sử dụng hệ số an
toàn: K=V
2
/V
1
.
Trong đó V
2
là tốc độ tối thiểu của xe phương tiện chạy trên đoạn đường đang
xem xét. V
1
là tốc độ tối đa của xe chạy trên đoạn đường liền kề trước đó. Trị số K có
giá trị càng nhỏ thì càng có khả năng xảy ra TNGT trên đoạn đường đó, tức là những
đoạn đường nguy hiểm dễ xảy ra TNGT chính là những đoạn đường mà phương tiện
phải giảm tốc độ nhiều trong thời gian ngắn.
Mức an toàn chạy xe của các đoạn đường được đánh giá theo trị số của hệ số an
toàn như ở bảng dưới đây :
Cơ sở hạ tầng phục vụ giao thông còn nhiều yếu kém, chưa đảm bảo các tiêu
chuẩn kỹ thuật, không đồng bộ chính là một trong những nguyên nhân làm xảy ra
nhiều vụ TNGT. Điều này được thể hiện rõ nét ở các quốc gia kém phát triển và đang
phát triển.
1.4. Các tai nạn thương tích tại mắt do tai nạn giao thông
+ Giác mạc: Đụng dập thường làm cho giác mạc bị trợt biểu mô hoặc có khi tới lớp
nông của nhu mô. Tiếp đó, rối loạn dinh dưỡng và tổn thương nội mô làm cho giác mạc bị
nề phù , mờ đục.Có thể có hiện tượng đĩa máu giác mạc nếu nội mô bị tổn thương kết hợp
với xuất huyết tiền phòng mà máu đọng ở tiền phòng kéo dài quá 7 ngày.
+ Củng mạc: Tổn thương có thể gặp ở nhiều mức độ khác nhau, đó có thể là:
• Nứt rạn, về sau sẽ giãn lồi củng mạc ở chính vùng này do sự tác động liên tục
của nhãn áp.
• Nứt vỡ, phòi các chất nội nhãn: vùng nứt vỡ thường là quanh rìa giác mạc, vùng
xích đạo nhãn cầu, chỗ bám của các cơ thẳng vì đó là những nơi củng mạc mỏng và
yếu nhất.
Ở nơi vỡ củng mạc, tổ chức nội nhãn phòi qua đó sẽ tạo một đám phồng có màu
tương ứng của tổ chức nội nhãn kết hợp với màu máu chảy tại chỗ.
+ Mống mắt, thể mi, tiền phòng :
• Đồng tử giãn và méo là dấu hiệu hay gặp.
9
• Đứt chân mống mắt. Nếu đoạn đứt chân mống đủ dài, mép đứt cuộn lại sẽ gây
nhìn đôi ở mắt bị thương, méo đồng tử rõ. Đứt chân mống mắt cũng thường kèm theo
chảy máu tiền phòng.
• Nứt rách thể mi, lùi góc tiền phòng dẫn đến chảy máu tiền phòng, hậu quả của
lùi góc sẽ là tăng nhãn áp thứ phát.
• Xuất huyết tiền phòng : máu tiền phòng về mặt đại thể nếu số lượng ít thường
tạo thành ngấn ngang ở phía thấp. Nếu máu chảy số lượng nhiều sẽ tràn ngập toàn bộ
tiền phòng, che lấp hoàn toàn mống mắt và diện đồng tử
+ Thể thuỷ tinh :
• Lệch từng phần : Tiền phòng nông sâu không đều, có dấu hiệu rung rinh
mống mắt, bệnh nhân có thể nhìn đôi ở mắt bị thương (trong khi bịt mắt lành).
• Lệch toàn phần: Thường do lực tác động rất mạnh gây đứt toàn bộ các dây
chằng Zinn. Thể thuỷ tinh có thể bị lệch tới các vị trí:
• Ra tiền phòng: Do ban đầu thuỷ tinh thể còn trong cho nên trông giống như một
giọt dầu ăn ở trong tiền phòng. Lệch thuỷ tinh thể kiểu này gây tăng nhãn áp cấp tính,
+ Vết thương ở bề mặt có dị vật (không xuyên):
Đây thường là loại vết thương trợt nông. Bản thân nó đã gây đau rức kết hợp với
dị vật lại gây ra thêm triệu chứng cộm rất khó chịu, kích thích liên tục.
+ Vết thương xuyên giác mạc:
Nếu vết thương lớn thì dễ thấy và phòi qua đó là tổ chức nội nhãn, thường là mống
mắt. Chỉ khó thấy khi vết thương nhỏ gọn, tự liền khít, lúc đó cần nhớ tam chứng:
• Tiền phòng xẹp hoặc nông.
• Nhãn áp hạ.
• Tiền sử chấn thương.
Đồng thời cũng cần quan tâm đến các dấu hiệu của tổn thương trên mống mắt,
trên thể thuỷ tinh, tình trạng máu tiền phòng, và một đặc điểm nữa là mống mắt rất hay
dính bít vào vết thương giác mạc.
+ Vết thương xuyên củng mạc:
11
Đây là loại tổn thương nặng nề nhưng tương đối kín đáo vì bị ẩn sau lớp kết mạc.
Nếu vết thương rộng và ở trước xích đạo nhãn cầu thì dễ quan sát thấy nó cùng với các
tổ chức nội nhãn phòi ra và chảy máu. Nếu vết thương nhỏ hoặc ở phía sau xích đạo thì
khó phát hiện, cần phải dựa vào các dấu hiệu
• Tụ máu kết mạc, khối phồng có màu đen của hắc mạc.
• Tiền phòng sâu, mống mắt thậm chí còn lõm về phía sau.
• Mắt mềm, có khi không đo được nhãn áp.
• Soi đáy mắt: máu dịch kính, vết thương ở võng mạc, hắc mạc.12
CHƯƠNG 2
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Đối tượng nghiên cứu:
Là những bệnh nhân chấn thương tại mắt do TNGT đến khám tại phòng trực cấp
cứu bệnh viện mắt trung ương từ tháng 7 năm 2010 đến tháng 10 năm 2010.
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu 92 trường hợp bệnh nhân chấn thương tại mắt do TNGT đến khám
tại phòng trực cấp cứu bệnh viện mắt trung ương từ tháng 7 năm 2010 đến tháng 10
năm 2010. Chúng tôi thu được kết quả như sau:
3.1. Đặc điểm bệnh nhân
3.1.1. Phân bố bệnh nhân theo giới:
Biểu đồ 3.1: Phân bố bệnh nhân theo giới tính
Nhận xét:
Qua biểu đồ 1 cho thấy tỷ lệ gặp tai nạn giao thông ở nam là 79,3% và ở nữ là
20,7%. Sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê với p< 0,05
Tỉ lệ bệnh nhân nam gặp nhiều hơn nữ với 73 trường hợp chiếm 79,3%
kết quả này cũng phù hợp với thống kê về tình hình tai nạn thương tích tại cộng
đồng 6 tháng đầu năm 2005 [4]
15
3.1.2. Đặc điểm bệnh nhân theo nhóm tuổi:
Biểu đồ 3.2: Phân bố bệnh nhân theo tuổi
Nhận xét:
Qua phân tích 92 trường hợp bệnh nhân tai nạn thương tích mắt do TNGT đến
khám tại phòng trực cấp cứu Bệnh viện mắt Trung Ương chúng tôi nhận thấy độ tuổi
trung bình là 34,4( ± 13,9) tuổi, đây thuộc nhóm tuổi thanh thiếu niên. Tuổi nhỏ nhất là
5 tuổi, người tuổi cao nhất là 73 tuổi. Độ tuổi thanh niên ( từ 16-40 ) chiếm nhiều nhất
với 62 trường hợp chiếm 56,6% tiếp theo là độ tuổi trung niên từ 41-60 có 21 trường
hợp chiếm 33,7%. Ở độ tuổi từ 0 – 15 tuổi có 5 trường hợp chiếm 5,4 %.
16
3.1.3. Đặc điểm trình độ văn hóa
Biểu đồ 3.3: Phân bố trình độ văn hóa
Nhận xét :
Qua biểu đồ 3.3 cho thấy số bệnh nhân tai nạn giao thông có trình độ trung học
phổ thông chiếm tỷ lệ cao nhất ( 62% ) tiếp đến là trình độ đại học và trên đại học
(18,5%), trung học cơ sở 15,2%, tiểu học 4,3%.
Khác
Nghề nghiệp
18
Biểu đồ 3.5: Phân bố địa điểm xảy ra tai nạn
Nhận xét:
Địa điểm xảy ra tai nạn giao thông: Tai nạn giao thông gặp ở nội thành (59,8%)
nhiều hơn ngoại thành (40,2%)
3.2.2 Tình trạng đội mũ bảo hiểm
Biểu đồ 3.6: Phân bố tỷ lệ đội mũ bảo hiểm
Nhận xét:
Trong 75 trường hợp tai nạn giao thông do sử dụng xe gắn máy có 74,2% trường
hợp không sử dụng mũ bảo hiểm, chỉ có 25,8% trường có sử dụng mũ bảo hiểm
74,2%
25,8%
Không đội mũ bảo hiểm Đội mũ bảo hiểm
19
3.2.3 Đặc điểm các nhóm phương tiện gây tai nạn
Biểu đồ 3.7 : Phân bố tỷ lệ các loại phương tiện gây tai nạn giao thông
Nhận xét:
Biểu đồ 3.7 cho thấy xe máy là phương tiện gây tai nạn giao thông nhiều nhất
chiếm 81,5% trên tổng số các vụ tai nạn giao thông. Trong khi đó tỷ lệ tai nạn do ô tô
chiếm 13%và phương tiện thô sơ chiếm 5,4%
13,0%
81,5%
5.4%
0%
20%
40%
60%
80%
Có sử dụng rượu, bia
Không sử dụng rượu, bia
21
Nhận xét:
Qua nghiên cứu 92 trường hợp BN chấn thương tại mắt do tai nạn giao thông đến
khám cấp cứu tại bệnh viện mắt Trung Ương chúng tôi nhân thấy có thể phân ra làm
các tình trạng tổn thương như sau: Vết thương nhãn cầu 9 BN chiếm 9,8%. Vết thương
nhãn cầu có kèm theo chấn thương toàn thân là 6 BN chiếm 6,5%. Sang chấn đụng dập
có 13 BN chiếm 14,1%. Sang chấn đụng dập có kèm theo chấn thương toàn thân có 2
Bn chiếm 2,2 %. Sang chấn đụng dập có kèm theo đứt lệ quản có 5 BN chiếm 5,4 %.
Sang chấn đứt lệ quản có 44 BN chiếm 47,8 %. Sang chấn đứt lệ quản có kèm theo
chấn thương toàn thân là 13 BN chiếm 14,1%.
Tình trạng bệnh nhân chấn thương tại mắt kèm theo chấn thương toàn thân:
Bảng 3.2. Phân bố tình trạng chấn thương tại mắt kèm theo chấn thương toàn thân
Bệnh nhân BN chấn thương mắt đơn thuần
BN chấn thương mắt có kèm
chấn thương toàn thân
Số lượng 71 21
Tỷ lệ% 77,2 22,8
Nhận xét:
Bảng 3.2 cho thấy tỷ lệ bệnh nhân chấn thương mắt kèm chấn thương toàn thân
chiếm 22,8% trên tổng số các trường hợp chấn thương
22
Tình trạng thị lực bệnh nhân:
Bảng 3.3. Phân bổ tình trạng thị lực bệnh nhân
Thị lực
Số BN
Đnt
<3m
Đnt
tích mắt cũng dễ xảy ra hơn. Họ là lực lượng lao động chính trong gia đình và của xã
hội nên khi mắc tai nạn thương tích thì gánh nặng đối với bản thân bệnh nhân, gia đình
họ và xã hội là rất nặng nề.
Ở độ tuổi từ 0 – 15 tuổi có 5 trường hợp chiếm 5,4 % kết quả này cũng phù hợp
với tổng kết nghiên cứu về tai nạn thương tích trẻ em do TNGT đối với trẻ dưới 6 tuổi
được thực hiện tại bệnh viện nhi Trung ương tháng 3/2009, tỷ lệ này là 8,6% trẻ em bị
chấn thương do TNGT [2]. Nhưng đây không phải là nghiên cứu sâu về tai nạn thương
tích trẻ em nên chỉ dẫn về số liệu không thể hiện ở trên bảng thống kê. Đặc biệt còn có
các yếu tố kinh tế, xã hội với các nguyên nhân gây tai nạn thương tích do TNGT ở trẻ
em. Như biến đổi về cấu trúc gia đình, tác động của kinh tế thị trường và trình độ văn
hóa của các bậc cha mẹ trẻ.
4.1.3. Đặc điểm trình độ văn hóa
24