Hoàn thiện công tác quản trị rủi ro tín dụng tại ngân hàng agribank chi nhánh thăng bình - Pdf 26

Khóa luận tốt nghiêp GVHD: Trần Thị Vân Anh
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài.
Việt Nam gia nhập tổ chức thương mại thế giới (WTO) đã mở ra nhiều cơ hội
phát triển mới cho thị trường tài chính Việt Nam nói chung và cả ngành ngân
hàng nói riêng. Tuy nhiên, bên cạnh đó cũng đặt ra cho NHTM Việt Nam nhiều
thách thức và rủi ro.
Trong môi trường cạnh tranh gây gắt giữa NHTM trong và ngoài nước, dưới
sức ép của tiến trình hội nhập, hoạt động kinh doanh của ngân hàng đặc biệt là
hoạt động tín dụng đã và đang diễn ra ngày càng phức tạp và luôn chứa đựng
những rủi ro tiềm ẩn. Đây là hoạt động quan trọng đối với NHTM, bởi nó là hoạt
động kinh doanh chính của NHTM cả về tỷ trọng tài sản có và thu nhập. Vì vậy
nếu hoạt động tín dụng xảy ra tổn thất, sẽ làm tăng thêm chi phí, giảm thu nhập
hoặc thậm chí thất thoát vốn của ngân hàng, từ đó không những ảnh hưởng đến
uy tín kinh doanh và vị thế của chính ngân hàng mà còn có thể gây dây chuyền
đến toàn hệ thống ngân hàng. Chính vì vậy, rủi ro tín dụng cần được quản lý và
kiểm soát trong giới hạn cho phép nhằm giảm thiểu các tổn thất, góp phần nâng
cao uy tín và tạo ra lợi thế cạnh tranh của ngân hàng, giúp các ngân hàng tăng
trưởng ổn định và bền vững.
Thực tiễn hoạt động của ngân hàng Agribank chi nhánh Thăng Bình thời gian
qua đã có những bước phát triển nhanh chóng và đã đạt được những thành tựu
đáng khích lệ, chất lượng tín dụng ngày càng được nâng cao, tỷ lệ nợ quá hạn
trên tổng dư nợcho vay đều giảm giảm rõ rệt. Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả
đạt được thì công tác QTRRTD vẫn tiềm ẩn những nhân tố làm phát sinh rủi ro.
Chính vì vậy yêu cầu cấp bách đặt ra là RRTD phải được quản lý, kiểm soát một
cách bài bản và có hiệu quả, đảm bảo tín dụng hoạt động trong phạm vi rủi ro có
thể chấp nhận được, hỗ trợ việc phân bổ vốn hiệu quả hơn trong hoạt động tín
dụng, giảm thiểu các hoạt động phát sinh từ RRTD và tăng thêm lợi nhuận cho
NH, góp phần nâng cao uy tín và tạo ra lợi thế của NH trong cạnh tranh. Đó cũng
chính là lý do tôi chọn việc lựa chọn đề tài: “Hoàn thiện công tác quản trị rủi ro
tín dụng tại ngân hàng Agribank chi nhánh Thăng Bình” để làm khóa luận tốt

Chương 3: Giải pháp hoàn thiện và nâng cao công tác quản trị rủi ro tín
dụng tại ngân hàng Agribank chi nhánh Thăng Bình.
SVTH: Võ Thị Bích Tin Trang 2
Khóa luận tốt nghiêp GVHD: Trần Thị Vân Anh
NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ KHOA HỌC VÀ TỔNG QUAN TÀI LIỆU VỀ QUẢN
TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG TẠI NHTM.
1.1. Cơ sở khoa học về tín dụng ngân hàng, rủi ro tín dụng và quản trị rủi ro
tín dụng.
1.1.1. Cơ sở khoa học về tín dụng ngân hàng.
1.1.1.1. Khái niệm và bản chất của tín dụng.
Thuật ngữ “tín dụng” có nguồn gốc từ tiếng Latinh là Creditium có nghĩa
là sự tin tưởng, tín nhiệm, dựa trên sự tin tưởng, tín nhiệm đó sẽ thực hiện các
quan hệ vay mượn một lượng giá trị biểu hiện dưới hình thái tiền tệ hoặc vật
chất, phi vật chất trong một khoảng thời gian nhất định.
Xét trên giác độ kinh tế vi mô, tín dụng là sự vay mượn giữa hai chủ thể
người đi vay và người cho vay trên cơ sở thỏa thận về thời hạn nợ, mức lãi suất
cụ thể. Trên giác độ kinh tế vĩ mô thì tín dụng là sự vận động vốn từ nơi thừa đến
nơi thiếu. Sự vận động này biểu hiện qua sơ đồ sau:
Sơ đồ 1.1. Sự vận động của tín dụng.
Giá trị (hàng hóa tiền tệ)-T
Sau một thời gian cụ thể
Giá trị (hàng hóa tiền tệ)-T’
Có rất nhiều định nghĩa về tín dụng như:
Tín dụng là một giao dịch giữa hai bên, trong đó một bên (người cho vay)
chu cấp tiền hay hàng hóa dựa vào lời hứa thanh toán lại trong tương lai của
người kia (người đi vay).
Tín dụng là sự chuyển nhượng tạm thời quyền sử dụng một lượng giá trị
dưới hình thức tiền tệ hay hiện vật từ người sở hữu sang người sử dụng, sau một
thời gian nhất định hoàn trả lại một giá trị lớn hơn.

Các khoản thu của hoạt động tín dụng chiếm tỷ trọng lớn hoặc lớn nhất trong các
hoạt động của ngân hàng. Hình thức tín dụng truyền thống của ngân hàng thương
mại là cho vay ngắn hạn có đảm bảo bằng tài sản, giúp khách hàng mua hàng
hoá, nguyên nhiên vật liệu, sau đó mở rộng thành nhiều hình thức khác nhau như
cho vay thế chấp bằng bất động sản, bằng các chứng khoán, bằng giấy tờ lưu kho
hoặc không cần thế chấp.
SVTH: Võ Thị Bích Tin Trang 4
Khóa luận tốt nghiêp GVHD: Trần Thị Vân Anh
1.1.1.3. Nguyên tắc của tín dụng ngân hàng.
Nguyên tắc thứ nhất: Vốn vay phải được hoàn trả đầy đủ, đúng hạn cả
vốn gốc và lãi.
Nguyên tắc này thể hiện đầy đủ bản chất tín dụng là sự hoàn trả trọn vẹn,
đầy đủ về mặt giá trị và có thêm lợi tức theo công thức vận động của quỹ cho vay
(T-T’). Nó cũng đảm bảo tôn trọng quy luật lưu thông tiền tín dụng: Tiền tín
dụng thường xuyên quay trở về nơi phát hành ra nó.
Để thực hiện nguyên tắc này đòi hỏi phải sử dụng công cụ kỳ hạn nợ. Xác
định một kỳ hạn nợ hợp lý, tổ chức thu nợ nhanh chóng kịp thời,…điều đóvừa
đảm bảo cho hoạt động của ngân hàng được tiến hành thường xuyên liên tục, vừa
thúc đẩy tổ chức đi vay quan tâm hoàn thành đúng kỳ hạn kế hoạch và hợp đồng
kinh tế.
Nguyên tắc hai: Vốn vay phải có mục đích, đảm bảo sử dụng đúng mục
đích và hiệu quả.
Để đảm bảo nguyên tắc hoàn trả và đảm bảo cho nền kinh tế phát triển cân
đối, thì khi cho vay cần phải biết người vay sử dụng vào mục đích gì, có khả
năng thu hồi nợ hay không, lợi nhuận tạo ra có đủ trang trải nợ gốc và lãi hay
không, mức độ mạo hiểm như thế nào.
Tính mục đích của tín dụng thể hiện ở chỗ lựa chọn đối tượng cho vay,
bao gồm cả hai mặt: Cho ai vay và cho vay cái gì? Cho vay có mục đích không
chỉ giới hạn trong việc cho vay phải nhằm đúng các đối tượng cụ thể như thế
nào: Cho vay để trả tiền mua đối tượng cụ thể mà phải hướng việc cho vay vào

b. Phân loại theo thời hạn cho vay:
Phân chia theo thời gian có ý nghĩa quan trọng đối với ngân hàng vì thời
gian liên quan mật thiết đến tính an toàn và sinh lời của tín dụng cũng như khả
năng hoàn trả của khách hàng. Theo thời gian, tín dụng được phân thành:
Tín dụng ngắn hạn: từ 12 tháng trở xuống và được sử dụng để bù đắp sự
thiếu hụt vốn lưu động của doanh nghiệp và các nhu cầu chi tiêu ngắn hạn của cá
nhân.
Tín dụng trung hạn: từ 1 năm đến 5 năm và chủ yếu được sử dụng để đầu
tư mua sắm tài sản cố định, cải tiến đổi mới thiết bị, công nghệ mở rộng sản xuất
kinh doanh, xây dựng các dự án mới có quy mô nhỏ và thời gian thu hồi vốn
nhanh.
SVTH: Võ Thị Bích Tin Trang 6
Khóa luận tốt nghiêp GVHD: Trần Thị Vân Anh
Tín dụng dài hạn: trên 5 năm và được sử dụng để đáp ứng nhu cầu dài hạn
như xây dựng nhà ở, các thiết bị, phương tiện vận tải có quy mô lớn, xây dựng
các xí nghiệp mới.
c. Phân loại theo hình thức.
Chiết khấu thương phiếu là việc ngân hàng ứng trước tiền cho khách hàng
tương ứng với giá trị của thương phiếu trừ đi phần thu nhập của ngân hàng để sở
hữu một thương phiếu chưa đến hạn. Ngân hàng ứng trước tiền cho người bán
nhưng thực chất là thay thế người mua trả tiền trước cho người bán.
Bảo lãnh là việc ngân hàng đưa tiền cho khách hàng với cam kết thực hiện
các nghĩa vụ tài chính hộ khách hàng của mình. Mặc dù ngân hàng không trực
tiếp xuất tiền ra nhưng ngân hàng đã cho khách hàng sử dụng uy tín của mình để
thu lợi.
Cho vay là việc ngân hàng đưa tiền cho khách hàng với cam kết khách
hàng phải hoàn trả cả gốc và lãi trong khoản thời gian xác định.
Cho thuê là việc ngân hàng bỏ tiền mua tài sản để cho khách hàng thuê
theo những thoả thuận nhất định. Sau thời gian xác định khách hàng phải hoàn
trả cả gốc lẫn lãi cho ngân hàng.

Nhóm 5 (Nợ có khả năng mất vốn) bao gồm:Các khoảnnợ quá hạn từ 180
ngày trở lên. Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu quá hạn từ 90 ngày
trở lên theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần đầu. Các khoản nợ cơ cấu lại thời
hạn trả nợ lần thứ hai quá hạn theo thời hạn trảnợ được cơ cấu lại lần thứ hai.
Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ ba trở lên, kể cả chưa bị quá hạn
hoặc đã quá hạn.
1.1.1.5. Vai trò của tín dụng ngân hàng đối với nền kinh tế.
Thứ nhất, tín dụng ngân hàng góp phần giảm hệ số vốn nhàn rỗi trong lưu
thông và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn.
Tín dụng ngân hàng là trung gian để điều tiết nguồn vốn từ bộ phận nhàn
rỗi đến bộ phận thiếu vốn với sự tương thích về số lượng một cách linh hoạt,
giúp giảm số tiền nhàn rỗi trong lưu thông. Trong cơ chế thị trường ai cũng muốn
đồng tiền của mình sinh lời, do đó họ sẵn sàng cho ngân hàng vay để thu lợi.
SVTH: Võ Thị Bích Tin Trang 8
Khóa luận tốt nghiêp GVHD: Trần Thị Vân Anh
Như vậy, tín dụng ngân hàng đã góp phần nâng cao thu nhập cho người gửi tiết
kiệm.
Thứ hai, chính phủ sử dụng tín dụng ngân hàng như một công cụ điều tiết
vĩ mô nền kinh tế, thực hiện chiến lược phát triển kinh tế – xã hội.
Thông qua kiểm soát khối lượng tín dụng, định hướng đầu tư cùng với lãi
suất tín dụng giúp chính phủ điều hành chính sách tiền tệ linh hoạt và hợp lý,
kiềm chế lạm phát.Tín dụng ngân hàng vừa tập trung vốn đầu tư cho các ngành
kinh tế mũi nhọn, vừa tham gia vào các chương trình chính sách xã hội thực hiện
kết hợp tăng trưởng kinh tế và phát triển xã hội.
Thứ ba, tín dụng ngân hàng góp phần thúc đẩy kinh tế tăng trưởng
Trong mọi lĩnh vực sản xuất – kinh doanh - dịch vụ, mọi chu kỳ đều bắt
đầu từ tiền tệ (T) và kết thúc bằng T’. Ở đó, T’ = T+t. (T’>T) tạo điều kiện để tái
mở rộng hoạt động. Trong chu kỳ này, tăng vòng quay vốn tiền tệ có tác động
tích cực đến hiệu quả sản xuất kinh doanh. Muốn thực hiện điều đó, các chủ thể
kinh doanh cần cải tiến kỹ thuật, hoàn thiện quản lý, tìm kiếm thị trường mới.Đòi

Trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng, tín dụng là hoạt động kinh
doanh đem lại lợi nhuận của ngân hàng nhưng cũng là nghiệp vụ tiềm ẩn rủi ro
rất lớn.Các thống kê và nghiên cứu cho thấy rằng, rủi ro tín dụng chiếm đến 70%
trong tổng rủi ro hoạt động của ngân hàng.Mặc dù hiện nay đã có sựchuyển dịch
trong cơ cấu lợi nhuận của ngân hàng,theo đó thu nhập từ hoạt động tín dụng có
xu hướng giảm xuống và thu từ dịch vụ có xu hướng tăng lên nhưng thu nhập từ
tín dụng cũng chiếm từ 1/2 đến 2/3 thu nhập ngân hàng. Kinh doanh ngân hàng là
kinh doanh rủi ro, theo đuổi lợi nhuận với rủi ro chấp nhận được là bản chất của
ngân hàng. Rủi ro tín dụng là một trong những nguyên nhân chủ yếu gây tổn thất
và ảnh hưởng và tổn thất nghiêm trọng đến chất lượng kinh doanh của ngân
hàng. Có nhiều định nghĩa khác nhau về rủi ro tín dụng.
Theo Timothy W.Koch: “Một ngân hàng nắm giữ tài sản sinh lợi, rủi ro
xảy ra khi khách hàng sai hẹn – có nghĩa là khách hàng không trả vốn gốc và lãi
theo thỏa thuận. Rủi ro tín dụng là sự thay đổi tiềm ẩn của thu nhập thuần và giá
trị của vốn xuất phát từ việc hách hàng không thanh toán hay thanh toán trễ hạn”.
SVTH: Võ Thị Bích Tin Trang 10
Khóa luận tốt nghiêp GVHD: Trần Thị Vân Anh
Theo Thomas P.Fitch: “Rủi ro tín dụng là loại rủi ro xảy ra khi người vay
không thanh toán được nợ theo thỏa thuận hợp đồng dẫn đến sai hẹn trong nghĩa
vụ trả nợ. Cùng với rủi ro lãi suất, rủi ro tín dụng là một trong những rủi ro chủ
yếu trong hoạt động cho vay của ngân hàng.”
Còn theo Henie Van Greuning – Sonja B Rajovic Bratanovic: “Rủi ro tín
dụng còn được định nghĩa là nguy cơ mà người đi vay không thể trả tiền lãi hoặc
không hoàn trả vốn gốc so với thời hạn đã ấn định trong hợp đồng tín dụng. Đây
là một thuộc tính vốn có của hoạt động ngân hàng.Rủi ro tín dụng tức là việc chi
trả bị trì hoãn, hoặc tồi tệ hơn là không chi trả được toàn bộ, điều này gây ra sự
có đối với dòng chu chuyển tiền tệ và ảnh hưởng đến khả năng thanh khoản của
ngân hàng”.
Các định nghĩa khá đa dạng, chúng ta có thể rút ra nội dung cơ bản của rủi
ro tín dụng như sau:

những hạn chế trong quản lý danh mục cho vay của khách hàng, được chia thành:
Rủi ro nội tại: xuất phát từ đặc điểm hoạt động và xử lý vốn của khách
hàng vay vốn, lĩnh vực kinh tế.
Rủi ro tập trung: rủi ro do ngân hàng tập trung cho vay quá nhiều vào
một số khách hàng, một ngành kinh tế, hoặc trong một vùng địa lý, hoặc cùng
một loại hình cho vay có độ rủi ro cao.
SVTH: Võ Thị Bích Tin Trang 12
Rủi ro tín dụng
Rủi ro giao
dịch
Rủi ro danh
mục
Rủi ro lựa
chọn
Rủi ro
đảm bảo
Rủi ro
nghiệp
vụ
Rủi ro
nội tại
Rủi ro tập
trung
Khóa luận tốt nghiêp GVHD: Trần Thị Vân Anh
1.1.2.3. Đặc điểm của rủi ro tín dụng.
Để chủ động phòng ngừa rủi ro tín dụng có hiệu quả, nhận biết các đặc
điểm của rủi ro tín dụng rất cần thiết và hữu ích. Rủi ro tín dụng co đặc điểm cơ
bản sau:
Rủi ro tín dụng mang tính gián tiếp: Trong quan hệ tín dụng, ngân hàng
chuyển giao quyền sử dụng vốn cho khách hàng. Rủi ro tín dụng xảy ra khi

hoàn chỉnh vừa gây khó khăn cho doanh nghiệp và ngân hàng, vừa tạo khe hở để
kẻ xấu lợi dụng gây rủi ro cho cả doanh nghiệp và ngân hàng.
Nhân tố xã hội: Là một nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến rủi ro tín dụng.
Tín dụng là sự vay mượn dựa trên cơ sở lòng tin. Do đó, đạo đức xã hội có liên
quan tới rủi ro tín dụng trong trường hợp lợi dụng lòng tin để lừa đảo, hoặc do
trình độ dân trí chưa cao, kém hiểu biết dẫn tới hiểu chưa đúng đắn bản chất của
hoạt động ngân hàng nói chung, hoạt động tín dụng nói riêng, kinh doanh kém
hiệu quả gây tổn thất tới ngân hàng, hoặc do sự thay đổi yếu tố tâm lý xã hội
cũng có khả năng hạn chế việc trả nợ của người vay.
Ngoài ra, rủi ro tín dụng cũng chịu tác động của các biến cố như thiên tai,
chiến tranh,…không thể lường trước có tác động trực tiếp và ảnh hưởng nghiêm
trọng tới kế hoạch trả nợ vay của người đi vay.
Bên cạnh đó những thay đổi, điều chỉnh về cơ chế, về chính sách kinh tế vĩ
mô,…cũng có thể đặt doanh nghiệp vào những tình huống khó khăn có thể kéo
theo nguy cơ thiệt hại cho ngân hàng.
b. Các nhân tố chủ quan
- Các nhân tố thuộc về khách hàng.
Do khách hàng kinh doanh thua lỗ dẫn đến mất khả năng trả nợ. Nguyên
nhân có thể do năng lực quản lý kinh doanh kém, sử dụng vốn vay sai mục
đích…Hơn nữa nếu tỷ lệ vốn tự có trong tổng vốn kinh doanh của doanh nghiệp
thấp, chủ yếu là vốn vay ngân hàng thì doanh nghiệp sẽ lao theo những cơ hội
đầy mạo hiểm, đến khi gặp rủi ro thì ngân hàng phải gánh chịu.
Do khách hàng không tuân thủ các quy định, cố tình lừa đảo để chiếm
dụng vốn ngân hàng. Nhiều trường hợp khách hàng chủ ý cung cấp các báo cáo
tài chính sai lệch, làm cho ngân hàng đánh giá sai về năng lực tài chính của họ;
thậm chí có khách hàng đủ năng lực tài chính để thực hiện các điều khoản cam
SVTH: Võ Thị Bích Tin Trang 14
Khóa luận tốt nghiêp GVHD: Trần Thị Vân Anh
kết trong hợp đồng nhưng vẫn cố tình chây ỳ không chịu thực hiện nghĩa vụ.
Việc khiếu kiện cũng chỉ là giải pháp bị động, bất đắc dĩ, chi phí tốn kém, hơn

sản thế chấp được quay vốn nhiều lần để rút vốn ngân hàng mà không bị phát
hiện, nhất là khi vài ngân hàng cùng cho vay một khách hàng mà khách hàng đó
không trung thực. Việc tập trung tín dụng cho một số đối tác làm ăn quen thuộc,
thoạt xem có thể an toàn nhưng thực ra một danh mục cấp tín dụng thiếu đa dạng
lại hàm chứa rất nhiều rủi ro khi “bỏ tất cả trứng vào một giỏ”. Các ngân hàng có
xu hướng muốn nhanh chóng tăng số dư nợ nhưng việc mở rộng tín dụng quá
nhanh cũng đe doạ gây tình trạng quá tải, vượt quá khả năng quản lý của ngân
hàng.
Như vậy, một chính sách tín dụng thiếu linh hoạt, không phù hợp cũng là
nguyên nhân quan trọng làm tăng nguy cơ rủi ro tín dụng.
1.1.2.5. Các chỉ đánh giá rủi ro tín dụng.
- Chỉ tiêu phản ánh nợ quá hạn.
Dư nợ quá hạn làsố tiền mà khách hàng không trả được nợ gốc và lãi cho
ngân hàng khi nợ đã đến hạn trả. Nợ quá hạn có tác dụng xấu đến hoạt động kinh
doanh của ngân hàng cũng nhự hoạt động sản xuất kinh doanh của khách hàng
vay vốn.
Tổng dư nợ tín dụng là tổng số tiền mà khách hàng còn nợ ngân hàng tại
một thời điểm nhất định.
Tỷ lệ nợ quá hạn trên dư nợ phản ánh mối quan hệ so sánh giữ nợ quá hạn
trên tổng số dư nợ của ngân hàng tại một thời điểm nhất định và được tính theo
công thức sau:
Dư nợ quá hạn
Tỷ lệ nợ quá hạn = x 100
Tổng dư nợ tín dụng
Tỷ lệ nợ quá hạn thấp biểu hiện RRTD của ngân hàng thấp vì nó phản ánh
tỷ lệ các khoản vay không được trả đúng hạn hay không thu được khi các khoản
nợ đó đến hạn là thấp, như vậy các kế hoạch của ngân hàng sẽ được thực hiện tốt.
Ngược lại RRTD của ngân hàng sẽ cao, phản ánh hoạt động của ngân hàng có
vấn đề và ảnh hưởng không nhỏ đến hoạt động kinh doanh của ngân hàng.
SVTH: Võ Thị Bích Tin Trang 16

cực và khả năng thu hồi nợ thấp.Nếu chỉ số này thấp thì có thể phản ánh chất
SVTH: Võ Thị Bích Tin Trang 17
Khóa luận tốt nghiêp GVHD: Trần Thị Vân Anh
lượng cải thiện của các khoản nợ, hoặc có thể do các khoản dự phòng chưa được
trích lập đủ theo quy định.
Nợ xử lý rủi ro
- Tỷ lệ nợ xử lý rủi ro = x 100
Tổng dư nợ tín dụng
Nợ xử lý rủi ro là những khoản nợ đã được xử lý bằng khoản trích lập dự
phòng rủi ro tín dụng.
Chỉ số này cho biết bao nhiêu phần trăm nợ đã xử lý rồi trong tổng dư nợ.
Tổng giá trị tổn thất
- Tỷ lệ tổn thất cho vay = x 100
Doanh số cho vay
Tổn thất cho vay là những khoản nợ khách hàng không trả được mà ngân
hàng phải gánh chịu trong hoạt động cho vay.
Doanh số cho vay là tổng số tiền mà ngân hàng cho khách hàng vay trong
một thời gian nhất định.
Chỉ số này cho biết mức độ tổn thất trong hoạt động tín dụng là bao nhiêu
phần trăm so tổng số cho vay.
1.1.3. Cơ sở khoa học về quản trị rủi ro tín dụng.
1.1.3.1. Khái niệm về quản trị rủi ro tín dụng.
Chấp nhận và quản trị rủi ro là nguyên tắc cơ bản trong kinh doanh ngân
hàng.Tuy nhiên, ngân hàng cần phải tính đến khả năng chấp nhận rủi ro trong
chiến lược kinh doanh của mình và cần hiểu thấu đáo, đo lường và kiểm soát rủi
ro trong phạm vi khả năng sẵn sàng ứng phó đối với những bất lợi có thể chấp
nhận được.
Quản trị rủi ro tín dụng là quá trình nhận dạng, phân tích nhân tố rủi ro, đo
lường mức độ rủi ro, trên cơ sở đó lựa chọn triển khai các biện pháp phòng ngừa
và quản lý các hoạt động tín dụng nhằm hạn chế và loại trừ rủi ro trong quá trình

nhân, có thể do nguyên nhân khách quan, chủ quan hay do bất khả
kháng…Vì vậy, QTRRTD phải được xem là một nghiệp vụ chủ đạo và là thước
đo năng lực kinh doanh của các NHTM để ngăn ngừa và hạn chế tối đa những
tổn thất do RRTD gây ra.
SVTH: Võ Thị Bích Tin Trang 19
Khóa luận tốt nghiêp GVHD: Trần Thị Vân Anh
- QTRRTD tốt là một lợi thế cạnh tranh của các NHTM.
QTRRTD được thực hiện tốt sẽ tạo điều kiện cho ngân hàng sàn lọc được
những khách hàng có năng lực pháp lý tốt, năng lực tài chính tốt, có tiềm năng
phát triển… nhằm giúp cho việc tài trợ vốn của ngân hàng thực sự mang lại hiệu
quả, và sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho các NHTM trong quá trình cạnh tranh.
b. Đối với nền kinh tế.
Ngân hàng có mới quan hệ chặt chẽ đối với nền kinh tế, là kênh thu hút và
bơm tiền cho nền kinh tế. Vì vậy, nếu QTRRTD không hiệu quả sẽ làm phá sản
ngân hàng và sẽ làm cho nền kinh tế bị rối loạn, hoạt động kinh tế sẽ mất ổn định
và ngưng tệ, mất bình ổn về quan hệ cung cầu, lạm phát thất nghiệp, tệ nạn xã
hội gia tăng, tình hình an ninh chính trị bất ổn…và sẽ làm ảnh hưởng đến vị thế
và ảnh hưởng của ngân hàng, tài chính quốc gia cũng như toàn bộ nền kinh tế của
quốc gia.
c. Đối với khách hàng.
Nếu rủi ro từ phía NH, KH có thể mất vốn dẫn đến khó khăn trong sản xuất
kinh doanh. Mặt khác, nếu rủi ro xảy ra đối với chính KH gây chậm trễ trong
việc thanh toán ảnh hưởng đến quan hệ của họ đối với NH. Khi đó, KH cần vốn
họ buộc phải quan hệ với NH khác và phải tốn thêm một khoảng thời gian để
thiết lập hồ sơ vay vốn, gây trì hoãn quá trình sản xuất nếu rủi ro lớn có thể họ sẽ
bị phá sản.
Tóm lại, quản trị rủi ro tín dụng giúp ngân hàng vững vàng trong xử lý mối
quan hệ giữa rủi ro tín dụng và lợi nhuận, qua đó tránh được thiệt hại và đem lại
lợi ích cho bản thân và mọi đối tượng khác có liên quan đến hoạt động tín
dụng.Giúp làm giảm tổn thất cho bản thân ngân hàng và nền kinh tế, lành mạnh

quả cho HĐQT và ban quản lý cấp cao.Quy trình cấp tín dụng cần phải được
theo dõi đầy đủ, cụ thể.Có hệ thống quản lý đối với các khoản tín dụng có vấn
đề.
1.1.3.4. Nội dung của quản trị rủi ro tín dụng.
a. Nhận dạng rủi ro tín dụng.
Nhận dạng RRTD là quá trình xác định liên tục và có hệ thống các RRTD
đã và đang xảy ra đối với NHTM. Hoạt động này nhằm phát triển các thông tin
về nguồn gốc rủi ro, các nguy cơ, hiểm họa và các loại tổn thất có thể xảy ra để
SVTH: Võ Thị Bích Tin Trang 21
Khóa luận tốt nghiêp GVHD: Trần Thị Vân Anh
có cơ sở đề xuất các giải pháp kiểm soát và tài trợ rủi ro thích hợp. Các phương
pháp nhận dạng rủi ro như sau:
- Phương pháp bảng liệt kê câu hỏi: Theo phương pháp này, người ta lập
ra một bảng câu hỏi liệt trên cơ sở đặt ra các nghi vấn về nguồn gốc của rủi ro, cơ
chế gây ra rủi ro. Từ đó loại bỏ những nghi vấn không có cơ sở hoặc không được
rỏ ràng, giữ lại và phát hiện những nghi vấn mới, có cơ sở. Chẳng hạn như thiết
lập bảng câu hỏi liệt kê RRTD theo nguồn rủi ro năng lực tài chính của khách
hàng như sau:
Bảng 1.1: RRTD theo nguồn rủi ro năng lực tài chính của khách hàng
Nghi vấn về điều kiện rủi ro Cơ chế gây ra rủi ro
1. Khả năng tài trợ. Hệ số nợ cao thì sức chịu đựng của
doanh nghiệp thấp, rủi ro cao.
2. Khả năng thanh toán. Khả năng thanh toán thấp, nguy cơ rủi
ro phá sản cao
3. Khả năng sinh lời. Tỷ suất sinh lời thấp, khả năng không
trả nợ cao.

- Phương pháp lưu đồ: Đây là phương pháp khá quan trọng để nhận dạng
RRTD. Theo phương pháp này người ta tiến hành xây dựng một dãy lưu đồ về
các khâu trong quá trình cho vay. Qua đó ngân hàng sẽ xác định được rủi ro xảy

tiếp hoạt động của cán bộ trong tổ chức, trên cơ sở đó, phân tích đánh giá để
nhận dạng rủi ro mà ngân hàng có thể gặp phải khi cấp tín dụng.
b. Phân tích rủi ro tín dụng.
Sau khi nhận dạng và liệt kê tất cả rủi ro có thể xảy ra khi cấp tín dụng, công việc
tiếp theo là tiến hành phân tích rủi ro, xác định được nguyên nhân gây ra rủi ro.
Theo lý thuyết “DOMINO” CỦA H. W. Henrch, để tìm ra biện pháp phòng ngừa
hữu hiệu thì cần phải phân tích rủi ro,tìm ra nguyên nhân và tác động đến nguyên
nhân, thay đổi chúng, từ đó sẽ phòng ngừa được rủi ro như sơ đồ 1.4.
SVTH: Võ Thị Bích Tin Trang 23
Khóa luận tốt nghiêp GVHD: Trần Thị Vân Anh
Sơ đồ 1.4: Mô tả chuỗi DOMINO của Henrich.
a. Đo lường rủi ro tín dụng.
Thông qua các con số ta thực hiện tổng hợp, tính toán và phân tích để thấy
rõ những tổn thất, mất mát mà ngân hàng phải gánh chịu. Để đánh giá mức độ
quan trọng của rủi ro đối với ngân hàng ta sử dụng 2 tiêu chí sau:
Tần số xuất hiện của rủi ro: số lần xảy ra tổn thất hay khả năng xảy ra
biến cố nguy hiểm đối với ngân hàng trong một khoảng thời gian nhất định
(thường là năm, quý, tháng…)
Mức độ nghiêm trọng của rủi ro: tổn thất, mất mát, nguy hiểm…
Ngoài ra ta có thể sử dụng một số mô hình rủi ro tiên tiến được được áp
dụng nhiều trên thế giới như:
 Mô hình định tính: Đánh giá khả năng/ xác suất vỡ nợ của người vay trên
cơ sở phân tích, đánh giá các chỉ tiêu dựa trên yếu tố 5C:
Năng lực (Capacity): Cán bộ tín dụng phải chắc chắn rằng người vay có đủ
năng lực hành vi và năng lực pháp lý để ký kết hợp đồng tín dụng (trên 18 tuổi).
Ngoài ra cán bộ tín dụng phải chắc chắn rằng người đại diện cho doanh nghiệp
ký kết hợp đồng tín dụng phải là người uỷ quyền hợp pháp của doanh nghiệp.
Một hợp đồng tín dụng được ký kết bởi người được uỷ quyền hoặc không được
uỷ quyền hợp pháp có thể sẽ không thu hồi được nợ - tiềm ẩn rủi ro cho ngân hàng.
SVTH: Võ Thị Bích Tin Trang 24

người vay trong lĩnh vực kinh doanh. Tuy nhiên cách này rất dễ dẫn tới hiểm hoạ
cho ngân hàng.
Bảo đảm tiền vay (Collateral): Khi ngân hàng chưa đủ tín nhiệm vào
người vay thì khoản vay cần có bảo đảm tiền vay, với các hình thức thông
thường như: cầm cố, thế chấp, bảo lãnh của bên thứ ba. Trong khi đánh giá tài
sản đảm bảo ngân hàng cần chú ý tới các yếu tố như: tuổi thọ, mức độ chuyên
dụng của tài sản, công nghệ. Mặt khác cần chắc chắn về giá trị có thể thu hồi
được từ tài sản đảm bảo đó. Điều đó được thể hiện qua các điều khoản của hợp
đồng đảm bảo tiền vay.
Các điều kiện (Conditions): Các cán bộ tín dụng cần phải đánh giá xu
hướng hiện hành về công việc kinh doanh và ngành nghề của người vay cũng
như môi trường kinh tế nói chung thay đổi có ảnh hưởng như thế nào tới khoản
tín dụng.
 Phương pháp tiếp cận Basel.
Thường tập trung vào một số chuẩn mực trong hoạt động tín dụng:
SVTH: Võ Thị Bích Tin Trang 25

Trích đoạn Tình hình huy động vốn tại ngân hàng Agribank chi nhánh Thăng Bình 2011-2013. Hoạt động cho vay tại ngân hàng Agribank chi nhánh Thăng Bình 2011-2013. Tình hình cho vay theo thời hạn tại ngân hàng Agribank chi nhánh Thăng Bình 2011-2013. Tình hình kết quả hoạt động kinh doanh tại tại ngân hàng Agribank chi nhánh Thăng Bình 2011-2013. Rủi ro tín dụng phân theo thời hạn cho vay của ngân hàng Agribank chi nhánh Thăng Bình 2011-2013.
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status