Phần 1
MỞ ĐẦU
1.1 ĐẶT VẤN ĐỀ
Chăn nuôi lợn là một nghề truyền thống có từ lâu đời ở nước ta, trong thời qua
cùng với sự phát triển mạnh mẽ của ngành trồng trọt, đặc biệt là tăng trưởng nhanh
về sản lượng lương thực, nghề chăn nuôi lợn ở nước ta đã phát triển khá tốt, số lượng
tổng đàn và chất lượng tổng đàn đều tăng khá. Theo tài liệu của Cục khuyến nông -
khuyến lâm năm 2004 cả nước có 26.144.000 con, năm 2005 có 27.435.000 con.
Nh vậy so với năm 2004 thì năm 2005 tổng đàn lợn tăng 4,94%.
Với tiến bộ khoa học ngày nay, ngành chăn nuôi lợn đang từng bước phát
triển, các hộ chăn nuôi đã chuyển từ hướng chăn nuôi nhỏ lẻ sang hướng chăn nuôi
công nghiệp, áp dụng quy trình chăn nuôi tiến bộ. Song song với sự phát triển của
ngành thì cũng là lúc hàng loạt các vấn đề về quản lý kỹ thuật đang đặt ra đòi hỏi
người chăn nuôi phải giải quyết, đặc biệt là vấn đề đang gây thiệt hại cho ngành
chăn nuôi, nhất là những hộ chăn nuôi tập trung trình độ còn yếu kém.
Trong những khó khăn đến phát triển đàn lơn thì thiệt hại do bệnh phân
trắng gây ra ở lợn con đặc biệt ở giai đoạn dưới 21 ngày tuổi. Bệnh phân trắng lợ
con phổ biến khắp thế giới và là một trong những bệnh gây thiệt hại lớn nhất cho
ngành chăn nuôi lợn. Bệnh xuất hiện ở lợn nuôi theo mọi phương thức : truyền
thống, công nghiệp thậm trí trong điều kiện chăn nuôi sạch không có mầm bệnh
cũng không loại trừ được bệnh, gây thiệt hại đáng kể về kinh tế của người chăn
nuôi, vì nó ảnh hưởng xấu tới sức khoẻ của đàn lợn con, làm cho lợn con bị còi cọc
chậm lớn, ảnh hưởng tới phẩm chất con giống cũng như về số lượng con giống.
Xuất phát từ tình hình thực tế và để có điều kiện ứng dụng những kiến
thức đã học vào thực tiền sản xuất, tôi đã xin về trại lợn Dân Quyền huyện Triệu
Sơn - tỉnh Thanh Hoá để thực tập tốt nghiệp với nội dung chuyên đề :
“ Áp dông quy trình chăn nuôi và phòng áp dông quy trình chăn nuôi
và phòng trị bệnh phân trắng cho lợn từ sơ sinh đến cai sữa ở công ty CP
Lợn Giống Dân Quyền, huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hoá”.
1
1.2 SỰ CẦN THIẾT ĐỂ TIẾN HÀNH CHUYÊN ĐỀ :
* Địa hình, đất đai.
Công ty nằm trên địa bàn tương đối bằng phẳng, rất thuận lợi cho việc chăn
nuôi lợn của công ty. Với tổng diện tích là 21ha. Trong đó :
+ 18ha dùng để sản xuất lương thực.
+ 2ha dùng để xây dựng chuồng trại.
+ Diện tích còn lại để xây dựng khu làm việc và nhà tập thể cho công nhân
và các công trình phụ khác nhằm phục vụ cho chăn nuôi.
Trong khu chăn nuôi ở 2 đầu của khu chăn nuôi và ở giữa các dãy chuồng
với nhau được công ty bố trí trồng nhiều các cây xanh như: Hồng xiêm, keo đậu,
keo lá chàm, keo tai tượng, từ đó tạo ra bầu không khí trong lành cho lợn sinh
trưởng và phát triển, đảm bảo thoáng mát về mùa hè, Êm áp về mùa đông.
* Điều kiện khí hậu thuỷ văn.
Thời tiết khí hậu ở công ty chịu ảnh hưởng chung của thời tiết khí hậu Thanh
Hoá và khu vực Bắc Miền Trung, khí hậu mang tính chất nhiệt đới gió mùa và
được chia thành 4 mùa rõ rệt Xuân, Hạ, Thu , Đông. Nhiệt độ trung bình trong
năm là 24
0
C.
Chế độ mưa: Có tổng lượng mưa hàng năm từ 1.400 – 1.900mm. Mùa mưa
kéo dài từ tháng 4 đến tháng 10, mùa khô từ tháng 10 đến tháng 4 năm sau.
Trong đó tháng 8 và tháng 9 có lượng mưa nhiều nhất.
Độ Èm trung bình trong năm là từ 80 – 85%.
3
Bảng 1: Tình hình khí hậu Triệu Sơn năm 2008
Các yếu tố khí hậu thời
tiết trong tháng
Nhiệt độ TB
(
0
C)
Thuỷ lợi: Bao quanh khu chăn nuôi của công ty là một hệ thống kênh mương
rất chắc chắn, nhằm đưa các chất thải trong chăn nuôi đã được xử lý ra ngoài.
4
1.3.2.2. Tổ chức bộ máy và chức năng, nhiệm vụ của Công ty CP lợn giống xã
Dân Quyền – huyện Triệu Sơn – tỉnh Thanh Hoá
* Tổ chức bộ máy của Cty CP lợn giống:
Quá trình thành lập và phát triển của Cty: Cty CP lợn giống Dân Quyền có tiền
thân là trại giống cấp I cho toàn tỉnh Thanh Hoá, gồm: lợn ỉ và lợn Móng Cái.
Trải qua nhiều năm, Cty đã luôn đảm bảo cung cấp giống lợn cho Tỉnh. Nhưng
do sự phát triển của xã hội đòi hỏi của người tiêu dùng ngày càng cao mà giống lợn
ỉ và Móng Cái không đáp ứng được nhu cầu thị trường. Nắm bắt được vấn đề này,
công ty đã từng bước chuyển dần từ sản xuất lợn nội sang sản xuất lợn ngoại hướng
nạc, cho tỷ lệ nạc cao, đem lại hiệu quả kinh tế cao trong chăn nuôi lợn của công ty,
đảm bảo về tiêu dùng thực phẩm ngày càng cao của con người.
Năm 1994, để đảm bảo nạc hoá đàn lợn, Cty đã nhập 100 con cái sinh sản
giống ngoại hướng nạc từ trại lợn Đông Á miền Nam (Phân viên II viện chăn
nuôi) với cơ cấu đàn 6 đực/100 cái.
Hiện nay, Cty đã có hơn 250 lợn nái ngoại sinh sản với 4 giống chính là:
Landrace, Yorkshire, Duroc, Pitran.
+ Đực ngoại làm việc: 14 con
+ Nái móng cái: 50 con
+ Móng cái hậu bị: 20 con
+ Đực móng cái: 5 con
Dưới sự điều hành của ban lãnh đạo đứng đầu là Giám đốc Nguyễn Đăng
Dung kết hợp với sự năng động của công nhân trong Cty đã trải qua nhiều kinh
nghiệm trong thực tế sản xuất. Ban lãnh đạo đã từng bước đưa Cty trở thành một
cơ sở sản xuất giống lợn lớn trong Tỉnh Thanh Hoá, không những cung cấp đủ
giống trong toàn tỉnh mà còn cung cấp giống cho khu vực Bắc Trung bé.
Các tổ chức trong Cty
5
1.3.2.3. Tình hình sản xuất của Cty CP lợn giống Dân Quyền – huyện Triệu
Sơn – tỉnh Thanh Hoá
* Công tác chăn nuôi:
Với diện tích 21 ha, trong đó 2ha dùng để xây dựng chuồng trại nuôi lợn,
cung cấp giống lợn ngoại có năng suất, phẩm chất cao và giống móng cái thuần
chủng cho tỉnh Thanh Hoá và khu vực Bắc miền Trung. Đực giống hiện nay
(năm 2009) bán với giá tương đối cao, lợn từ 25 – 30 kg bán với giá 110.000đ.
Trong thực tế 3 năm qua, Cty đã đạt được một số chỉ tiêu:
Bảng 1.2. Tình hình chăn nuôi 3 năm qua
STT Loại gia sóc gia cầm ĐVT 1/1/2007 1/1/2008 1/1/2009
1 Lợn Con 1500 2200 2500
2 Gà Con 125 150 156
3 Bò Con 7 14 17
Vì Cty nuôi chủ yếu là lợn nên các loại gia sóc gia cầm khác là không phổ
biến mà chủ yếu là mô hình chăn nuôi nhỏ lẻ ở các hộ gia đình công nhân trong
cty.
- Thức ăn sử dụng:
+ Công ty đã tự mua nguyên liệu nh: ngô, lúa từ các vùng lân cận để tự
phối chế và một phần nguyên liệu do công nhân trong cty tù cung cấp.
+ Công ty sử dụng thức ăn của hãng Prôconco: Lợn con tập ăn đến 15kg
dùng C14-Proconco, lợn con từ 60 ngày tuổi đến khi xuất chuồng, lợn nái chửa,
lợn đực làm việc, đàn lợn chờ phối, lợn nái hậu bị, lợn nái nuôi con dùng thức
ăn do Cty tự phối chế.
+ Thuốc sử dụng:
Công ty sử dụng thuốc có tính chọn lọc của các hãng thuốc liên doanh nh:
Beyer, Vemedim Việt Nam (Hãng thuốc thú y TW1).
- Nguồn nước được sử dụng đưa vào khu chăn nuôi đã được xử lý và
thẩm định sạch sẽ.
7
* Công tác thú y: luôn được chú trọng và thực hiện rất nghiêm ngặt, ở mỗi đầu
1.4.1. Cơ sở khoa học.
1.4.1.1. Đặc điểm sinh trưởng và phát triển của lợn con bú sữa.
* Sau sơ sinh lợn con tăng trọng nhanh, sinh trưởng với tốc độ cao. Qua
nghiên cứu thí nghiệm và thực tế sản xuất, người ta nhận thấy rằng, so với khối
lượng sơ sinh thì sau 10 ngày tuổi, khối lượng lợn con tăng gấp 2 lần, sau 20
ngày tuổi tăng gấp 4 – 5 lần, sau 30 ngày tuổi tăng gấp 6 lần, 40 ngày tuổi tăng
gấp 7 – 8 lần và sau 60 ngày tuổi tăng 12 – 14 lần. So với các gia súc khác, trong
giai đoạn này, tốc độ sinh trưởng của lợn con nhanh hơn.
* Tốc độ phát triển nhanh nhất là 21 ngày đầu, sau 21 ngày tốc độ giảm
xuống. Sự giảm này có nguyên nhân chủ yếu là do lượng sữa mẹ sau 3 tuần
giảm xuống rõ rệt. Ngược lại, để tăng 1kg khối lượng cơ thể, lợn con cần rất
nhiều năng lượng, nghĩa là tiêu tốn thức ăn lợn trưởng thành.
1.4.1.2. Đặc điểm của bệnh lợn con phân trắng.
* Nguyên nhân gây bệnh phân trắng ở lợn con:
Do đặc điểm về quá trình phát triển của lợn con trong giai đoạn bú sữa
mẹ, các hệ cơ quan, hệ miễn dịch phát triển chưa hoàn thiện nên lợn con có thể
mắc nhiều thứ bệnh, đặc biệt là bệnh phân trắng lợn con.
Trong các loại vi khuẩn đường ruột, loài E.coli là loài phổ biến nhất.
E.coli xuất hiện và sống trong ruột của động vật chỉ vài giờ sau khi sinh. Khi
điều kiện nuôi dưỡng chăm sóc kém, sức đề kháng của con vật bị giảm thì E.coli
mới trở nên cường độc và có khả năng gây bệnh. Chúng sản sinh ra độc tố
(Enterotoxin) phá huỷ tổ chức thành ruột làm thay đổi cân bằng trao đổi nước,
điện giải. Nước không được hấp thu từ ruột vào mà bị rút từ cơ thể tập trung vào
ruột dẫn đến gây bệnh tiêu chảy.
9
Những nguyên nhân khác làm tăng mức độ nhiễm E.coli và vệ sinh
chuồng trại kém, bầu vú lợn mẹ bị nhiễm khuẩn, thức ăn nước uống không hợp
vệ sinh, E.coli xâm nhập theo đường miệng vào cơ thể. Ngoài ra, lợn con dưới
01 tháng tuổi dịch vị thiếu HCl tù do cũng là nguyên nhân làm tăng khả năng
nhiễm khuẩn và nhiễm bệnh đường tiêu hoá. Lợn con không được bú sữa đầu
bệnh lớn, đặc biệt là gia súc mắc bệnh. Chúng cũng tồn tại trong đất, nước, chất
thải và chất độn chuồng. Bệnh phân trắng lợn con là một loại bệnh có thể phát
triển quanh năm, nhiều nhất là cuối vụ đông xuân và cuối xuân sang hè, sau
nhiều trận mưa, khí hậu thay đổi đột ngột, tỷ lệ mắc bệnh có thể lên tới 100%, tỷ
lệ chết có thể tới 30-40%.
Thời gian nào độ Èm càng cao, bệnh phát triển càng nhiều. Tỷ lệ mắc
bệnh ở vùng trung du và vùng núi Ýt hơn, thời gian mắc bệnh cũng ngắn hơn
đồng bằng. Nền chuồng bằng đất là sân chơi rộng, hạn chế sự phát triển của
bệnh. Đất đồi núi (mà lợn con gặm ăn được) là điều kiện ngăn ngừa bệnh vì đất
có nhiều yếu tố khoáng vi lượng.
Về đường truyền bệnh và quá trình sinh bệnh, nhiều tác giả nhất trí cho
rằng: Đường truyền bệnh phân trắng lợn con chủ yếu là qua đường ăn uống. Khi
lợn nhiễm bệnh, E.coli phát triển nhanh trong đường ruột, chúng huỷ hoại thành
ruột và giải phóng ra độc tố, độc tố này xâm nhập vào dòng Lympho làm cho máu
bị nhiễm độc và con vật chết. Ngoài ra, lợn con có thể nhiễm E.coli qua bào thai.
Trong các cơ sở chăn nuôi, E.coli lan truyền bằng đường cơ học do chuột,
chó, mèo, côn trùng hoặc do người chăm sóc, dụng cụ chăn nuôi bị nhiễm E.coli
từ nơi này sang nơi khác.
Quá trình sinh bệnh có liên quan đến đặc điểm sinh lý của cơ thể lợn con.
Ở lợn con các hệ cơ quan, hệ miễn dịch chưa hoàn thiện, đó là các yếu tố tạo
điều kiện cho vi khuẩn xâm nhập gây bệnh.
Sau khi xâm nhập vào cơ thể qua đường tiêu hoá hoặc bào thai, vi khuẩn
chui vào niêm mạc ruột, sản sinh và phát triển trong các tế bào biểu mô ruột, gây
viêm thủng các tế bào, ngăn cản sự hấp thụ sữa khi lợn con bú vào. Nếu cơ thể
11
yếu, vi khuẩn xâm nhập vào các hạch, sau đó vào máu và tiết ra độc tố làm cơ
thể nhiễm độc dẫn đến trạng thái hôn mê rồi chết.
Tuy nhiên, đối với lợn con khoẻ, vi khuẩn E.coli chỉ cư trú ở ruột già và
phần cuối ruột non với số lượng Ýt. Phần đầu và giữa ruột non gần nh không có.
Khi cơ thể lợn con suy yếu, vi khuẩn E.coli phát triển mạnh lên về số lượng và
Lượng sắt phù hợp phụ thuộc vào tuổi cai sữa của lợn. Nếu lợn cai sữa lúc
3 tuần tuổi thì 100mg sắt là đủ cho 1 mũi tiêm, nếu lợn cai sữa sau 3 tuần tuổi
thì cần tới 150 – 200mg Fe. Để hạn chế bội nhiễm đường ruột do ăn uống cần
tập cho lợn ăn từ 5 – 7 ngày tuổi, cho ăn Ýt một và chia làm nhiều lần.
- Điều trị:
Lợn con bị bệnh có thể chết do: Loạn khuẩn đường ruột; nhiễm độc tố và
mất nước, chất điện giải.
Để điều trị có hiệu quả, ta phải khắc phục được các nguyên nhân trên
bằng cách sử dụng thuốc nhằm: diệt vi khuẩn gây bệnh, hạn chế sự mất nước và
chất điện giải.
Thực tế có rất nhiều thuốc điều trị bệnh phân trắng lợn con, trong đó có thuốc
Genta-Costrim và Colistin 1200. Ngoài ra, có thể dùng thêm chất điện giải, đường
glucose (cho uống). Đối với những đàn bị nặng phải cách ly với mẹ vào những
khoảng thời gian nhất định để cho lợn con thải hết lượng vi khuẩn trong ruột ra.
Thành phần của Genta-Costrim 10g/gói:
Gentamycin sulfate 500mg
Sulfadimidin sudium 1000mg
Trimethỏpim 200mg
Axit nicotinic 200mg
Gentamicin là 1 kháng sinh có tác dụng rộng và mạnh với hầu hết vi
khuẩn Gram (+) và (-).
Khi uống Gentamicin hầu nh không được hấp thụ qua niêm mạc đường
tiêu hoá, tác dụng mạnh tại chỗ trong đường ruột với các vi khuẩn gây bệnh
viêm ruột, ỉa chảy, phân trắng,
Hỗn hợp Genta-Costrim làm tác dụng mạnh và tác dụng hiệp đồng giữa các
thành phần và hướng tác dụng mạnh nhất là các bệnh viêm nhiễm đường tiêu hoá.
Liều: 1g/10kg khối lượng
Dùng liên tục 3 – 5 ngày
13
Trong 100g Colistin 1200 chứa:
chế phẩm sinh học bổ sung cho lợn, thấy lợn vừa có khả năng phòng bệnh
đường tiêu hoá, vừa có khả năng chống rối loạn sinh trưởng ở gia sóc non.
14
Theo Phạm Sỹ Lăng và Phan Định Lân (1995) [7], bệnh phân trắng lợn
con chủ yếu do E.coli và một số vi khuẩn khác thường xuyên xuất hiện vào
những ngày đầu sau khi sinh và suốt thời gian bú sữa mẹ.
Theo Nguyễn Như Nho (1999) [9], thì trên heo con sơ sinh khả năng tiết
axit HCl là rất Ýt, chỉ đủ để hoạt hoá men pepsinogen thành pepsin (men tiêu
hoá chất đạm, lượng axit HCl tù do quá Ýt không đủ sức làm tăng độ toan của
dạ dày, do độ toan thấp, vi khuẩn bất lợi qua đường miệng có điều kiện sống sót
ở dạ dày vào ruột non phát triển mạnh gây tiêu chảy.
Vũ Văn Ngữ (1977) [10], trong bài: “Tìm hiểu thêm về nguyên nhân ỉa
phân trắng ở lợn con và đánh giá tác dụng của 2 loại thuốc vi sinh vật sống
Sucolac trong điều trị bệnh” cho rằng: Bệnh lợn con ỉa phân trắng là do vi khuẩn
E.coli và chữa bằng cách cho uống vi sinh vật sống Sucolac có hiệu quả tốt vừa
điều chỉnh hệ vi sinh vật đường ruột vừa cung cấp một số men tiêu hoá.
Theo Từ Quang Hiển và Phan Đình Thắm (1995) [4], đối với lợn con
dưới 01 tháng tuổi trong dịch vị có phân tiết HCl tù do rất Ýt nên vi sinh vật có
điều kiện phát triển, dễ gây bệnh ở đường tiêu hoá.
Theo Trịnh Văn Thịnh (1995) [12] khẳng định: Bệnh phân trắng ở lợn con
là một hội chứng hoặc một trạng thái lâm sàng đa dạng, đặc biệt làm viêm dạ
dày, viêm ruột và gây sút nhanh. Tác nhân gây bệnh chủ yếu là E.coli, nhiều loại
Salmonella (S.cholerae, S.typhi suis ) và đóng vai trò phụ là: Proteus,
Streptococus. Bệnh xuất hiện nhiều vào những ngày đầu sau khi mới sinh và
suốt trong thời gian bú sữa. Ở nước ta bệnh có thể phát triển quanh năm, nhưng
nhiều nhất là cuối đông sang xuân, cuối xuân sang hè. Sau những trận mưa to
gió lớn, khí hậu thay đổi đột ngột, tỷ lệ mắc bệnh đến 100%, tỷ lệ chết 30 –
45%.
1.4.2.2. Tình hình nghiên cứu trên thế giới
Bệnh lợn con phân trắng xảy ra ở nhiều nước trên thế giới. Do vậy, vấn đề
- Quy trình nuôi dưỡng lợn nái.
- Quy trình nuôi dưỡng lợn con theo mẹ.
* Điều tra tình hình nhiễm bệnh lợn con phân trắng tại công ty CP Lợn
giống Dân Quyền huyện Triệu Sơn - tỉnh Thanh Hoá.
* Sử dụng thuốc Gentacostrim và Colistin 1200 trong điều trị bệnh.
2.2.2. Chỉ tiêu theo dõi
- Tỷ lệ lợn con mắc bệnh phân trắng theo đàn và theo cá thể.
- Tỷ lệ lợn con theo mẹ mắc bệnh phân trắng theo các tháng trong năm
(Thống kê số lợn con theo mẹ mắc bệnh trong từng tháng)
- Tỷ lệ lợn con theo mẹ mắc bệnh phân trắng theo lứa tuổi
- Tỷ lệ lợn chết do mắc bệnh phân trắng (Ghi lại tất cả số lợn con từ sơ
sinh đến 21 ngày tuổi bị chết do mắc bệnh lợn con phân trắng).
- Đánh giá hiệu quả điều trị bệnh phân trắng ở lợn của 2 loại thuốc Genta
Costrim và Colistin 1200.
17
Nguyên tắc bố trí thí nghiệm: Đảm bảo đồng đều về giống, loại lợn, lứa tuổi.
2.3. PHƯƠNG PHÁP XỬ LÝ SỐ LIỆU.
Số liệu thu thập được xử lý theo phương pháp xử lý số liệu của Nguyễn
văn Thiện (1997) [13].
18
+ Tû lÖ m¾c bÖnh (%) = x 100
Tæng sè con m¾c bÖnh
Tæng sè con theo dâi
+ Tû lÖ chÕt (%) = x 100
Tæng sè con chÕt
Tæng sè con theo dâi
+ Tû lÖ khái (%) = x 100
Sè con ®iÒu trÞ khái
Sè con ®iÒu trÞ
+ Tû lÖ t¸i ph¸t (%) = x 100
Thành phần dinh dưỡng C12 C14 Đậm đặc 2000
Đạm tối thiểu % 37 19 43
Sơ tối đa % 8 5 6
Độ Èm tối đa % 13 13 13
Năng lượng trao đổi (Kcal/kg) 2400 3300 2800
Colistin tối đa (mg/kg) 13 1200 2800
Ca (tối thiếu – tối đa) % 3,3 – 7,3 0,7 – 1,4 1,6 -3,6
P tối thiểu 1,3 0,5 1,1
NaCl tối thiếu – tối đa % 1,8 – 3,4 0,3 – 0,8 1 - 2
3.1.2. Công tác thú y
* Về công tác phòng bệnh
Dịch bệnh là một trong những nguyên nhân quan trọng trong chăn nuôi,
làm giảm hiệu quả kinh tế, lợn bị mắc bệnh sẽ ảnh hưởng tới quá trình sinh
trưởng, phát triển, hiệu quả sử dụng thức ăn, khả năng sinh sản, Do vậy, trong
chăn nuôi cần đặc biệt chó ý đến công tác quản lý phòng bệnh tốt là tiền đề cho
một đàn lợn khoẻ mạnh.
Công ty Lợn giống Dân Quyền thực hiện công tác thú y thường xuyên thể hiện:
+ Cổng chuồng và các đầu mỗi dãy chuồng đều có các hố vôi, khách lạ
đến phải đi ủng của công ty mới được vào, công nhân phải thay quần áo lao
động và đi ủng mới được vào nơi làm việc.
Trong suốt thời gian làm việc tại công ty, tôi đã tham gia trực tiếp cùng
cán bộ, đội ngũ công nhân của công ty thực hiện đúng công tác phòng bệnh.
- Hàng ngày làm vệ sinh chuồng trại, tắm rửa cho đàn lợn.
- Tham gia vệ sinh khu vực chuồng trại, tiêm phòng cho đàn lợn theo quy
trình sản xuất.
- Định kỳ phun độc khử trùng trong và ngoài chuồng 2 lần/tuần bằng Iotde 10%.
+ Đối với đàn lợn con:
20
3 – 5 ngày tiêm phòng Fe – dextran 10% và uống Byecoc mục đích phòng
thiếu máu cho lợn con, phòng bệnh phân trắng lợn con, kích thích tăng trọng
Công tác điều trị bệnh cho đàn lợn trong công ty luôn được cán bộ thú y,
công nhân đặc biệt quan tâm phòng và điều trị bệnh một cách tích cực và
nghiêm ngặt mỗi khi có bệnh xảy ra. Thường xuyên theo dõi tình hình của đàn
gia sóc gia cầm để phát hiện những con bị bệnh và kịp thời đưa ra phác đồ điều
trị tránh lây lan sang cả đàn. Trong thời gian thực tập tại công ty tôi tham gia
công tác điều trị các bệnh như:
+ Bệnh suyễn lợn:
Nguyên nhân: Do vi khuẩn Mycoplasma là tác nhân chính và kết hợp với
vi khuẩn Pasterella mulltocida, Streptococcus và Staphylococcus Điều trị:
Enroseptyl 1ml/10kg khối lượng cơ thể (tiêm bắp)
Triệu chứng: Triệu chứng điển hình là ho vào buổi sáng sớm và lúc chiều
tối, lúc đầu ho khan, tần số ho Ýt, sau tăng lên từng cơn và ho kéo dài, viêm kết
mạc mắt có rử, thân nhiệt tăng, thở khó, thở thể bụng.
Điều trị: Dùng thuốc Tyloxin liều 10ml/lợn lớn (lợn nội), liều 15ml/lợn
lớn (lợn ngoại), lợn choai liều 5ml/con, tất cả tiêm bắp.
Thời gian điều trị: 3 – 5 ngày
+ Bệnh tụ huyết trùng:
Triệu chứng: Lợn giảm ăn, thân nhiệt sốt cao, gương mũi khô hay uống
nước, con vật khó thở, trên vùng da mỏng xuất hiện xuất huyết hoặc tím bầm,
lúc đầu táo sau đi tháo.
Điều trị: Thuốc Penicylin + Genta + Anagin + B1 với cách pha chế gồm 2
triệu Peni + 10ml Genta + 5ml Anagin + 5ml B1, tiêm bắp, 2 lần/con/ngày.
+ Bệnh viêm nội mạc tử cung:
Triệu chứng: Âm hộ cương to, dịch chảy ra nhiều (nhầy) mùi hôi thối, sốt
cao hơn bình thường 1 – 1,5
o
C, lợn mẹ không cho con bú, bụng hóp.
22
Điều trị: Tiến hành rửa tử cung bằng nước muối 0,5% + nước trầu không
hoà đặc khoảng 1 – 15lit nước/lần. Sau đó tiến hành tiêm Oxytocin hay tiến
lợn con giảm, đồng thời còn do các vi khuẩn đường ruột gây bệnh, trong đó phổ
biến nhất là E.coli và Salmonella.
Triệu chứng: lợn con Ýt bú, lông dựng và nổi gai ốc. Bụng chướng nhẹ, ỉa
nhiều lần trên ngày, phân màu trắng lỏng, mùi tanh khẳm.
Chẩn đoán: qua kiểm tra lâm sàng chúng tôi nghi lợn mắc bệnh ỉa phân trắng
Điều trị: Colistin 1200, Liều: 1g/10kg khối lượng/ ngày
Dùng liên tục 4 – 5 ngày.
Ngoài ra, có thể dùng các loại nước lá chát nh búp ổi, hồng xiêm, sắc lẫy
nước cho lợn uống.
Hé lý:- Giữ Êm và khô chuồng trại, tránh gió lùa.
- Hạn chế cho lợn bệnh bú mẹ trong lúc bị bệnh.
- Bổ sung đủ nước, điện giải cho những con mắc bệnh nặng
- Ổn định khẩu phần ăn của lợn mẹ, tránh thay đổi đột ngột. Bổ sung thêm
men tiêu hoá và giảm lượng thức ăn.
+ Chữa ghẻ
Nguyên nhân: Do cái ghẻ Sarcpotes scabei, là loại côn trùng hình nhện ký
sinh ở da, đục khoét lớp biểu bì da, gây rụng lông, lở loét ngứa ngáy. Lợn mắc
bệnh ở mọi lứa tuổi. Thường ghẻ bắt đầu từ tai, đầu mắt sau đó lan xuống hai
bên sườn, đùi, háng… trên da xuất hiện các mụn ghẻ màu đỏ sau đó bị tróc ra
thành các vảy màu nâu hay xám. Con vật gầy dần, rụng lông bệnh có thể gây
chết ở lợn con.
Truyền bệnh: Lây lan chủ yếu ở lợn bệnh sang lợn khỏe. Ngoài ra chuồng
trại có dính cái ghẻ (cái ghẻ sống ở ngoài cơ thể Ýt ngày).
Điều trị: Dùng thuốc Vinamectin đặc trị nội ngoại ký sinh trùng, liều
lượng 20ml/15kg P.
* Công tác khác
24
Ngoài công việc chăm sóc nuôi dưỡng và điều trị bệnh, tôi còn tham gia
một số công việc khác nh: Trực lợn đẻ và đỡ lợn đẻ,Thiến lợn đực, tẩy giun đũa
cho lợn,. Tiêm Dextran-Fe cho lợn con ở thời điểm 3 ngày tuổi và 10 ngày tuổi
3 Tẩy giun đũa 20 An toàn 100
4 Chữa ghẻ 8 8 100
5 Tiêm Dextran-Fe cho lợn con 120 An toàn 100
3.2. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.2.1. Kết quả điều tra tỷ lệ lợn mắc bệnh phân trắng theo đàn và cá thể
Bảng 3.3. Tỷ lệ lợn mắc bệnh phân trắng theo đàn và cá thể
25