công trình nghiên cứu khoa học sinh viên đề tài khó khăn của trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt trước khi hòa nhập cộng đồng - Pdf 26

1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
BỘ MÔN CÔNG TÁC XÃ HỘI

CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU KHOA HỌC SINH VIÊN
CẤP TRƯỜNG NĂM 2011
TÊN ĐỀ TÀI
KHÓ KHĂN CỦA TRẺ EM CÓ HOÀN CẢNH
ĐẶC BIỆT TRƯỚC KHI HÒA NHẬP CỘNG ĐỒNG
(Điển cứu tại nhà tình thương Diệu Giác: 6/10, Đường Trần Não,
Phường Bình An, Quận 2, Tp. Hồ Chí Minh)
Sinh viên thực hiện:
Chủ nhiệm: Đinh Văn Mãi Lớp K3 CTXH, Khóa học: 2009 – 2013
Thành viên: Bùi Thị Anh Lớp K3 CTXH, Khóa học: 2009 – 2013
Nguyễn Thị Trường Giang Lớp K3 CTXH, Khóa học: 2009 – 2013
Nguyễn Thị Thanh Lớp K3 CTXH, Khóa học: 2009 – 2013
Lưu Thị Thu Lớp K3 CTXH, Khóa học: 2009 – 2013
Người hướng dẫn: Thạc sĩ Nguyễn Thị Thanh Tùng – Bộ môn Công tác xã hội
TP. HỒ CHÍ MINH THÁNG 3 NĂM 2012
MỤC LỤC
2
TÓM TẮT ĐỀ TÀI 01
PHẦN MỞ ĐẦU 03
1. Lý do chọn đề tài 03
2. Tổng quan tình hình nghiên cứu 05
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 08
3.1. Mục đích nghiên cứu 08
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu 08
4. Ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiễn 09
4.1. Ý nghĩa lý luận 09

3
2.2.3. Tình hình trẻ em mồ côi tại Tp. Hồ Chí Minh 32
2.3. Tổng quan về nhà tình thương Diệu Giác 33
CHƯƠNG 3: KHÓ KHĂN CỦA TRẺ EM CÓ HÒAN CẢNH ĐẶC
BIỆT TRƯỚC KHI HÒA NHẬP CỘNG ĐỒNG

35
3.1. Khó khăn của trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt trước khi hòa nhập
cộng đồng 35
3.1.1. Trình độ học vấn thấp 35
3.1.2. Thiếu kĩ năng sống 37
3.1.3. Tâm lý, tình cảm 39
3.2. Nguyên nhân dẫn đến những khó khăn của trẻ em có hoàn cảnh
đặc biệt trước khi hòa nhập cộng đồng 40
3.2.1. Nguyên nhân khách quan 40
3.2.2. Nguyên nhân chủ quan 42
3.3. Mong muốn của trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt 45
3.3.1. Mong muốn của trẻ đối với nhà tình thương 45
3.3.2. Mong muốn của trẻ đối với cộng đồng 46
PHẦN KẾT LUẬN – KIẾN NGHỊ 48
1. Kết luận 48
2. Kiến nghị 49
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
4
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
1. CHXHCNVN Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
2. CLB Câu lạc bộ
3. ĐH Đại học
4. GDP Thu nhập bình quân đầu người

ấm, khám chữa bệnh Nhiều tổ chức tôn giáo cũng thành lập các cô nhi viện và nhận
nuôi các trẻ mồ côi. Tuy nhiên những trung tâm này chủ yếu mới chỉ đáp ứng được đầy
đủ vật chất cho các em như về chỗ ăn, chỗ ngủ, chỗ sinh hoạt…còn hỗ trợ, cung cấp kỹ
năng để giúp các em sau khi ra khỏi trung tâm có thể hòa nhập tốt với cộng đồng thì
không được chú trọng nhiều, điều này dẫn tới những khó khăn trong cuộc sống sau khi
rời khỏi mái ấm, trung tâm của các em. Nhóm nghiên cứu đã tiến hành điển cứu tại nhà
tình thương Diệu Giác 6/10, Đường Trần Não, Phường Bình An, Quận 2, Tp. Hồ Chí
Minh và nhận thấy vấn đề này hiện vẫn còn tồn tại. Hiện nay, số lượng trẻ thiếu may mắn
đến với nhà tình thương chùa Diệu Giác là 166 cháu, nhỏ nhất là 01 tháng tuổi, lớn nhất
là 16 tuổi. Có 53 nam và 63 nữ. Tất cả các cháu đều được tới trường học, trừ các cháu sơ
sinh đến 4 tuổi. Tổng số lượng trẻ đang theo học các trường là 86 cháu. Trong đó, trẻ học
cấp I là 47 cháu ,trẻ học cấp II là 28 cháu,trẻ học cấp III là 11 cháu. Tổng số trẻ chưa đến
tuổi đi học là 24 cháu.
Thông qua phương pháp nghiên cứu định tính, chúng tôi muốn tìm hiểu những
khó khăn của trẻ trước khi hòa nhập với cộng đồng và nguyên nhân dẫn đến khó khăn đó.
Từ đó, nhóm sẽ đưa ra các giải pháp và kiến nghị nhằm giải quyết những khó khăn để các
trẻ hòa nhập tốt với cộng đồng.
Sau quá trình nghiên cứu, chúng tôi thu được kết quả: khó khăn của trẻ trước khi
hòa nhập cộng đồng là thiếu tình thương gia đình, tâm lý mặc cảm, thiếu kĩ năng sống,
trình độ học vấn thấp. Nguyên nhân là do ở trong nhà tình thương, trẻ được nhà tình
thương đáp ứng đầy đủ điều kiện vật chất cho trẻ học tập vui chơi, vì thế đã tạo cho trẻ
tâm lý ỷ lại. Mặt khác, là do nhà tình thương thiếu đội ngũ nhân lực. Nhân sự trong nhà
tình tương là các Ni Cô và bảm mẫu. Mỗi bảo mẫu trong nhà tình thương chăm sóc 10 trẻ
trong đó có 1-2 trẻ nhỏ còn lại là trẻ lớn. Số bảo mẫu này đến với nhà tình thương chủ
yếu là bằng tình cảm của mình dành cho trẻ mồ côi chứ không được qua trường lớp đào
tạo chuyên môn nào. Bên cạnh đó, xã hội luôn có thái độ xem thường trẻ nên dẫn đến tâm
lý của trẻ ngày càng mặc cảm. Trẻ sống thiếu tình thương yêu, giáo dục của gia đình nên
tâm lý trẻ mặc cảm tự ti. Ở trong nhà tình thương, trẻ rất năng động nhưng khi ra bên
7
ngoài, trẻ sống một cách khép kín, ít giao tiếp với mọi người xung quanh. Chính tâm lý

những hậu quả nghiêm trọng cho xã hội, trong đó phải kể đến sự phân hóa giàu nghèo, di
dân từ nông thôn lên thành thị ngày càng nhiều kéo theo vấn đề người già và trẻ em có
hoàn cảnh khó khăn, ô nhiễm môi trường, tệ nạn xã hội
Hiện nay, trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt là một trong những vấn đề mà xã hội cần
phải quan tâm đúng mức. Chúng ta không còn quá xa lạ đối với những hình ảnh trẻ em
đường phố bán kẹo cao su, bán vé số, đánh giày, ăn xin, lượm ve chai Qúa trình đô thị
hóa diễn ra mạnh mẽ tạo điều kiện cho các luồng di dân từ nông thôn lên thành thị kiếm
sống trong đó có trẻ em. Tình trạng trẻ em lang thang ngày càng nhiều ở Hà Nội và Tp.
Hồ Chí Minh. Do đó, các em dễ trở thành nạn nhân của các hình thức bóc lột như bóc lột
sức lao động, xâm hại tình dục, vướng vào các tệ nạn xã hội Trước thực trạng này, nhiều
tổ chức xã hội trong và ngoài nước đã có những dự án hỗ trợ các em và đạt được nhiều
kết quả khả quan. Các tổ chức xã hội, mái ấm, nhà mở trong việc chăm sóc các trẻ có
hoàn cảnh đặc biệt thường tổ chức các hoạt động nhằm mục đích giúp các em hòa nhập
với cuộc sống. Trong các cơ sở xã hội đó, nhà tình thương Diệu Giác không phải trường
hợp ngoại lệ. Ngoài việc tạo điều kiện cho các em đến trường để học kiến thức, nhà tình
thương còn tạo ra các cơ sở dạy nghề như gỗ, may, thêu; tập huấn các kĩ năng sống, học
tiếng anh ở Trường Quốc Tế để giúp các em hòa nhập cộng đồng và đạt được những
thành công nhất định. Tuy nhiên, những khó khăn nào tác động đến trẻ trước khi hòa
nhập cộng đồng? Nguyên nhân dẫn đến những khó khăn đó xuất phát từ đâu?
Với những lý do trên, chúng tôi chọn đề tài “ Khó khăn của trẻ em có hoàn cảnh
đặc biệt trước khi hòa nhập cộng đồng” (Điển cứu tại nhà tình thương Diệu Giác: 6/10,
Đường Trần Não, Phường Bình An, Quận 2, TP. Hồ Chí Minh) để làm nghiên cứu.
Thông qua nghiên cứu này, nhóm mong muốn đưa ra một số khuyến nghị và giải pháp
nhằm xây dựng một mô hình giúp trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt hòa nhập tốt hơn với
cộng đồng.
9
2. Tổng quan tình hình nghiên cứu
Trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt là một đối tượng nhận được nhiều sự quan tâm của
xã hội. Trong thời gian qua, đã có rất nhiều công trình, đề tài, bài báo trên nhiều lĩnh vực
khác nhau hướng đến đối tượng trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, đặc biệt là lĩnh vực khoa

nhất nước là Hà Nội và Hồ Chí Minh. Qua bài viết, tác giả đã cho chúng ta thấy được
tình hình chung của trẻ đường phố, phân tích nguyên nhân và làm rõ mối quan hệ qua lại
giữa nguyên nhân và tình trạng của trẻ đường phố. Đề tài đã giúp chúng tôi có được cái
nhìn tổng quan về tình hình trẻ đường phố ở Hà Nội và Tp. Hồ Chí Minh. Đồng thời, đề
tài đã cung cấp khá cụ thể các định nghĩa về trẻ đường phố của các tổ chức quốc tế.
Nghiên cứu “Chăm sóc trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn dựa vào cộng đồng
– những cơ sở xã hội và thách thức” của Nguyễn Hồng Thái và Phạm Đỗ Nhật Minh,
công trình đã góp phần tìm hiểu những cơ sở xã hội và thách thức của việc chăm sóc trẻ
em có hoàn cảnh đặc biệt dựa vào cộng đồng. Đề tài giúp chúng tôi hiểu rõ hơn những
khó khăn, thách thức mà các cơ sở xã hội phải đối mặt trong quá trình chăm sóc trẻ có
hoàn cảnh đặc biệt dựa vào nguồn lực từ cộng đồng.
11
“Nghiên cứu về trẻ em đường phố ở TP. Hồ Chí Minh” NXB chính trị Quốc Gia
Hà Nội 2004, công trình đã khảo sát và phân loại trẻ em đường phố, hoàn cảnh sống của
trẻ em đường phố…Đề tài đã giúp chúng tôi biết được tình hình trẻ đường phố ở Tp. Hồ
Chí Minh. Thông qua đề tài, chúng tôi hiểu rõ hơn về hoàn cảnh sống và những nguy cơ
mà trẻ đường phố phải đối mặt trong cuộc sống của trẻ. Tuy nhiên, đề tài chưa tìm hiểu
mong muốn của trẻ đối với cộng đồng xã hội. Vì vậy, đề tài chưa đưa ra được những giải
pháp hỗ trợ cho trẻ để khắc phục những khó khăn trong cuộc sống hiện tại.
“ Vai trò của nhân viên xã hội trong việc giúp các trẻ em đường phố tái hòa nhập
cộng đồng” do Sở Lao Động Thương Binh và Xã Hội TP. Hồ Chí Minh thực hiện. Bài
viết cho chúng ta thấy được thực trạng trẻ đường phố tại TP. Hồ Chí Minh và những khó
khăn khi hòa nhập cộng đồng của trẻ đường phố. Từ những khó khăn đó, chúng ta thấy
được vai trò của nhân viên xã hội trong việc giúp các em đường phố hòa nhập cộng đồng.
Bài viết đã hỗ trợ cho chúng tôi trong việc tìm hiểu những khó khăn khi hòa nhập cộng
đồng của trẻ đường phố - một trong những đối tượng thuộc nhóm trẻ em có hoàn cảnh
đặc biệt. Bài viết giúp chúng tôi nhận thấy được vai trò của nhân viên xã hội khi làm việc
với trẻ đường phố. Từ đó, chúng tôi có thể đưa ra những hoạt động phù hợp để hỗ trợ trẻ
đường phố nói riêng và trẻ có hoàn cảnh đặc biệt nói chung trước khi hòa nhập cộng
đồng. Tuy nhiên, đây chỉ là bài viết ngắn, chưa lột tả hết được vai trò của nhân viên xã

cộng đồng.
- Từ đó đưa ra giải pháp và kiến nghị nhằm hỗ trợ trẻ em có hoàn cảnh đặc
biệt trước khi hòa nhập cộng đồng.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Tìm hiểu những khó khăn của trẻ trước khi hòa nhập cộng đồng.
13
- Tìm hiểu các nguyên nhân dẫn đến khó khăn của trẻ trước khi hòa nhập với
cộng đồng.
- Tìm hiểu mong muốn của trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt đối với cơ sở nuôi
dưỡng và cộng đồng – xã hội.
- Đưa ra các giải pháp và kiến nghị nhằm hỗ trợ trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt
trước khi hòa nhập cộng đồng.
4. Ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiễn
4.1. Ý nghĩa lý luận
- Tìm hiểu những khó khăn của trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt trước khi hòa
nhập cộng đồng. Từ đó góp phần làm phong phú hệ thống lý luận, lý thuyết về vấn đề
này.
- Kết quả nghiên cứu có thể làm tư liệu tham khảo thông tin học tập cho các
bạn sinh viên các khóa kế tiếp và những ai quan tâm đến đề tài này.
- Bổ sung những kiến thức cần thiết cho chuyên ngành công tác xã hội với
trẻ em.
4.2. Ý nghĩa thực tiễn
- Qua đề tài này, nhóm chúng tôi mong đóng góp vào việc mô tả những khó
khăn của có hoàn cảnh đặc biệt trước khi hòa nhập cộng đồng, để xã hội có cái nhìn tích
cực hơn về trẻ có hoàn cảnh đặc biệt.
- Thông qua đề tài, chúng tôi hy vọng những nhà hoạt động trong lĩnh vực
công tác xã hội sẽ có những chính sách, chương trình phù hợp để giúp đỡ trẻ em có hoàn
cảnh đặc biệt trước khi ra hòa nhập với cộng đồng.
- Từ những kết quả nghiên cứu trong đề tài, chúng tôi sẽ xác định được mô
hình giáo dục kỹ năng, nghề nghiệp phù hợp để giúp trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt trước

Phần nội dung gồm có ba chương:
- Chương 1: Cơ sở lý luận của đề tài.
- Chương 2: Tổng quan về bối cảnh nghiên cứu.
- Chương 3: Khó khăn của trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt trước khi hòa nhập
cộng đồng.
Khó khăn của trẻ em có hoàn cảnh đặc
biệt trước khi hoà nhập cộng đồng
Kinh tế - xã hội Bản thân trẻ
Trình độ học
vấn thấp
Thiếu kĩ năng sống Khó khăn về tâm lý,
tình cảm
Giải pháp
Cộng đồng – Xã hội Nhà tình thương
Diệu Giác
Bản thân trẻ
Nhà tình thương
Diệu Giác
Mô hình hỗ trợ trẻ có hoàn cảnh đặc biệt
trước khi hòa nhập cộng đồng
16
PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI
1.1. Lý thuyết tiếp cận
1.1.1. Lý thuyết hệ thống sinh thái
Lý thuyết hệ thống chỉ sự tác động mà các tổ chức, các chính sách, các cộng đồng
và các nhóm ảnh hưởng lên cá nhân. Cá nhân được xem như là bị lôi cuốn vào sự tương
tác không dứt với nhiều hệ thống khác nhau trong môi trường. Theo Barker: “Hệ thống là
một sự kết hợp các yếu tố có tính trao đổi, tương tác lẫn nhau và ranh giới dễ nhận biết”.

của môi trường. Đúng ra họ tác động vào môi trường từ đó hình thành những đáp ứng của
người khác, nhóm khác và các thiết chế khác và của môi trường vật chất.
Vì vậy việc đánh giá đúng những vấn đề của trẻ có hoàn cảnh đặc biệt để lên kế
hoạch can thiệp cần xem xét tác động hỗ tương giữa trẻ có hoàn cảnh đặc biệt với môi
trường sống của trẻ để có những nhận định chính xác. Từ đó những nhân viên xã hội có
các biện pháp phù hợp để giúp trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt hòa nhập cộng đồng.
1.1.2. Lý thuyết xã hội hóa
Xã hội hóa là quá trình học tập văn hóa của một người và phong cách sống trong
nền văn hóa đó. Đối với cá nhân, xã hội hóa mang lại những động lực cần thiết cho hoạt
động và tham gia xã hội. Đối với xã hội, xã hội hóa là phương tiện để đạt sự tương tác
văn hóa của xã hội thông qua việc đưa các thành viên cá nhân vào các luật lệ, cách cư xử,
giá trị, động lực của xã hội. Đây là ý tưởng tập hợp của Clausen (1968). Từ nền tảng các
lý thuyết xã hội hóa vốn đã có từ Platon, Montaigne và Roussean, Clausen định nghĩa:
“Xã hội hóa là khiến cho con người có tính xã hội, thích hợp với xã hội”.
Ely Chinoy (1961) xác định xã hội hóa gồm hai chức năng chủ yếu:
Chuẩn bị cho cá nhân những vai trò mà người ấy sẽ thực hiện, cung cấp nội dung
cần thiết về thói quen tín ngưỡng, các giá trị, mẫu thức đúng về sự ứng dụng tình cảm,
cách cảm nhận, các kỹ năng và kiến thức cơ bản.
Truyền thông những nội dung văn hóa từ thế hệ này sang thế hệ khác để duy trì sự
bền vững và tương ứng về văn hóa.
Tự điển American Heritage đã định nghĩa xã hội hóa một cách tổng quát. Xã hội
hóa là “Một quá trình tương tác, nhờ đó một cá nhân đạt được sự nhận biết mình và các
chuẩn tắc, giá trị, cách cư xử và các kỹ năng xã hội thích hợp với vị trí xã hội của mình.
Một hành động hoặc một quá trình hành động tạo tính xã hội”.
19
Xã hội hóa sẽ mang đến cho cá nhân các kỹ năng cần thiết mà xã hôi đòi hỏi, nhờ
các kỹ năng đó có đủ khả năng hòa nhập vào trong xã hội mà chính anh ta đang sống và
làm việc. Qúa trình xã hội hóa có thể đi từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp , từ ít
tới nhiều. Qúa trình xã hội hóa diễn ra ở ba giai đoạn đó là: giai đoạn gia đình, giai đoạn
nhà trường, giai đoạn mà người ta phải thực sự bước vào đời. Đây là ba tác nhân quan

em thì trẻ em là những công dân dưới 16 tuổi. Theo Công ước Quốc Tế: trẻ em là người
dưới 18 tuổi.
Theo định nghĩa sinh học, trẻ em là con người ở giai đoạn phát triển, từ khi còn
trong trứng nước tới tuổi trưởng thành.
Nhìn dưới góc độ xã hội học thì trẻ em là giai đoạn con người đang học cách tiếp
nhận những chuẩn mực của xã hội và đóng vai trò xã hội của mình. Đây là giai đoạn xã
hội hóa mạnh nhất và là giai đoạn đóng vai trò quyết định của việc hình thành nhân cách
của mỗi con người. Trong đề tài, khái niệm trẻ em được hiểu là con người ở giai đoạn
phát triển, từ khi còn trong trứng nước tới tuổi trưởng thành (18 tuổi).
1.2.2. Trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt
Theo quy định tại khoản 1 Điều 3 Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm
2004 thì trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt được hiểu là trẻ em có hoàn cảnh không bình
thường về thể chất hoặc tinh thần, không đủ điều kiện để thực hiện quyền cơ bản và hoà
nhập với gia đình, cộng đồng. Từ định nghĩa này, Điều 40 của Luật bảo vệ, chăm sóc và
giáo dục trẻ em năm 2004 đã quy định: “Trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt bao gồm trẻ em
mồ côi không nơi nương tựa, trẻ em bị bỏ rơi; trẻ em khuyết tật, tàn tật; trẻ em là nạn
nhân của chất độc hoá học; trẻ em nhiễm HIV/AIDS; trẻ em phải làm việc nặng nhọc,
nguy hiểm, tiếp xúc với chất độc hại; trẻ em phải làm việc xa gia đình; trẻ em lang thang;
trẻ em bị xâm hại tình dục; trẻ em nghiện ma tuý; trẻ em vi phạm pháp luật”. Theo đó:
Trẻ em lang thang là trẻ em rời bỏ gia đình, tự kiếm sống, nơi kiếm sống và nơi
cư trú không ổn định; trẻ em cùng với gia đình đi lang thang.
2
Trích: An sinh xã hội và các vấn đề xã hội. Chủ biên: Nguyễn Thị Oanh, 1997, Trang 29
21
Trẻ em mồ côi là trẻ em dưới 16 tuổi mồ côi cả cha lẫn mẹ hoặc bị bỏ rơi, bị mất
nguồn nuôi dưỡng và không còn người thân thích ruột thịt (Ông, bà nội ngoại; bố mẹ
nuôi hợp pháp, anh chị) để nương tựa. Trẻ em mồ côi còn được hiểu bao gồm cả trẻ em
dưới 16 tuổi chỉ mồ côi cha hoặc mẹ nhưng người còn lại (mẹ hoặc cha) mất tích theo
quy định của Bộ luật dân sự hoặc không đủ năng lực, khả năng để nuôi dưỡng (như tàn
tật nặng, đang trong thời gian chấp hành án phạt tù tại trại), không có nguồn nuôi dưỡng

trẻ em bị xâm hại tình dục; trẻ em nghiện ma tuý; trẻ em vi phạm pháp luật”). Trẻ em
lang thang là trẻ em rời bỏ gia đình, tự kiếm sống, nơi kiếm sống và nơi cư trú không ổn
định, hoặc là trẻ em cùng với gia đình đi lang thang (Luật bảo vệ chăm sóc và giáo dục
trẻ em, QH nước CHXHCNVN khóa XI thông qua, kỳ họp lần thứ 5 thông qua ngày 15
tháng 6 năm 2004, trang 2).
UNICEF định nghĩa trẻ em đường phố là những trẻ dưới 18 tuổi dành phần lớn
thời gian của mình trên đường phố. Theo UNICEF, trẻ em đường phố có thể được chia
làm 3 nhóm khác nhau: Trẻ sống trên đường phố, trẻ lao động trên đường phố và trẻ lang
thang sống cùng gia đình trên đường phố. Trẻ sống trên đường phố là những trẻ đã mất
mối liên hệ cùng gia đình và phải sống một mình trên đường phố. Trẻ lao động trên
đường phố là những trẻ dành toàn bộ hoăc một phần thời gian trên đường phố để lao
động kiếm sống cho gia đình hoặc cho bản thân trẻ. Trẻ lang thang sống cùng gia đình
trên đường phố là những trẻ sinh sống cùng gia đình và lang thang kiếm sống trên đường
phố.
Hiện nay có hai khái niệm về trẻ đường phố được đưa ra như sau:
Thứ nhất là trẻ đường phố do chương trình mà các tổ chức phi chính phủ dành cho
trẻ em và thanh niên đường phố đưa ra trong thập niên 1980: “trẻ đường phố là những trẻ
em mà đường phố ( nhà hoang, đất hoang, góc phố…) chứ không phải gia đình đã trở
23
thành nhà thật sự của chúng, một cảnh ngộ trong đó không có sự bảo vệ, chăm sóc hay
hướng dẫn của người lớn”.
3
Thứ hai là sau đó UNICEF đề nghị phân biệt “trẻ em trên đường phố” (children on
the street) với “trẻ em cuả đường phố” ( children of the street) dựa trên kinh nghiệm của
Châu Mỹ La Tinh. Trẻ em trên đường phố là những trẻ em mà nến móng nuôi dưỡng
chúng trong gia đình ngày càng suy yếu đi khiến chúng phải chia sẻ trách nhiệm để gia
đình sống bằng cách làm lụng trên các đường phố và những nơi hộp họp tại đô thị. Đối
với các em này, nhà không còn là trung tâm vui chơi, trao đổi và sinh hoạt hàng ngày.
Tuy nhiên, dù đường phố trở nên hoạt động ban ngày của chúng, hầu như các em này đều
trở về nhà vào buổi tối. Dù rằng các quan hệ gia đình của chúng có thể đang xấu dần đi,

5
Trẻ em mồ côi còn được hiểu bao gồm cả trẻ em
dưới 16 tuổi chỉ mồ côi cha hoặc mẹ nhưng người còn lại (mẹ hoặc cha) mất tích theo
quy định của Bộ luật dân sự hoặc không đủ năng lực, khả năng để nuôi dưỡng (như tàn
tật nặng, đang trong thời gian chấp hành án phạt tù tại trại), không có nguồn nuôi dưỡng
và không có người thân thích để nương tựa.
6
Trong đề tài, khái niệm trẻ em mồ côi là trẻ dưới 16 tuổi mồ côi cả cha lẫn mẹ
hoặc bị bỏ rơi, bị mất nguồn nuôi dưỡng và không còn người thân thích ruột thịt để
nương tựa. Trẻ em trong nhà tình thương Diệu Giác đều là những trẻ em mồ côi bị gia
đình bỏ rơi trước Chùa Diệu Giác, hoặc cơ quan chính quyền đưa vào nhà tình thương
nhớ nuôi dưỡng, chăm sóc.
1.2.5. Cộng đồng
Khái niệm cộng đồng là một khái niệm được hình thành và phát triển trong quá
trình lịch sử. Fesdinant Tonnies, nhà xã hội học người Đức (1887) đã đưa ra khái niệm
cộng đồng truyền thống và mối quan hệ giữa xã hội và cộng đồng. Theo F.M.Charton
(1989) (Sociology Aconceptual approach, second edition – Allyn anh Bason): cộng đồng
là một thuật ngữ dùng để mô tả một tổ chức xã hội có trình độ cao trong tổ chức và hoạt
động. Nó là một nơi, một thực thể địa lý, giống như một làng, một thành phố, hay một
trung tâm. Một cộng đồng là một tổ chức xã hội có quan tâm đến những như cầu cơ bản
như kinh tế, xã hội, văn hóa, giáo dục, chính trị… của các thành viên của mình…
5
Trích: khoản 1 Điều 3 Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 2004
6
Trích: khoản 1 Điều 3 Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 2004
25
F.H.Fichter khi nói về cộng đồng hoàn chỉnh, cho rằng cộng đồng có 4 yếu tố :
Tương quan cá nhân mật thiết với những người khác, tương quan mặt đối mặt,
tương quan thân mật.
Có sự liên hệ về tình cảm và cảm xúc nơi cá nhân trong những nhiệm vụ và công


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status