MỤC LỤC
TT
1
2
3
4
5
6
7
8
9
1.1
1.1.1
1.1.2
1.1.3
1.2
1.2.1
1.2.2
1.3
Nội dung
Trang
MỞ ĐẦU
6
Lý do chọn đề tài
6
Tổng quan vấn đề nghiên cứu
7
Ý nghĩa của nghiên cứu
9
Đối tượng và khách thể nghiên cứu
1.4 Công tác xã hội, CTXH với TECHCĐB
1.4.1 Công tác xã hội
1.4.2 Công tác xã hội với TECHCĐB
1.5 Hoạt động của NVCTXH trong trợ giúp TECHCĐB
1.5.1
1.5.2
1.5.3
1.5.4
1.6
1.6.1
1.6.2
1.6.3
1.6.4
1.7
Khái niệm hoạt động
Khái niệm NVCTXH
Khái niệm hoạt động của NVCTXH trong trợ giúp TECHCĐB
Các hoạt động cụ thể của NVCTXH trong trợ giúp TECHCĐB
Các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động của NVCTXH trong trợ giúp
TECHCĐB
Nhận thức xã hội về nghề CTXH, vai trò, vị trí NVCTXH trong trợ giúp
TECHCĐB
Trình độ chuyên môn (kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm nghề nghiệp và đào
tạo) của NVCTXH
Chính sách, chế độ đối với NVCTXH
Điều kiện cơ sở vật chất
Đặc điểm địa bàn nghiên cứu
Chương 2
THỰC TRẠNG VỀ TECHCĐB VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA NVCTXH
Tổng
hợp
các
nghiên
cứu
vê
mô
hình
và
hoạt
động
của
NVCTXH
Bảo vệ trẻ em
BVTE trong
trợ
giúp
TECHCĐB
Bảo hiểm y tế
BHYT
2.3 bộ
Thực trạng nghiên cứu, khảo sát về nhu cầu của TECHCĐB
Cán
CBtại Trung
Tưhội
vấn và Dịch vụ truyền thông và Trung tâm CTXH
bảo vệ,
Công tâm
tác xã
CTXH
NH, tác
ĐH
2.4 Thực
nghiênđộc
cứu,
xã
hội
trong
trợ
giúp
TECHCĐB.
Nhà xuất bản
NXB
2.4.1động
Hoạt–động
thambinh
vấn, và
tư vấn
cho trẻ em và gia đình
Lao
Thương
Xã hội
LĐTB&XH
Trẻ
TE
2.4.2em
Biện hộ bảo vệ chính sách
Trẻ
có hoàn
cảnh
2 Kế luận
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
22
34
37
43
43
44
49
52
53
55
56
58
59
60
68
68
70
71
73
75
75
75
77
80
46
Những yếu tố ảnh hưởng tới sự đáp ứng nhu cầu của TECHCĐB
50
Các loại hoạt động của NVCTXH trong trợ giúp TECHCĐB
53
Kết quả hoạt động tham vấn, tư vấn cho trẻ em và gia đình
54
Kết quả hoạt động biện hộ, bảo vệ chính sách
55
Bảng 2.8
Kết quả hoạt động Quản lý ca
Bảng 2.9 Các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động của NVCTXH
trong trợ giúp TECHCĐB
3
57
61
Mô tả ĐTB yếu tố trình độ chuyên môn của NVCTXH
63
Biểu đồ 2.5
Mô tả tỷ lệ giữa các nhóm tuổi của cán bộ
64
4
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài.
Bảo vệ, chăm sóc trẻ em là mối quan tâm hàng đầu của tất cả các quốc gia
trên thế giới, có rất nhiều thông điệp liên quan đến bảo vệ, chăm sóc trẻ em như:
“Trẻ em hôm nay, thế giới ngày mai”; “Hãy dành những gì tốt đẹp nhất cho trẻ em”;
“Trẻ em là trên hết”. Cũng vì mục tiêu bảo vệ, chăm sóc trẻ em mà Công ước quốc
tế về quyền trẻ em của Liên hợp quốc được ban hành vào ngày 2/9/1990. Việt Nam
là nước đầu tiên ở Châu Á và là nước thứ hai trên thế giới đã phê chuẩn Công ước
này vào ngày 20/02/1990. Ngày 16/8/1991, Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ
em có hiệu lực thi hành. Điều này thể hiện sự cam kết mạnh mẽ của nước ta với
cộng đồng quốc tế về thực hiện quyền trẻ em, bảo vệ, chăm sóc trẻ em.
Thực hiện đường lối đổi mới kinh tế, bên cạnh những kết quả thu được từ lĩnh
vực kinh tế, xã hội lại có những hạn chế do cơ chế thị trường gây ra, trong đó có
nhóm trẻ em yếu thế gia tăng, sự tồn tại và phát triển của nhóm trẻ em có hoàn cảnh
đặc biệt. Sự thiếu hiểu biết và thiếu trách nhiệm trong việc chăm sóc con cái của
một số cha mẹ, gia đình; bản thân một số trẻ không chịu được sức ép của môi
nhận là một nghề; chưa có các nhân viên công tác xã hội chuyên nghiệp cũng như
thiếu phương pháp tiếp cận mang tính lý luận và toàn diện để phòng ngừa và có
những dịch vụ can thiệp, hỗ trợ kịp thời, phù hợp.
Xuất phát từ thực tế trên, tôi đã chọn đề tài: “Hoạt động của Nhân viên Công
tác xã hội trong trợ giúp trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt ở Việt Nam hiện nay” làm nội
dung nghiên cứu luận văn cao học của mình.
2. Tổng quan vấn đề nghiên cứu.
Trong những năm qua, có rất nhiều đề tài, công trình nghiên cứu, các bài báo
khoc học, luận văn nghiên cứu về trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt cũng như nhấn
mạnh đến vai trò của ngành CTXH và NVCTXH như:
-
Đề tài: “Điều tra thu thập thông tin ban đầu nhằm xác định đối tượng hưởng
lợi của dự án lao động trẻ em tại 05 tỉnh Việt Nam” của Viện khoa học Lao động xã
hội. Thực hiện năm 2011. Đề tài đã chỉ ra các đối tượng trẻ em có HCĐB, tập trung
vào nhóm trẻ em lang thang, trẻ em lao động trong điều kiện nặng nhọc, độc hại và
6
những thay đổi trong việc hưởng lợi từ dự án lao động trẻ em trong đó có yếu tố
trung gian là hoạt động kết nối của NVCTXH.
-
Đề tài nghiên cứu khoa học: “Tình hình lao động trẻ em – thực trạng và giải
pháp” của Nguyễn Hải Hữu. Thực hiện năm 2010. Đề tài đã đánh giá được tình
hình lao động trẻ em hiện nay, đưa ra được những giải pháp để hạn chế tình trạng
này, đặc biệt nhấn mạnh đến vai trò của CTXH và NVCTXH.
-
nay các dịch vụ chưa đáp ứng được nhu cầu của trẻ, một trong những lý do là trình
độ của NVCTXH còn hạn chế.
-
Đề tài “Giải pháp nhằm hạn chế bạo lực gia đình với phụ nữ và trẻ em”
(2009) của Bùi Thị Xuân Mai: Đề tài đã chỉ ra hiện tượng bạo lực gia đình với phụ
nữ và trẻ em và nhu cầu các biện pháp can thiệp, trong đó có đề cập đến vai trò của
CTXH và NVCTXH trong phòng, chống bạo lực gia đình với phụ nữ và trẻ em.
7
Các đề tài và công trình nghiên cứu trên đã đưa ra cách nhìn chung về tình
hình trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, vai trò của NVCTXH trong trợ giúp TECHCĐB.
Song nhiều vấn đề được đề cập trong các đề tài nghiên cứu trên chưa đánh giá được
kết quả hoạt động của cán bộ làm công tác xã hội đối với trẻ em có hoàn cảnh đặc
biệt. Vì hiện nay, các nhân viên công tác xã hội mang đến một phương pháp khác
biệt cho các hoạt động xã hội, bổ sung cho phương pháp tiếp cận của các nhóm
khác (ví dụ, so với các nhà tâm lý học hoặc những người được đào tạo về các ngành
khoa học xã hội lý thuyết). Công tác xã hội tập trung vào con người trong bối cảnh
môi trường xã hội của họ, làm việc với cả hai mặt của vấn đề, tức là với cả cá nhân
và môi trường xã hội để thúc đẩy sự thay đổi cần thiết. Chính vì vậy, TECHCĐB là
nhóm đối tượng cần có sự hỗ trợ đặc biệt cả về thể chất và tinh thần nên hoạt động
trợ giúp của NVCTXH đối với TECHCĐB là rất quan trọng và cần thiết.
3. Ý nghĩa của nghiên cứu.
3.1. Ý nghĩa lý luận: Đề tài đã hệ thống được lý luận về: trẻ em, trẻ em có
hoàn cảnh đặc biệt, các nhu cầu của TECHCĐB; CTXH, CTXH với trẻ em,
NVCTXH, vai trò của NVCTXH trong trợ giúp TECHCĐB và các hoạt động cơ
bản của NVCTXH trong trợ giúp TECHCĐB.
- Những yếu tố nào ảnh hưởng tới hoạt động của NVCTXH trong trợ giúp
TECHCĐB?
7. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu.
7.1. Mục đích nghiên cứu:
- Đánh giá khái quát hoạt động của NVCTXH và các yếu tố ảnh hưởng đến
hoạt động của NVCTXH tại một số cơ sở xã hội/trung tâm CTXH và nghiên cứu
điểm tại cơ sở của hai tỉnh ở Việt Nam.
7.2. Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Hệ thống hóa các lý luận và khái niệm liên quan đến trẻ em, TECHCĐB,
NVCTXH, hoạt động của NVCTXH...
- Đánh giá thực trạng về hoạt động của NVCTXH và các yếu tố ảnh hưởng
đến hoạt động của NVCTXH.
- Đưa ra những khuyến nghị giải pháp để nâng cao kết quả hoạt động của
NVCTXH trong trợ giúp TECHCĐB.
8. Giả thuyết nghiên cứu.
Hoạt động của NVCTXH trong trợ giúp TECHCĐB là rất đa dạng nhằm đáp
ứng các nhu cầu của trẻ và chịu ảnh hưởng của nhiều tố chủ quan và khác quan.
9. Phương pháp nghiên cứu.
- Phương pháp tổng hợp, phân tích: Tổng hợp các nguồn tư liệu, số liệu liên
quan đến TECHCĐB; các văn bản pháp lý liên quan đến công tác BVCSTE qua các
9
báo cáo hàng năm; văn bản, thông tư, quyết định và số liệu đã công khai trên các
phương tiện thông tin.
- Phương pháp khảo sát bằng bảng hỏi với 120 phiếu hỏi, trong đó 60 phiếu
hỏi cho NVCTXH, 60 phiếu hỏi cho trẻ em hoặc cha, mẹ, người giám hộ cho trẻ
(trong trường hợp trẻ không tự trả lời).
- Phương pháp phỏng vấn sâu: 5 TECHCĐB, 5 NVCTXH
- Phương pháp chuyên gia.
mình và được xã hội tạo điều kiện để hoàn thiện và phát triển cá nhân.
Trong thực hành CTXH với trẻ em, NVCTXH cần hiểu rằng TECHCĐB
thường gặp rất nhiều vấn đề. Trong can thiệp trợ giúp giải quyết vấn đề cho trẻ, nếu
tiếp cận theo phương pháp này NVCTXH cần trả lời câu hỏi: Nhu cầu của thân chủ
xuất phát từ vấn đề này là gì? Sau đó xác lập bảng vấn đề theo thứ tự ưu tiên và
chuyển vần đề thành nhu cầu. Tiếp cận theo nhu cầu trong làm việc trực tiếp với trẻ
sẽ giúp NVCTXH hiểu rằng, với mỗi trẻ khác nhau lại nảy sinh những nhu cầu khác
biệt. Thậm chí, có những em gặp phải vấn đề giống nhau, song nhu cầu của các em
có thể là khác nhau.
Mỗi trẻ em là một cá nhân độc lập, có những cá tính riêng, hoàn cảnh riêng và
nguyên nhân dẫn đến vấn đề là khác nhau. NVCTXH cần lắng nghe để tìm hiểu nhu
cầu của từng em để có những hỗ trợ phù hợp [19, tr. 34]. Tiếp cận theo nhu cầu đỏi
hỏi NVCTXH cần thực hiện tốt kỹ năng lắng nghe tích cực để khám phá những nhu
cầu hợp lý của mỗi cá nhân mà các em chưa được thỏa mãn, ẩn sau những hành
động mà xã hội cho là không hợp lý [15, tr.25]. Ví dụ: Trẻ em mồ côi thường hay cá
tính, quậy phá nhưng thực ra chỉ là vì các em thiếu đi nhu cầu được yêu thương nên
nhiều em tỏ ra quậy phá như vậy để được mọi người quan tâm. Ví dụ như nhóm trẻ
em phải làm việc trong điều kiện nặng nhọc có nhu cầu về an toàn; trẻ em bị xâm
hại tình dục có nhu cầu trợ giúp tâm lý và xử lý khủng hoảng.
Tóm lại, TECHCĐB có rất nhiều nhu cầu và các nhu cầu cần đáp ứng một
cách hợp lý trong từng hoàn cảnh cụ thể.
1.1.2 Tiếp cận dựa trên thuyết hệ thống.
Thuyết hệ thống ra đời năm 1940, do nhà sinh vật học Ludwig Von
Bertalanffy phát hiện. Ông đưa ra quan điểm rằng tất cả các cơ quan đều là các hệ
thống, bao gồm những hệ thống nhỏ hơn và là phần tử của các hệ thống lớn hơn. Ý
tưởng này có ảnh hưởng đến nhiều ngành khoa học, trong đó có cả Công tác xã hội.
Von Bertalanffy [42, tr. 21] đã xác định một vài quy tắc quan trọng trong việc
hiểu thế nào là một hệ thống: 1/ Mọi hệ thống đều nằm trong một hệ thống khác lớn
hơn có ảnh hưởng tới những hệ thống nhỏ nằm trong nó. 2/ Mọi hệ thống luôn bao
gồm những hệ thống con, cho đến đơn vị nhỏ nhất là phần tử. Mỗi hệ thống con có
sách xã hội; hệ thống cung cấp dịch vụ xã hội).
1.1.3 Tiếp cận dựa trên thuyết vai trò.
Vai trò là những khuôn mẫu ứng xử khác nhau do xã hội áp đặt cho mỗi chức
vị của con người trong xã hội đó. Ví dụ bố phải thương con, mẹ phải hiền, chồng
12
phải biết chăm sóc vợ, vợ phải đảm đang, con cái phải nghe lời bố mẹ, học trò phải
chăm chỉ, thầy cô giáo phải nghiêm túc,… [13, tr. 34]
Những vấn đề liên quan tới vai trò như mơ hồ vai trò, mâu thuẫn/xung đột vai
trò hay quá tải với vai trò,… thường có thể xảy ra với cá nhân. Một người có thể có
nhiều vai trò khác nhau, những khuôn mẫu ứng xử do xã hội áp đặt có thể mâu
thuẫn với nhau, tạo ra khó khăn.
NVCTXH cũng có thể đóng nhiều vai trò khác nhau khi triển khai các hoạt
động trợ giúp cho TECHCĐB hay gia đình của trẻ. Những vấn đề này đòi hỏi
NVCTXH cần nắm rõ để có thể giải quyết những khó khăn trong quá trình tác
nghiệp như một NVCTXH chuyên nghiệp. Có lúc NVCTXH đóng vai trò nhà tham
vấn, có lúc đóng vai trò nhà giáo dục, có lúc đóng vai trò người kết nối. Ứng với
mỗi vai trò, NVCTXH lại có những nhiệm vụ chức năng riêng biệt. Không ít trường
hợp họ phải đóng nhiều vai trò cùng một lúc, có nghĩa là có rất nhiều nhiệm vụ
gánh trên vai họ. Vì vậy, NVCTXH cần biết xác định đâu là vai trò chính, hoạt
động chính để thực thi trước mắt.
Đối với trẻ em, NVCTXH cũng cần giúp các em nhận biết được vai trò của
mình trong mỗi tình huống để có hành vi ứng xử phù hợp. Ví dụ khi tới trường học,
với vai trò là học sinh, các em cần tuân thủ kỷ luật lớp học; khi về nhà với vai trò
người con, các em cần nghe lời bố mẹ; trong một nhóm xã hội, có thể đóng vai trò
là trưởng nhóm cần nêu gương. NVCTXH phải cho trẻ thấy được những vai trò
khác nhau, các em có thể đóng tùy theo hoàn cảnh cá nhân và tài nguyên có thể huy
động được. Thông qua việc đóng vai, các em có thể nhận thấy được trách nhiệm của
cơ hội đảm bảo cho sự phát triển và hòa nhập.
Bên cạnh khái niệm này còn có một khái niệm đó là “trẻ em có nguy cơ rơi
vào hoàn cảnh đặc biệt”. Đó là những trẻ em do sống trong môi trường gia đình
hay cộng đồng có một hay nhiều nguy cơ gây tổn hại khiến các em dễ rơi vào hoàn
cảnh đặc biệt. Trẻ em thuộc nhóm có nguy cơ rơi vào hoàn cảnh đặc biệt bao gồm:
Trẻ em bị ngược đãi, bạo lực; trẻ em bị tai nạn thương tích; trẻ em bị buôn bán, bắt
cóc; trẻ em bỏ học (chưa học xong chương trình THCS); trẻ em sống trong gia đình
nghèo; trẻ em sống trong gia đình có vấn đề xã hội (cha mẹ ly hôn, bạo lực gia
đình); trẻ em sống trong gia đình có cha hoặc mẹ hoặc người nuôi dưỡng trực tiếp
chết vì HIV/AIDS;... [20, tr.26]
1.2.2 Nhu cầu của trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt.
Nhu cầu là yếu tố tất yếu, cần thiết để đảm bảo cho sự tồn tại và phát triển của
mỗi cá nhân [33, tr.22]. Nếu nhu cầu được thỏa mãn thì sẽ tạo nên cảm giác thoải
mái và an toàn cho sự phát triển và ngược lại, nếu không được đáp ứng thì sẽ gây
14
căng thẳng và có thể dẫn tới hậu quả nhất định. Theo từ điển tiếng Việt (2002, NXB
Đà Nẵng): “Nhu cầu là điều đòi hỏi của đời sống tự nhiên và xã hội” [27].
Dựa trên cách tiếp cận theo thuyết nhu cầu của Maslow, TECHCĐB có những
nhu cầu như sau:
- Nhu cầu sinh tồn: Là những yếu tố đảm bảo cho sự phát triển về thể lực của
trẻ như: thực phẩm, nước uống, nơi ở, điều kiện vệ sinh sức khỏe, không khí và môi
trường trong sạch, quấn áo, khám chữa bệnh,…Phần lớn, nhu cầu này của
TECHCĐB chưa được đảm bảo thường xuyên và hợp lý.
- Nhu cầu an toàn: Trong bậc thang nhu cầu của Maslow thì đây là nhu cầu
thiết yếu cho sự tồn tại của một con người, tuy nhiên TECHCĐB chưa được đáp
ứng tốt nhất về nhu cầu này. Trẻ em lang thang, trẻ em làm việc trong điều kiện
nặng nhọc và độc hại phải sinh sống trên đường phố, làm việc tại những nơi có
học tập, được khẳng định mình. Thông qua hoạt động giải trí, vui chơi, học tập
TECHCĐB được hòa mình vào xã hội và tự khẳng định mình. TECHCĐB gặp
nhiều vấn đề nên nhu cầu này gần như bị tước bỏ. Do vậy, mặc dù các em không
tham gia hoặc chưa có điều kiện tham gia các hoạt động vui chơi giải trí, học tập thì
NVCTXH vẫn cần phải biết khích lệ và tạo điều kiện để các em tham gia vào các
hoạt động này.
Nhu cầu của TECHCĐB đang bị xâm phạm, chưa được đáp ứng một cách tốt
nhất. Việc đáp ứng các nhu cầu ở trên cũng chính là nền tảng để giúp các em phát
triển. Do đó NVCTXH cần phải thực hiện các hoạt động nghề nghiệp để đảm bảo
nhu cầu và lợi ích tốt nhất cho các em.
TECHCĐB có những cảm xúc, tâm lý rất khác nhau, đòi hỏi NVCTXH cần có
hiểu biết và có những hoạt động can thiệp phù hợp, ví dụ như:
- Trẻ em mồ côi không nơi nương tựa: Do thiếu thốn tình cảm nên phần lớn
các em có nhu cầu về tình thương rất lớn, điều này chi phối nhiều đến hoạt động
tâm lý của trẻ, có nhiều em thường có tâm lý dễ bị kích động đi vào con đường
phạm pháp hoặc quá tự ti, mặc cảm, sợ sệt, rụt rè [19, tr.17]. Sự thiếu hụt về tình
cảm làm cho trí tuệ chậm phát triển. Tuy nhiên, do ý thức được hoàn cảnh nên
nhóm trẻ này rất trân trọng sự giúp đỡ của mọi người, có ý chí và nghị lực vươn lên.
- Trẻ em khuyết tật: Đa số các em thường bi quan, chán nản, tự ti, mặc cảm,
tủi phận, cho mình là người bỏ đi, là gánh nặng của gia đình, người thân, ngại giao
tiếp với mọi người, hay nghi ngờ mọi người xung quanh [19, tr.17]. Tuy nhiên một
số em giàu nghị lực để vươn lên. Nhóm trẻ này có nhu cầu được tôn trọng, được
chấp nhận như người bình thường khác.
- Trẻ em lang thang: Phần lớn các em rất linh hoạt, thích tự do, tính thích nghi
cao, tính tự lập cao, chăm chỉ, quyết đoán; là người có lòng hào hiệp, tinh thần
16
tương trợ bạn bè cùng cảnh , tinh thần kỷ luật rất cao, biết tự tổ chức cuộc sống
của mình. Phần lớn các em chịu đựng được sự mắng chửi, xúc phạm [19, tr.18].
17
Nhận thức về trách nhiệm bảo vệ trẻ em chưa đầy đủ, kiến thức, kỹ năng bảo
vệ trẻ em của gia đình và cộng đồng còn nhiều hạn chế.
Việc ngược đãi, xâm hại, bóc lột đối với trẻ em chưa được cộng đồng chủ
động phát hiện sớm và báo cho các cơ quan chức năng để xử lý, can thiệp kịp thời.
Tình trạng thiếu trách nhiệm của cha mẹ trong việc chăm sóc, giáo dục con
cái hay còn gọi là sự “sao nhãng” còn khá phổ biến ở nước ta.
Thiếu khung pháp lý toàn diện về bảo vệ trẻ em, một số quy định của luật
pháp chưa cụ thể và thiếu tính đồng bộ.
Đội ngũ cán bộ chuyên trách làm việc trong lĩnh vực bảo vệ, chăm sóc trẻ em
còn thiếu về số lượng cần được cung cấp những kiến thức chuyên sâu về CTXH.
Ngân sách cho việc chăm sóc, bảo vệ trẻ em còn hạn chế.
1.3 Quan điểm quốc tế và của Việt Nam về bảo vệ, chăm sóc trẻ em, trong đó
có TECHCĐB.
Trẻ em được xem là nhóm yếu thế trong xã hội bởi các em chưa phát triển
đầy đủ về thể chất lẫn tinh thần, chưa có đủ khả năng để tạo dựng cho mình một
cuộc sống và phụ thuộc vào sự quan tâm chăm sóc của gia đình và xã hội. Chính vì
vậy, trẻ em được thế giới rất quan tâm và bảo vệ. Công ước quốc tế về Quyền trẻ
em ra đời năm 1990 đóng vai trò như văn bản pháp lý quốc tế để các nước thành
viên thực hiện các quyền của trẻ. Có 4 nhóm quyền chính của trẻ em được yêu cầu
đảm bảo: nhóm quyền sinh tồn; nhóm quyền được phát triển; nhóm quyền được bảo
vệ; nhóm quyền tham gia
Việt Nam là nước đầu tiên ở Châu Á và nước thứ 2 trên thế giới tham gia ký
Công ước quốc tế về Quyền trẻ em. Điều này cho thấy sự quan tâm của Đảng và
Nhà nước Việt Nam trong bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em, nhất là TECHCĐB.
Ngay sau khi tham gia phê chuẩn Công ước quốc tế về quyền trẻ em, năm 2004,
Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em được ra đời. Một loạt các Bộ luật, Luật
có liên quan cũng được ban hành và bao gồm những điều khoản liên quan tới bảo
[4, tr.12].
Theo Hiệp hội các nhân viên xã hội chuyên nghiệp của Mỹ cho rằng: “công
tác xã hội là một hoạt động chuyên nghiệp nhằm giúp đỡ các cá nhân, gia đình,
nhóm, cộng đồng phục hồi hay tăng cường năng lực và chức năng xã hội để tạo ra
những điều kiện cần thiết, giúp họ đạt mục tiêu” (National Association of Social
Workers, Standards for Social Service Manpower, new York: NASW, 1983, P 4-5).
Bùi Thị Xuân Mai (2010) đưa ra một khái niệm về CTXH như sau: “Công
tác xã hội là một nghề, một hoạt động chuyên nghiệp nhằm trợ giúp các cá nhân, gia
đình và cộng đồng nâng cao năng lực đáp ứng nhu cầu và tăng cường chức năng xã
hội, đồng thời thúc đẩy môi trường xã hội về chính sách, nguồn lực và dịch vụ
19
nhằm giúp cá nhân, gia đình và cộng đồng giải quyết và phòng ngừa các vấn đề xã
hội góp phần bảo đảm an sinh xã hội”.
Từ những khái niệm trên về CTXH, có thể thấy CTXH có những đặc điểm
như sau:
- CTXH là một nghề, một khoa học. Nghề này thực hiện các chức năng:
chức năng phòng ngừa, can thiệp các vấn đề xã hội, chức năng phục hồi và
chức năng phát triển cho những cá nhân, gia đình và cộng đồng bị suy giảm các
chức năng xã hội.
- Mục đích của CTXH là hướng tới nâng cao năng lực cho các nhóm đối
tượng cá nhân, gia đình và cộng đồng có hoàn cảnh khó khăn; cải thiện môi trường
xã hội để hỗ trợ cá nhân, gia đình và cộng động thực hiện các chức năng, vai trò của
họ có hiệu quả.
- Đối tượng tác động là những cá nhân, gia đình và cộng đồng có vấn đề
xã hội cần sự trợ giúp, đặc biệt là những nhóm người yếu thế như: TECHCĐB,
người cao tuổi, người khuyết tật, người bị nhiễm HIV/AIDS, gia đình và cộng
đồng nghèo,...
- Người thực hiện nghề nghiệp này là người được đào tạo một cách chuyên
1.5. Hoạt động của NVCTXH trong trợ giúp TECHCĐB.
1.5.1. Khái niệm Hoạt động.
Theo quan điểm Triết học, hoạt động là quan hệ biện chứng của chủ thể
và khách thể. Trong quan hệ đó, chủ thể là con người, khách thể là hiện thực
khách quan.
Hoạt động được xem như là mối quan hệ tác động qua lại giữa con người và
con người hay sự vật để tạo ra sản phẩm.
Đặc điểm của hoạt động: Hoạt động bao giờ cũng có đối tượng (tác động tới
ai, cái gì?); có chủ thể (ai thực hiện hoạt động?); có mục đích (hướng tơi điều gì, để
làm gì?).
1.5.2. Khái niệm Nhân viên Công tác xã hội.
Khái niệm: Theo Hiệp hội các nhà công tác xã hội chuyên nghiệp quốc tế IASW định nghĩa: “Nhân viên công tác xã hội là người được đào tạo và trang bị
các kiến thức và kỹ năng trong công tác xã hội, họ có nhiệm vụ: trợ giúp các đối
tượng nâng cao khả năng giải quyết và đối phó với vấn đề trong cuộc sống; tạo cơ
hội để đối tượng tiếp cận được các nguồn lực cần thiết; thúc đẩy sự tương tác giữa
các cá nhân, giữa cá nhân với môi trường, tạo ảnh hưởng tới chính sách xã hội,
các cơ quan, tổ chức vì lợi ích của cá nhân, gia đình, nhóm và cộng đồng” [12].
Như vậy, từ khái niệm NVCTXH có thể thấy:
21
- NVCTXH phải là người được đào tạo và trang bị những kiến thức kỹ năng
chuyên môn. Trên thế giới, NVCTXH được đào tạo ở các bậc cử nhân, thạc sỹ và
tiến sỹ. Hiện nay ở Việt Nam, NVCTXH được dùng để chỉ những người thực hiện
nhệm vụ chức năng trong trợ giúp xã hội và yêu cầu cần được bồi dưỡng hay đào
tạo theo các cấp học: Trung cấp; Cao đẳng; Đại học; Cao học.
- NVCTXH phải có các kiến thức kỹ năng, kinh nghiệm: kiến thức hiểu biết
về tâm lý, nhu cầu của trẻ và các luật pháp, chính sách liên quan tới bảo vệ, chăm
sóc trẻ; những kỹ năng, kinh nghiệm trong tạo lập mối quan hệ và đánh giá vấn đề
TECHCĐB; luật pháp, chính sách liên quan tới bảo vệ, chăm sóc trẻ em; kỹ
năng tạo lập mối quan hệ, đánh giá vấn dề của trẻ; kỹ năng điều phối các bên,
làm việc với các cơ quan tổ chức cung cấp dịch vụ trợ giúp trẻ; kỹ năng biện hộ
quyền lợi của trẻ và gia đình trẻ.
- Mục đích của hoạt động này là nhằm giúp TECHCĐB và gia đình trẻ giải
quyết được vấn đề, tiếp cận được chính sách và dịch vụ xã hội nhằm đáp ứng nhu
cầu của TECHCĐB và gia đình trẻ; đồng thời tăng cường năng lực cho hệ thống
chính sách xã hội trong quá trình đáp ứng nhu cầu của trẻ.
1.5.4. Các hoạt động cụ thể của NVCTXH trong trợ giúp TECHCĐB.
Để trợ giúp TECHCĐB, NVCTXH cần thực hiện một hay nhiều hoạt động
trong số các hoạt động dưới dây:
1.5.4.1 Đánh giá nhu cầu, cùng xây dựng kế hoạch trợ giúp (Quản lý ca).
NVCTXH cần phải biết đánh giá các nhu cầu đích thực của trẻ, sau đó xác
định những nguồn lực phù hợp với nhu cầu của trẻ để từ đó kết nối một cách có
hiệu quả những nhu cầu và nguồn lực đó. Đây được xem như nhóm hoạt động rất
quan trọng trong can thiệp giúp trẻ hay gia đình trẻ giải quyết vấn đề và nó bao gồm
những hoạt động đi theo một quy trình giải quyêt vấn đề như:
Tiếp nhận ca, đánh giá sơ bộ ban đầu.
Thu thập thông tin, đánh giá chi tiết.
Xây dựng và thực hiện kế hoạch can thiệp/trợ giúp.
Đánh giá và kết thúc can thiệp, trợ giúp.
1.5.4.2 Tham vấn/tư vấn cho trẻ em và gia đình.
Tham vấn là một quá trình trợ giúp tâm lý, trong đó nhà tham vấn sử dụng
kiến thức, kỹ năng chuyên môn và thái độ nghề nghiệp để thiết lập mối quan hệ
tương tác tích cực với thân chủ, nhằm giúp họ nhận thức được hoàn cảnh vấn đề để
thay đổi cảm xúc, suy nghĩ và hành vi và tìm kiếm giải pháp cho vấn đề của mình.
Tham vấn cũng dược xem như một hoạt động tối quan trọng của NVCTXH. C.
Zastrow (1985; tr. 45) nhận xét: “Có lẽ một trong những kỹ năng cơ bản
nhất mà người cán bộ xã hội cần có là khả năng tham vấn đối tượng có
1.5.4.3 Biện hộ, bảo vệ chính sách.
NVCTXH phải bảo vệ quyền lợi cho đối tượng để trẻ và gia đình trẻ được
hưởng những dịch vụ, chính sách, quyền lợi của họ, đặc biệt trong những trường
hợp họ bị từ chối những dịch vụ, chính sách lẽ ra họ được hưởng.
NVCTXH cần giúp cho trẻ nói ra được tiếng nói, quan điểm hoặc đại diện cho
trẻ đưa ra tiếng nói và cố gắng đảm bảo rằng quyền của trẻ luôn được tôn trọng và
24
nhu cầu của trẻ luôn được thoả mãn cũng như mang lại những dịch vụ tốt nhất cho
các em. Ngoài ra, để trẻ nói lên được tiếng nói, quan điểm của mình sẽ góp phần
thúc đẩy các cơ quan tổ chức cung ứng các dịch vụ đáp ứng quyền và lợi ích hợp
pháp cho các em.
NVCTXH khi trợ giúp TECHCĐB do các em là nhóm đối tượng yếu thế, do
độ tuổi và trong nhiều trường hợp các em không có người bảo hộ nên các em gặp
rất nhiều vấn đề trong việc đảm bảo các Quyền. Vì vậy, NVCTXH phải đứng như
một người đại diện để giúp các em có được các quyền và đáp ứng nhu cầu thông
qua các hoạt động thúc đẩy các cơ quan cung cấp dịch vụ. NVCTXH cần phải gắn
vai trò tích cực của mình cùng các cơ quan tổ chức trong việc thực thi các quyền,
đáp ứng nhu cầu của trẻ em.
1.5.4.4 Vận động, kết nối, giới thiệu nguồn lực dịch vụ trợ giúp trong
xã hội.
Là hoạt động mà NVCTXH trợ giúp trẻ, gia đình trẻ hay cộng đồng của trẻ
tìm kiếm nguồn lực (con người, cơ sở vật chất, tài chính, kỹ thuật, thông tin, sự ủng
hộ về chính sách, chính trị, quan điểm,...), dịch vụ xã hội cho giải quyết vấn đề.
NVCTXH đóng vai trò trung gian kết nối trẻ và gia đình trẻ với các chính
sách, dịch vụ và nguồn lực cần thiết để họ tiếp cận, có thêm sức mạnh giải quyết
vấn đề.
Vận động, kết nối, giới thiệu nguồn lực dịch vụ xã hội có trong cộng đồng với