Twin deficit or twin divergence? Fiscal policy, current account, and real exchange rate in the U.S
Mục Lục
Tóm tắt
Mặc dù có những mối quan tâm về “thâm hụt kép” (thâm hụt tài khoản vãng
lai và thâm hụt tài khóa) đối với nền kinh tế Mỹ, các bằng chứng thực nghiệm cho thấy
rằng “sự biến động ngược chiều” ( twin divergence) mới là một hiện tương phổ biến hơn
khi nghiên cứu dữ liệu lịch sử , đó là khi cán cân tài khóa xấu đi thì cán cân vãng lai có
cải thiện và ngược lại. Bài nghiên cứu này cũng thực hiện các nghiên cứu thực nghiệm về
ảnh hưởng của chính sách tài khóa (các cú sốc thâm hụt ngân sách chính phủ) lên tài
khoản vãng lai và tỷ giá hối đoái thực, trong giai đoạn tỷ giá bị thả nổi. Dựa trên mô hình
VAR (Vector Auto-Regression), nhóm tác giả đã xác định những cú sốc ngoại sinh trong
chính sách tài khóa sau khi đã kiểm soát các tác động của chu kỳ kinh tế lên cán cân tài
khóa. Trái ngược với các suy đoán của các mô hình lý thuyết, những kết quả tại Mỹ cho
thấy rằng cú sốc của chính sách tài khóa mở rộng, hoặc là cú sốc trong thâm hụt ngân
sách chính phủ, làm cải thiện tài khoản vãng lai và làm giảm giá tỷ giá hối đoái thực. Sự
gia tăng của tiết kiệm tư nhân và sự suy giảm trong đầu tư góp phần cải thiện tài khoản
vãng lai và làm giảm tỷ giá hối đoái danh nghĩa, ngược lại với sự thay đổi mức giá tương
1
Twin deficit or twin divergence? Fiscal policy, current account, and real exchange rate in the U.S
đối góp phần làm giảm tỷ giá hối đoái thực. “sự biến động ngược chiều” ( twin
divergence) của cán cân tài khóa và cán cân tài khoản vãng lai cũng được giải thích bởi
sự tồn tại của các cú sốc sản lượng đầu ra, ví dụ các cú sốc này –hơn là các cú sốc tài
khóa - xuất hiện tạo ra một sự dịch chuyển kép của tài khoản vãng lai và cán cân tài
khóa.
1. Giới thiệu
Những vấn đề liên quan đến mối quan hệ giữa chính sách tài khóa, tài khoản
vãng lai, và tỷ giá hối đoái thực là những mối quan tâm vừa mang tính thực nghiệm vừa
có tính lý thuyết phân tích. Từ quan điểm lý thuyết này, nhiều mô hình số học cho thấy
rằng sự mở rộng tài khóa sẽ làm xấu đi tài khoản vãng lai và làm tăng giá tỷ giá thực.
Một trường hợp thực nghiệm điển hình thường được đưa ra tranh cãi là thực trạng “thâm
hụt kép” của Mỹ trong nửa đầu những năm 1980 và trong những năm 2000. Như Hình 1
lượng dẫn đến một sự sụt giảm trong đầu tư, điều này mạnh hơn là sự sụt giảm trong tiết
kiệm quốc gia. Đặc biệt, nếu có một cú sốc về công nghệ, như trong trường hợp Nền kinh
tế Mới của Mỹ và giai đoạn bùng nổ IT 1995-2000, có sự bùng nổ đầu tư dẫn đến làm
xấu đi tài khoản vãng lai. Trong khi đó, sự bùng nổ kinh tế sẽ dẫn đến sự cải thiện cán
cân tài khóa (tạo ra các công cụ bình ổn tự động đối với thuế và chi tiêu). Điều này có thể
giải thích cho việc tại sao mà tài khoản vãng lai xấu đi tại Mỹ năm 1990 trong khi cán
cân tài khóa thì có nhiều cải thiện. Do đó, tài khoản vãng lai có thể phục hồi (hay xấu đi)
3
Twin deficit or twin divergence? Fiscal policy, current account, and real exchange rate in the U.S
khi cán cân tài khóa trở nên xấu đi (hay phục hồi). Chúng ta có thể quan sát “sự biến
động ngược chiều” ( twin divergence) hơn là “thâm hụt kép” khi mà tác nhân chính của
2 cán cân này là cú sốc về sản lượng.
Để đánh giá vấn đề này, bài nghiên cứu đưa ra các phân tích thực nghiệm về
mối quan hệ giữa cán cân tài khóa, tài khoản vãng lai, và tỷ giá hối đoái thực tại Mỹ,
trong đoạn tỷ giá hối đoái linh hoạt giai đoạn hậu Bretton Woods. Chúng ta kiểm định
những tác động của các cú sốc trong thâm hụt ngân sách chính phủ lên tài khoản vãng lai
và tỷ giá thực, và cũng suy ra mối quan hệ chung giữa các biến này. Để xác định các cú
sốc trong thâm hụt ngân sách chính phủ sau khi kiểm soát các ảnh hưởng của chu kỳ kinh
tế, tác giả sử dụng mô hình VAR (Vector Autor-Regression). Một kết quả thực nghiệm
nghịch lý mới, ngược với hầu hết các mô hình kinh tế, cú sốc tài khóa mở rộng hay các
cú sốc thâm hụt ngân sách chính phủ có quan hệ với sự cải thiện của cán cân vãng lai và
sự sụt giá của tỷ giá thực. Đây thực sự là vấn đề lý thú vì mối tương quan nghịch chiều
này xuất hiện cả sau khi chúng ta kiểm soát tác động của chu kỳ kinh tế hay các cú sốc
sản lượng, yếu tố có thể tạo ra “sự biến động ngược chiều” ( twin divergence) như đã
trình bày ở trên. Thậm chí các cú sốc thâm hụt tài khóa “ngoại sinh” dường như có liên
quan đến một sự cải thiện trong tài khoản vãng lai.
Các phân tích mở rộng chỉ ra rằng sự kết hợp các nhân tố như (1) hiệu ứng lấn
át đầu tư gây ra bởi sự gia tăng trong lãi suất thực và (2) sự dịch chuyển Ricardo theo
từng phần trong tiết kiệm tư nhân, có thể giải thích cho các nghịch lý thực nghiệm. Kết
quả này cũng liên quan đến một đặc trưng của nền kinh tế Mỹ, là một nền kinh tế mở lớn.
bằng tổng thể tăng động của nền kinh tế mở để đánh giá hiệu quả định lượng của những
cú sốc tài chính trên cán cân thương mại ở Hoa Kỳ. Cú sốc tài chính được chia ra 2 loại:
sự gia tăng trong tiêu dùng của chính phủ, và giảm mức thuế suất thuế thu nhập lao
động . Phát hiện nổi bật của nhóm tác giả là một thâm hụt ngân sách có tác động tương
đối nhỏ đối với cán cân thương mại của Mỹ , bất kể nguồn gốc là một sự gia tăng chi tiêu
hoặc cắt giảm thuế.
Trong phần hiệu chỉnh của nhóm tác giả, chúng tôi nhận thấy một sự gia tăng
thâm hụt ngân sách ( 1% GDP) làm cán cân thương mại xấu đi 0,2 % của GDP hoặc ít
hơn.
Từ góc độ chính sách , phân tích của nhóm cho thấy rằng ngay cả việc giảm
thâm hụt ngân sách hiện nay của Mỹ ( 3% GDP ) bằng không sẽ khó có khả năng thu hẹp
thâm hụt thương mại đang phát triển Mĩ.
Douglas Bemheim (1988) phân tích dữ liệu chuỗi thời gian từ 1960 đến 1984
cho sáu quốc gia cho thấy một mối liên hệ mạnh mẽ và có ý nghĩa giữa chính sách tài
khóa và thâm hụt thương mại. Đối với Hoa Kỳ, Canada, vương quốc Anh, Đức và Tây
Đức, một sự gia tăng $ 1 trong thâm hụt ngân sách có liên quan đến một sự suy giảm
khoảng 0,30 $ trong thặng dư tài khoản vãng lai. Đối với các quốc gia sản xuất thì con số
này cao hơn( 0.40$) và lớn hơn đáng kể đối với Mexico (0,85 $ trên đồng đô la). Đối với
Nhật Bản, những bằng chứng nàylà rất yếu
Mặt khác, vay mượn chính phủ không làm giảm tiết kiệm quốc gia. Kết luận
rằng một sự gia tăng 1$ trong thâm hụt ngân sách thu hút 0,30 $ của các quỹ đầu tư từ
6
Twin deficit or twin divergence? Fiscal policy, current account, and real exchange rate in the U.S
nước ngoài, tạo ra một phong trào bù trừ 0,30 $ trong tài khoản vãng lai. Đây chính là kết
quả quan trọng mà tác giả thu được.
Tuy bài nghiên cứu cung cấp một số bằng chứng cụ thể của viêc tồn tại thâm
hụt kép, nhưng nghiên cứu Bernheim bị hạn chế bởi sự vắng mặt của các biến quan
trọng , cụ thể là tỷ giá hối đoái thực và lãi suất thực tế, do đó một số khía cạnh của thâm
hụt kép vẫn chưa được giải quyết .
Boucher (1991) nghiên cứu trong một chuỗi thời gian dài và nhận thấy không
liệu thực tế có sai số thống kê không đáng kể. Tiết kiệm được chia thành tiết kiệm tư
nhân và tiết kiệm của chính phủ (hoặc cán cân ngân sách chính phủ hoặc số âm trong
thâm hụt ngân sách chính phủ). Tiết kiệm của chính phủ lại được chia thành lãi ròng
trong tài sản tài chính của chính phủ và cán cân ngân sách chính phủ sơ cấp (hoặc số âm
của thâm hụt ngân sách chính phủ sơ cấp). Đó là,
Current Account = Saving-Investment+Statistical Discrepancy
= (PrivateSaving-Government Primary BudgetDeficit
+Government Net Interest Receipts)-Investment+Statistical Discrepancy (1)
8
Twin deficit or twin divergence? Fiscal policy, current account, and real exchange rate in the U.S
Fig. (1) cho thấy hai thành phần chính của tài khoản vãng lai (đầu tư và tiết kiệm
cộng với sai số thống kê), tiết kiệm của chính phủ và tài khoản vãng lai của Mỹ trong giai
đoạn chế độ tỷ giá thả nổi gần đây (1973 - 2004). "GovSav / GDP", "Sav & SD / GDP",
"CurAcct / GDP," và "Inv / GDP" lần lượt là ký hiệu của tiết kiệm của chính phủ, tiết
kiệm quốc gia và sai số thống kê, tài khoản vãng lai, và đầu tư (tất cả đều tính theo tỷ lệ
phần trăm của GDP).
GovSav: Government Saving
Sav & SD: Saving & Discrepancy
CurAcct: Current Account
Inv: Investment
Phần thứ hai của các mối quan hệ trong phương trình (1) thường được sử dụng
làm cơ sở cho "giả thuyết thâm hụt kép" hoặc một mối quan hệ cùng chiều giữa các tài
khoản vãng lai và tiết kiệm của chính phủ (hoặc một mối quan hệ cùng chiều giữa thâm
hụt tài khoản vãng lai và thâm hụt ngân sách chính phủ). Điều đó có nghĩa là, khi các
điều kiện khác không đổi, tiết kiệm của chính phủ và tài khoản vãng lai nên dịch chuyển
cùng chiều: sự gia tăng thâm hụt ngân sách sẽ dẫn đến một sự xấu đi của tài khoản vãng
lai. Tuy nhiên, như đã thảo luận trong phần giới thiệu, một mối quan hệ cùng chiều như
vậy là khó có thể tìm thấy trong các dữ liệu thực tế và sự tương quan dường như là ngược
chiều trong hình 1. Bảng 1 cho thấy mối tương quan giữa tài khoản vãng lai và tiết kiệm
của chính phủ trong toàn bộ giai đoạn mẫu. Mối tương quan là ngược chiều: -0.11. Mối
nó hữu ích trong việc kiểm soát các thành phần nội sinh và tách biệt các thành phần ngoại
sinh. Cấu trúc này sử dụng thông tin dựa trên nhiều biến số vĩ mô khác nhau, sự tương
tác và mối quan hệ của chúng để xây dựng thành phần ngoại sinh trong thâm hụt ngân
sách chính phủ và để phân tích những tác động của các cú sốc thâm hụt ngân sách chính
phủ ngoại sinh này lên tài khoản vãng lai và tỷ giá thực.
3.2 Phương pháp xác định cơ bản
Mô hình cơ bản bao gồm năm biến, {RGDP, GOV, CUR, RIR, RER}, lần lượt là
ký hiệu của GDP thực (RGDP); một biến có liên quan đến ngân sách chính phủ (GOV) -
tính theo tỷ lệ phần trăm của GDP; tài khoản vãng lai (CUR) - tính theo tỷ lệ phần trăm
của GDP; lãi suất thực kỳ hạn 3 tháng (RIR) và tỷ giá hối đoái thực (RER). Trong mô
hình cơ bản này, thâm hụt ngân sách chính phủ sơ cấp được ký hiệu là GOV. GOV, CUR
và RER là những biến chính cần quan tâm trong nghiên cứu này. RGDP là biến vĩ mô
quan trọng đại diện cho hiệu quả của nền kinh tế. RGDP được đưa vào để kiểm soát các
thành phần có tính chu kỳ của thâm hụt ngân sách chính phủ. RIR cũng là một biến số vĩ
mô quan trọng, nó có thể cung cấp một đầu mối đối với sự truyền tải của chính sách tài
khóa. RIR có thể liên quan đến các quyết sách của chính sách tiền tệ mà chúng ta cũng
muốn kiểm soát.
Phương pháp xác định cơ bản của bài nghiên cứu này sử dụng một mô hình VAR
đệ quy (do Sims đề xuất năm 1980). Thứ tự của các biến là {RGDP, GOV, CUR, RIR,
RER} trong đó các biến ngoại sinh xảy ra đồng thời được đưa ra trước tiên. Trong mô
hình này, những cú sốc thâm hụt ngân sách chính phủ (ngoại sinh) được dẫn xuất bằng
cách đặt điều kiện lên RGDP hiện tại và biến trễ của nó, và tất cả các biến trễ khác. Các
tác giả đặt điều kiện trên RGDP hiện tại vì (thâm hụt) ngân sách chính phủ có khả năng
11
Twin deficit or twin divergence? Fiscal policy, current account, and real exchange rate in the U.S
bị ảnh hưởng nội sinh bởi tình trạng hiện tại của hoạt động kinh tế trong vòng một quý.
Cụ thể, các yếu tố của doanh thu của chính phủ, chẳng hạn như thuế bán hàng (đánh lên
sản phẩm và dịch vụ) và thuế thu nhập, có khả năng phụ thuộc vào mức độ hiện tại của
hoạt động kinh tế trong vòng một quý. Giả định này được tán thành bởi Blanchard và
Perotti (2002). Họ tìm thấy một hiệu ứng khác-không của sản lượng lên thuế ròng trong
trong khoảng thời gian ước lượng bốn quý và thấp hơn so với các khoảng thời gian ước
lượng dài hơn. Điều đó có nghĩa là, phần ngoại sinh là ít hơn một nửa trong tổng sự thay
đổi của thâm hụt ngân sách chính phủ. Mặt khác, đối với những cú sốc sản lượng đầu ra,
phần ngoại sinh chiếm hơn 50% ở tất cả các khoảng thời gian, theo bảng 2. Điều này cho
thấy mô hình thực nghiệm này có tính đến phần nội sinh của thâm hụt ngân sách chính
phủ, đặc biệt là yếu tố nội sinh của cán cân tài khóa đối với những cú sốc đầu ra.
13
Twin deficit or twin divergence? Fiscal policy, current account, and real exchange rate in the U.S
Những tác động của các cú sốc đầu ra (RGDP) cũng cần được chú ý xem xét.
Thâm hụt ngân sách chính phủ giảm ( hoặc cải thiện ngân sách chính phủ) trong nhiều
năm là sự phản ứng của ngân sách chính phủ đối với một cú sốc sản lượng tích cực. Điều
này phù hợp với vai trò ổn định tự động của ngân sách chính phủ và biến động mang tính
chu kỳ của ngân sách chính phủ. Khi có một cú sốc sản lượng đầu ra tích cực xảy ra, tài
khoản vãng lai xấu đi, tỷ giá hối đoái thực giảm, và lãi suất thực tăng. Sự biến động phản
chu kỳ của tài khoản vãng lai là phù hợp với các lý thuyết truyền thống và hiện đại về tài
khoản vãng lai. Theo lý thuyết truyền thống, sự gia tăng trong sản lượng làm tăng nhu
cầu hàng ngoại và làm xấu đi tài khoản vãng lai. Theo lý thuyết hiện đại, cú sốc sản
lượng đầu ra có thể được coi là một cú sốc năng suất . Một cú sốc năng suất tích cực, kéo
14
Twin deficit or twin divergence? Fiscal policy, current account, and real exchange rate in the U.S
dài có thể làm gia tăng đầu tư mạnh mẽ và làm xấu đi các tài khoản vãng lai. Các hiệu
ứng này tạo ra một biến động phản chu kỳ của tài khoản vãng lai, như gợi ý của Mendoza
(1991), Backus và các cộng sự ( 1992). Sự gia tăng trong lãi suất thực cũng là một phản
ứng đối với cú sốc năng suất tích cực, kéo dài (Ví dụ, King và Rebelo , 1999). Sự gia
tăng của tỷ giá hối đoái thực cũng phù hợp với kết quả một số nghiên cứu (ví dụ, Corsetti
và các cộng sự, 2006). Nhìn chung, các phản ứng xung là phù hợp với ý tưởng rằng
những cú sốc sản lượng đầu ra tạo ra một sự dịch chuyển ngược chiều giữa tài khoản
vãng lai và tiết kiệm của chính phủ. Ngoài ra, các kết quả này cho thấy mô hình của
nhóm tác giả có quan tâm đếnsự nội sinh trong các dịch chuyển của tài khoản vãng lai và
thâm hụt ngân sách chính phủ (đặc biệt là do tác động bởi những cú sốc sản lượng đầu
cơ chế tiền tệ, một sự gia tăng trong tỷ lệ lãi suất thực dẫn đến giảm sản lượng, điều này
làm tăng thâm hụt ngân sách và cũng dẫn đến một sự gia tăng của giá tỷ giá hối đoái
thực. Phản ứng của tài khoản vãng lai đối với cú sốc này là sự cải thiện trong ngắn hạn và
tiếp theo là sự xấu đi trong dài hạn, điều này cũng tương tự như những tác động của các
cú sốc chính sách tiền tệ được tìm thấy trong nghiên cứu trước đây như Kim (2001). Kim
(2001) phát hiện ra rằng sự thay đổi trong tài khoản vãng lai có thể được giải thích bởi
hiệu hấp thụ thu nhập ngắn hạn, và hiệu ứng chuyển đổi chi tiêu dài hạn dựa trên mô hình
giá cố định truyền thống và sự tương tác củatiết kiệm và đầu tư dựa trên mô hình chuỗi thời
gian. Cuối cùng, một cú sốc tích cực đối với tỷ giá thực (sự giảm giá) giúp cải thiện tài khoản
vãng lai. Điều này phù hợp với hiệu ứng chi tiêu-chuyển đổi .
16
Twin deficit or twin divergence? Fiscal policy, current account, and real exchange rate in the U.S
4.2 Tác động vào các thành phần của tài khoản vãng lai và tỷ giá hối
đoái thực
Trong phần trước, tác giả đã nêu ra những kết quả đáng ngạc nhiên, đó là
những cú sốc thâm hụt ngân sách giúp cải thiện tài khoản vãng lai và làm giảm giá tỷ giá
hối đoái thực. Phần này nghiên cứu sâu hơn về nguyên nhân và cách thức tác độngbằng
cách phân tích các tác động của những chính sách tài khóa này lên các thành phần chi tiết
của tài khoản vãng lai và tỷ giá hối đoái thực.
17
Twin deficit or twin divergence? Fiscal policy, current account, and real exchange rate in the U.S
Đầu tiên, các tác giả xem xét sự phản ứng của mỗi thành phần trong tài khoản
vãng lai. Họ mở rộng mô hình năm biến cơ bản để bao gồm một biến khác, CURA, đó là
một thành phần của tài khoản vãng lai. Bây giờ các biến của mô hình gồm {RGDP, GOC,
CUR, CURA, RIR, RER}. Bằng cách phân chia đầu tư thành đầu tư chính phủ và đầu tư
tư nhân, phương trình (1) trở thành:
Current account = Private saving – Primary government budget deficit +
Government net interest receipt – Private investment – Government investment +
Statistic discrepancy (2)
Dựa trên phương trình (2), tác giả sử dụng tiết kiệm tư nhân, tiền thu lãi thuần
khoản vãng lai. Vì vậy, nghiên cứu những tác động của từng thành phần riêng biệt có thể
giúphiểu được những kết quả trái ngược đã trình bày ở trên của "twin divergence”
Đầu tiên, tác giả kiểm định tác động của những cú sốc chi tiêu chính phủ hoặc
những cú sốc mua hàng của chính phủ. Một vài nghiên cứu trước đây, chẳng hạn như của
Blanchard và Perotti (2002), Edelberg và các cộng sự (1999), Ramey và Shapiro (1997),
Fatas và Mihov (2001), kiểm định những tác động của các cú sốc chi tiêu chính phủ hoặc
mua hàng của chính phủ. Blanchard và Perotti (2002), bằng cách kiểm định kỹ các chi
tiết trong khuôn khổ thể chế tài chính Mỹ, cho rằng chi tiêu chính phủ là ngoại sinh đồng
thời với các biến phi chính phủ khác trong một hệ thống. Blanchard và Perotti (2002),
Fatas và Mihov (2001) cũng cho rằngchi tiêu chính phủ là ngoại sinh đồng thời với các
biến khác trong hệ thống. Những nghiên cứu này sử dụng các giá trị tuyệt đối của chi tiêu
chính phủ, thay vì tỷ lệ của chi tiêu chính phủ so với GDP. Để phù hợp với các mô hình
này, nhóm tác giả xây dựng các mô hình {GOV, RGDP, CUR, RIR, RER}, trong đó log
của chi tiêu chính phủ được ký hiệu làGOV.
19
Twin deficit or twin divergence? Fiscal policy, current account, and real exchange rate in the U.S
Thứ hai, các tác giả kiểm tra tác động của những cú sốc chuyển giao ròng
(hoặc những cú sốc thuế ròng âm). Như trong mô hình cơ bản, họ giả định rằng việc
chuyển giao ròng chịu tác động đồng thời của RGDP, ví dụ {RGDP, GOV, CUR, RIR,
RER}. Tác giả sử dụng tỷ lệ chuyển ròng trên GDP.
Kết quả của về tác động của các cú sốc chuyển giao ròng được thể hiện trong
hai cột đầu của hình 5. Tác động của những cú sốc chuyển ròng là tương tự nhau, mặc dù
hơi yếu hơn so với tác động của các cú sốc thâm hụt ngân sách chính phủ; một cú sốc
chuyển giao ròng tăng giúp cải thiện tài khoản vãng lai tạm thời và làm giảm tỷ giá hối
20
Twin deficit or twin divergence? Fiscal policy, current account, and real exchange rate in the U.S
đoái thực. Tác giả tiếp tục kiểm tra các thành phần của tài khoản vãng lai để tìm hiểu lý
do tại sao tài khoản vãng lai được cải thiện. Kết quảlại tương tự như mô hình cơ bản. Chi
tiêu tăng nhẹ, nhưng chỉ là tạm thời. Tiết kiệm tư nhân tăng lên để bù đắp phần lớn thâm
hụt ngân sách, trong khi đầu tư giảm.
thường xuyên có thể dẫn đến sự cải thiện của các tài khoản vãng lai (tuy nhiên, các tác
giả trên không đưa biến đầu tư vào trong khuôn khổ phân tích của họ) . Khi một sự gia
tăng chi tiêu chính phủ xảy ra, hiệu ứng Ricardo dẫn đến một sự sụt giảm trong tiêu thụ
và tài khoản vãng lai không thay đổi. Tuy nhiên, trong các mô hình giá cứng nhắc, một
sự gia tăng chi tiêu có xu hướng kích thích sản lượng đầu ra trong ngắn hạn. Do đó, tài
khoản vãng lai được cải thiện.Ngoài ra, một sự gia tăng chi tiêu chính phủ có thể làm
giảm tỷ giá hối đoái danh nghĩa và tỷ giá hối đoái thực. Lý do là trong một nền kinh tế
lớn, sự mở rộng tài khóa sẽ làm tăng tỷ lệ lãi suất thực. Sự gia tăng này, đến lượt nó, dẫn
đến sự sụt giảm trong tiêu dùng cá nhân. Vì nhu cầu về tiền được giả định là phụ thuộc
vàotiêu dùng cá nhân trong mô hình, việc giảm chi tiêu dẫn đến sự giảm sút của tỷ giá hối
đoái danh nghĩa, cũng như tỷ giá thực vì giá cả được giả định là cứng nhắc.
Trong khi các mô hình NOEM đưa ra một số trường hợp mà trong đó một cú
sốc chi tiêu chính phủ tích cực có thể cải thiện tài khoản vãng lai và làm giảm tỷ giá hối
đoái thực, kết quả thực nghiệm của nhóm tác giả ở bài này không hoàn toàn phù hợp với
các dự đoán lý thuyết của NOEM.Đầu tiên, tăng tiết kiệm tư nhân và tổng số tiết kiệm
giải thích đầy đủ việc cải thiện tài khoản vãng lai trong các mô hình lý thuyết.Tuy nhiên,
sự gia tăng tiết kiệm tư nhân là quá nhỏ và tổng tiết kiệm giảm trong các kết quả thực
nghiệm. Thứ hai, sự sụt giảm trong tiêu dùng cá nhân chủ yếu giải thích cho sự sụt giảm
của tỷ giá hối đoái danh nghĩa và thực tế trong các mô hình lý thuyết, nhưng sự sụt giảm
chi tiêu là quá nhỏ để giải thích cho sự sụt giảm đáng kể của tỷ giá hối đoái trong các kết
quả thực nghiệm.
Ngoài ra, các kết quả phân tích của các mô hình NOEM về tác động của các
cú sốc chi tiêu chính phủ đến tỷ giá hối đoái danh nghĩa và tỷ giá hối đoái thực phụ thuộc
22
Twin deficit or twin divergence? Fiscal policy, current account, and real exchange rate in the U.S
vào hai giả định quan trọng. Đầu tiên, các mô hình này giả định rằng xu hướng nhập khẩu
biên của chính phủ là giống như của khu vực tư nhân. Tuy nhiên, giả thuyết phổ biến
trong các mô hình trước đây (mô hình tối ưu hóa RBC và các mô hình Keynes truyền
thống) cho rằng xu hướng biên đối với nhập khẩu hàng hóa tiêu dùng ở khu vự tư nhân
cao hơn khu vực chính phủ. Trong thực tế , đây là điều quan trọng vì thông qua nó, hầu
tên của những cú sốc; cột thứ tư, tương quan có điều kiện; cột thứ năm, sự phân tích
tương quan, trong đó cho thấy vai trò của từng cú sốc cấu trúc trong việc giải thích mối
tương quan tuyệt đối, và cuối cùng, sự phân tích trong đó cho thấy phần trăm đóng góp
24
Twin deficit or twin divergence? Fiscal policy, current account, and real exchange rate in the U.S
của mỗi cú sốc cấu trúc trong việc giải thích các hiệp phương sai hoàn toàn
(unconditional covariance).
Mối tương quan tuyệt đối của các sai số dự báo cho tài khoản vãng lai và thâm
hụt ngân sách chính phủ lần lượt là 0,42 và 0,34 ở bốn quý và tám quý. Tương quan
dương này cho thấy rằng trong khoảng thời gian ngắn hạn và trung hạn, các thâm hụt
ngân sách chính phủ và tài khoản vãng lai có xu hướng biến động cùng nhau ("twin
divergence"). Các cú sốc RGDP tạo ra một mối tương quan dương hoàn hảo ("twin
divergence"), hệ số lần lượt là 0,97 và 0,98 cho bốn và tám quý. Các cú sốc GOV cũng
tạo ra mối tương quan ("twin divergence "), hệ số của hồi quy lần lượt là 0,70 và 0,63 cho
bốn và tám quý. Các cú sốc CUR và RIR cũng tạo ra mối tương quan dương trong khi
những cú sốc RER tạo ra mối tương quan âm.
Nhìn chung, sự dịch chuyển đồng thời (hoặc đồng dịch chuyển tuyệt đối) là
kết quả của những cú sốc đầu ra: trong điều kiện tương quan, sự đóng góp của những cú
sốc đầu ra là 0,33 của 0,42 (78%) và 0,40 của 0,34 (117,5%) tại bốn và tám quý. Những
cú sốc thâm hụt ngân sách cũng đóng góp 0,10 của 0.42(22,7%) và 0,06 của 0,34 (16,4%)
ở bốn và tám quý. Vì vậy, chúng ta có thể kết luận những cú sốc đầu ra là nguồn gốc
quan trọng nhất của hiện tượng “twin divergence”được quan sát thấy trong các dữ liệu.
Nhưng đến chừng mực nào đó, các cú sốc thâm hụt ngân sách chính phủ cũng góp phần
vào "twin divergence"
Bảng 3 (2) cho thấy sự phân tích đồng chuyển động của tỷ giá hối đoái thực tế
và thâm hụt ngân sách chính phủ. Mối tương quan tuyệt đối của sai số dự báo là 0.09 và
0.05 ở bốn và tám quý. Các cú sốc RGDP và GOV tạo ra một mối tương quan dương
mạnh, bù đắpbằng một mối tương quan âm được tạo ra bởi các cú sốc RIR và RER. Kết
quả mối tương quan tuyệt đối không khác nhau với xác suất là từ 0-68%. Vào khoảng
thời gian ước lượng 4 quý, các cú sốc GOV và RGDP là quan trọng đối với việc giải