GVHD: TS. Nguyễn Khắc Quốc Bảo Nhóm 07 – Lớp Ngân hàng Ngày 2 – K21
I. GIỚI THIỆU:
Những vấn đề liên quan đến mối quan hệ giữa chính sách tài khóa, tài khoản vãng lai và tỷ
giá hối đoái thực luôn được quan tâm phân tích và kiểm nghiệm. Về mặt lý thuyết nhiều mô hình
cho thấy rằng chính sách tài khóa mở rộng sẽ ảnh hưởng tiêu cực đến tài khoản vãng lai và làm tỷ
giá hối đoái thực giảm xuống (đồng nội tệ được định giá cao), tức là ngân sách chính phủ và tài
khoản vãng lai biến động cùng chiều với nhau. Một ví dụ điển hình về mối quan hệ như vậy thường
được tranh luận là “thâm hụt kép” ở Mỹ trong nửa đầu những năm 1980 và những năm 2000. Theo
biểu đồ 1 và 2, một sự suy giảm của cân đối ngân sách (theo % GDP) trong điều kiện thuế thấp và
chi phí quốc phòng cao đã cộng hưởng với một sự gia tăng giá trị đồng nội tệ (hay một sự suy
giảm) trong tỷ giá danh nghĩa cũng như tỷ giá thực, và một sự suy giảm đáng kể của tài khoản vãng
lai (tính theo % GDP).
Biểu đồ 1: Tài khoản vãng lai và các yếu tố của nó, 1973 -2004
Đa phần sự trầm trọng của thâm hụt ngân sách đầu những năm 1980 là hậu quả của cuộc
suy thoái năm 1980-1982. Toàn bộ nguồn tiết kiệm công bắt đầu tăng lại từ năm 1983, trong khi tài
khoản vãng lai thì xấu đi trong giai đoạn 1982-1986, chủ yếu bởi vì tỷ lệ đầu tư đã phục hồi sau
cuộc suy thoái thời kỳ 1980-1982. Thêm vào đó, trong giai đoạn 1989-1991, tài khoản vãng lai đã
tăng trong khi ngân sách có xu hướng suy giảm lần nữa. Quan trọng hơn, khoảng giữa năm 1992 và
2000, ngân sách Mỹ đã tăng một cách ấn tượng từ tỷ lệ tiết kiệm âm 5% GDP đến dương 2,5%
GDP, thế nhưng tài khoản vãng lai đã giảm từ -1% GDP đến -4.5%GDP.
Biểu đồ 2: Tỷ giá và tiết kiệm Chính phủ, 1973 – 2004.
1
GVHD: TS. Nguyễn Khắc Quốc Bảo Nhóm 07 – Lớp Ngân hàng Ngày 2 – K21
Để đánh giá chiều hướng biến động của ngân sách chính phủ và tài khoản vãng lai như thế
nào khi yếu tố ảnh hưởng đến bản thân chúng là yếu tố nội sinh (yếu tố sản lượng đầu vào) và yếu
tố ngoại sinh (lãi suất thực, tỷ giá hối đoái thực…) , bài viết nêu ra một phân tích thực nghiệm về
mối quan hệ giữa cán cân ngân sách, tài khoản vãng lai và tỷ giá hối đoái thực của Mỹ trong thời kỳ
hậu Bretton Woods khi tỷ giá hối đoái linh hoạt. Hầu hết những nghiên cứu trước đây đều kiểm
định các tác động lên tỷ giá hối đoái thực chỉ với tần số dữ liệu thấp. Trái lại, bài viết đã nêu ra
bằng chứng dữ liệu thực nghiệm về tác động của chính sách tài khóa đối với tài khoản vãng lai và
tỷ giá hối đoái thực bằng việc sử dụng các mô hình VAR. Những mô hình này cho phép tương tác
ERPT đã được nghiên cứu. Bắt đầu từ những quan điểm khác nhau, nghiên cứu thực nghiệm kiểm
tra vai trò của ERPT ở các nền kinh tế nhỏ và lớn.
Các nghiên cứu đã được tiến hành bao gồm:
1. Sử dụng mô hình Mundell – Fleming – Dornbusch
Theo Bryant và các cộng sự vào năm 1988: Thực nghiệm kinh tế vĩ mô cho nền kinh tế
độc lập (“Empirical Macroeconomics for Independent Economies”)
Theo Taylor, 1993: Chính sách kinh tế vĩ mô trong nền kinh tế thế giới (“Macroeconomic
Policy in a World Economy”)
2. Sử dụng mô hình cân bằng tổng quát động ngẫu nhiên (DSGE – Dynamic Stochastic
General Equilibrium)
Theo Baxter 1995: Thương mại quốc tế và chu kỳ kinh doanh (“International trade and
business cycles”)
Bài viết cho rằng tích lũy vốn và dòng vốn quốc tế là trung tâm của thương mại thế giới và
các chu kì kinh doanh. Đặc biệt biến động trong xuất khẩu ròng và tài khoản vãng lai được hiển thị
bởi thương mại hàng hóa vốn. Bài viết phát triển một mô hình thương mại quốc tế mà trong đó tích
lũy vốn và đầu tư quốc tế đóng vai trò trung tâm. Baxter chỉ ra biến động thuế suất có thể cải thiện
tài khoản vãng lãi.
Kollmann, 1998: Tính năng động của cán cân thương mại Mỹ: vai trò của chính sách tài
khóa, biến động năng suất và tính liên kết trên thị trường tài chính (“US trade balance dynamics:
the role of fiscal policy and productivity shocks and of financial market linkages”)
Bài viết này đã sử dụng mô hình hai quốc gia RBC để định lượng và nghiên cứu các động
thái của cán cân thương mại Mỹ trong những năm 1975 -1991. Sử dụng một loạt dữ liệu theo quý
về tổng sản lượng, tiêu dùng của chính phủ và thuế suất tiêu dùng ở Mỹ (đầu vào lao động cố định),
tổng hợp từ các nước G7 và còn lại là G6, đã được đưa vào mô hình để giải thích dựa trên những
biến động nhất thời. Các mô hình cho thấy biến động năng suất là nguyên nhân chiếm ưu thế của
các chuyển động trong cán cân thương mại của Mỹ. Đặc biệt sự tăng trưởng tương đối nhanh chóng
ở Mỹ và tỷ lệ thuế trung bình giảm trong nửa đầu những năm 1980 giải thích sự sụt giảm mạnh của
xuất khẩu ròng trong thời gain đó.
Betts và Devereux, 2000b: Tính năng động của tỷ giá hối đoái trong mô hình giá cả thị
trường (“Exchange rate dynamics in a model of pricing-to-market”)
các loại thuế không ảnh hưởng đến dòng chảy thương mại. Một mối quan hệ nghịch biến giữa chi
tiêu chính phủ và các điều khoản thương mại cũng được tìm thấy.
Cả hai bài của Ahmed đã kiểm định mối quan hệ dài hạn giữa chi tiêu chính phủ và tài
khoản vãng lai. Tuy nhiên kết quả có những giới hạn vì mối tương tác động giữa các biến số không
được xem xét và những nghiên cứu này không sử dụng cùng một thời kì gốc với chế độ tỷ giá
không đổi.
4. Sử dụng mô hình VAR
4
GVHD: TS. Nguyễn Khắc Quốc Bảo Nhóm 07 – Lớp Ngân hàng Ngày 2 – K21
Clarida và Prendergast, 1999: Lập trường Tài chính và Tỷ giá hối đoái thực, một số thực
nghiệm ước tính. (“Fiscal Stance and The Real Exchange Some Empirical Estimates”)
Bài viết này sử dụng cấu trúc VAR để ước tính tác động và ảnh hưởng của chính sách tài
khóa đến tỷ giá hối đoái thực và cán cân ngân sách sơ cấp bằng cách sử dụng dữ liệu trong giai
đoạn tỷ giá hối đoái thả nổi trong các nước G3. Họ tính toán sao cho mỗi nước trong nhóm G3 là
một “phản hồi nhạy bén” của một sự biến đổi tài chính, có tính đến ảnh hưởng của chu kì kinh
doanh và họ đã tìm thấy một điểm tương đồng đáng kể của 03 nước. Tuy nhiên quá trình này cuối
cùng bị đảo ngược, tỷ giá hối đoái đã vượt xa thực tế và thực sự mất giá tương đối so với giá trị ban
đầu của nó trước khi có biến động tài chính. Họ đã đưa ra những bằng chứng về sự “phản hồi nhạy
bén” của cán cân ngân sách chính phủ sau những biến động tài chính.
Rogers, 1999: Biến động tiền tệ và tỷ giá thực(“Monetary Shocks and Real Exchange
Rates”)
Các bằng chứng được trình bày trong bài viết chỉ ra một sự trái ngược rằng, biến động tiền
tệ rất quan trọng đối với biến động tỷ giá hối đoái. Sử dụng cấu trúc VAR để phân tích dữ liệu trong
thời gian dài tại Mỹ và Anh, tác giả thấy rằng 50% nguyên nhân dự đoán sai trong tỷ giá hối đoái
ngắn hạn là do biến động tiền tệ. Các mô hình khác cũng cho ra tỷ lệ 20%. Do vậy, những biến
động thực sự là do chính sách tài chính và thương mại hơn là do thay đổi công nghệ
III. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1. Phương pháp nghiên cứu:
Tác giả sử dụng mô hình cấu trúc tự hồi quy vecto (VAR). Trước đây đã có nhiều nghiên
cứu thực nghiệm trước đây về lĩnh vực này. Đầu tiên có những cuộc mô phỏng dùng mô hình cấu
(1973 – 2004).
Tuy nhiên, tỷ giá thực và tài khoản vãng lai của Mỹ đại diện cho một mối quan hệ kinh tế
giữa Mỹ và phần còn lại của thế giới. Song mô hình VAR cơ bản có thể không nắm bắt đúng những
điều kiện kinh tế nước ngoài vì nó không bao gồm những biến nước ngoài. Để kiểm soát những
biến nước ngoài này, tác giả thực hiện kiểm định mở rộng dựa trên dữ liệu của các nước G5 trong
giai đoạn 1974-2004.
3. Phương pháp thu thập và xử lý dữ liệu:
3.1 Các biến được sử dụng trong bài nghiên cứu và cách tính:
Các biến được sử dụng như là thành phần của tài khoản vãng lai và cân đối ngân sách, bao
gồm: Tài khoản vãng lai (Tiết kiệm ròng - Đầu tư ròng + Sai số thống kê), Tiết kiệm (Tiết kiệm
ròng), Đầu tư (Đầu tư ròng), Sai số thống kê, Tiết kiệm cá nhân (Tiết kiệm cá nhân ròng), Thâm hụt
ngân sách sơ cấp (- Tiết kiệm ròng Chính phủ + Thu nhập từ tài sản, tiền lãi và các khoản khác -
Trả lãi vay), Tiền thu lãi ròng của Chính phủ (Thu nhập từ tài sản, tiền lãi và các khoản khác - Trả
lãi vay), Đầu tư tư nhân (Tổng đầu tư tư nhân trong nước - Chi tiêu vốn cố định tư nhân), Đầu tư
Chính phủ (Tổng đầu tư Chính phủ - Chi tiêu vốn cố định của Chính phủ Liên bang - Chi tiêu vốn
cố định của Chính phủ địa phương).
Chuyển nhượng ròng Chính phủ được tính bằng cách trừ đi chi tiêu Chính phủ từ tiết kiệm
ròng của Chính phủ.
6
GVHD: TS. Nguyễn Khắc Quốc Bảo Nhóm 07 – Lớp Ngân hàng Ngày 2 – K21
Khi những biến trên được sử dụng dưới dạng tỷ số trên GDP, các biến được tính theo giá
dollar hiện tại; khi được sử dụng dưới dạng số liệu thực, chúng được tính theo dollar từ năm gốc,
2000.
Chỉ số tỷ giá danh nghĩa có hiệu lực được tính dựa vào phương pháp chi phí lao động trên
một đơn vị sản phẩm (111 NEUZF…), chỉ số tỷ giá thực có hiệu lực được tính dựa vào phương
pháp chi phí lao động trên một đơn vị sản phẩm được chuẩn hóa (111 REUZF…), chỉ số tỷ giá
thực có hiệu lực được tính dựa vào phương pháp chi phí lao động trên một đơn vị sản phẩm
(11165UM.ZF110).
Lãi suất thực trong mô hình cơ bản được tính bằng cách lấy lãi suất 3 tháng của trái phiếu
Kho bạc trừ đi tỷ lệ lạm phát tính theo chỉ số giảm phát GDP theo quý. Chênh lệch kỳ hạn được
Dữ liệu khác như lãi suất, CPI, GDP tiềm năng, và nợ công được thu thập từ FRED. Lãi suất
thực trong mô hình cơ bản được tính bằng cách lấy lãi suất 3 tháng của trái phiếu Kho bạc trừ đi tỷ
lệ lạm phát tính theo chỉ số giảm phát GDP theo quý. Số liệu chi tiêu quốc phòng được lấy từ
CITIBASE.
Cuối cùng, dữ liệu cho mô hình VAR được thu thập từ những nguồn sau: Tỷ số của cân đối
ngân sách sơ cấp với GDP được lấy từ OECD Economic Outlook, chỉ số giảm phát GDP được lấy
từ OECD Quarterly National Account đối với Mỹ, Đức, Anh, và từ International Financial Statistic
đối với Pháp và Nhật, lãi suất trái phiếu Kho bạc 3 tháng và tỷ giá hối đoái được thu thập từ
International Financial Statistic, lãi suất trái phiếu Kho bạc 3 tháng và tỷ giá trao đổi đối với dollar
Mỹ (lấy số trung bình trong kỳ) được lấy từ International Financial Statistic. Ở Nhật, do không có
lãi suất trái phiếu Kho bạc 3 tháng nên lãi suất thị trường được sử dụng để thay thế. Đối với dữ liệu
thu nhập quốc dân của Đức, dữ liệu về nước Đức thống nhất không tìm được trong khoảng thời
gian trước 1991. Đầu tiên, dữ liệu của Tây Đức được sử dụng để tính tỷ lệ tăng trưởng. Sau đó, dữ
liệu của thời kỳ trước 1991 được ước lượng dựa vào tỷ lệ tăng trưởng. Số liệu xuất khẩu, nhập khẩu
của Mỹ đối với từng nước còn lại trong G5 được lấy từ FRED.
GDP trung bình dựa trên PPP (để tính toán trọng số áp dụng cho các nước G5, trừ Mỹ) được
lấy từ World Development Indicators.
IV. NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU:
4.1 Những thống kê và vấn đề sơ bộ:
Theo các khái niệm đã trình bày phần trên, tài khoản vãng lai được tính như sau:
Tài khoản vãng lai = Tiết kiệm – Đầu tư + Sai số thống kê
= Tiết kiệm cá nhân – Thâm hụt ngân sách sơ cấp + Lãi ròng
nhận được - Đầu tư + Sai số thống kê
Bảng 1: Mối tương quan cơ bản
Hệ số tương quan
với CUR
Hệ số tương quan
với RER
Tiết kiệm Chính phủ/GDP - 0.11 - 0.08
Tiết kiệm Chính phủ sơ cấp/GDP - 0.16 0.03
của đầu ra đối với thuế ròng trong một quý. Thêm vào đó, thâm hụt ngân sách chính phủ cũng có
thể phụ thuộc vào mức độ trễ của những biến số khác. Ví dụ như: một vài yếu tố của thu nhập công
như thuế thu nhập, có thể phụ thuộc vào mức độ trễ của hoạt động kinh tế. Tuy nhiên tác giả không
điều chỉnh những biến hiện hành khác ngoài GDP thực - biến có tính đến độ trễ của những quyết
định quan trọng trong chính sách tài khóa. Nghĩa là, việc điều chỉnh GDP thực hiện hành là cần
thiết để kiểm soát những phản ứng nội sinh hiện hành của thâm hụt ngân sách sơ cấp lên hoạt động
kinh tế hiện hành. Trong khi đó, việc không điều chỉnh những biến hiện hành khác là hợp lý để
9
GVHD: TS. Nguyễn Khắc Quốc Bảo Nhóm 07 – Lớp Ngân hàng Ngày 2 – K21
nhận ra những thay đổi do những yếu tố ngoại sinh hay do chủ quan của Chính phủ trong thâm hụt
ngân sách, vì những thay đổi như vậy ít phụ thuộc vào những biến hiện hành khác bởi độ trễ của
những quyết định trong chính sách tài khóa. Mô hình sử dụng dữ liệu hàng quý và một kỳ hạn cố
định. Mô hình bốn độ trễ được chọn.
Biểu đồ 3: Mô hình nhận dạng cơ bản, 1973-2004:
Toàn bộ biến động của thâm hụt ngân sách chính phủ sơ cấp không phải chỉ có cú sốc thâm
hụt ngân sách chính phủ sơ bộ mà còn do ảnh hưởng lớn hơn nhiều từ kết quả của những cú sốc
khác. Cụ thể là:
Phân tích phương sai sai số dự báo của thâm hụt ngân sách trong bảng 2 (những số trong
dấu ngoặc đơn là dải sai số 68%) cung cấp những bằng chứng rõ hơn cho kết quả này. Sự đóng góp
của những cú sốc thâm hụt ngân sách (ngoại sinh) đến những biến động của chính nó là 42.8%
trong chuỗi 4 quý và ít hơn nhiều trong những chuỗi thời gian dài hơn. Nghĩa là, những yếu tố
ngoại sinh đóng góp ít hơn nhiều ½ của tổng biến động thâm hụt ngân sách. Mặt khác, đóng góp
của những cú sốc sản lượng đầu ra thì nhiều hơn 50% tại mọi chuỗi thời gian được thể hiện trong
bảng 2. Điều này cho thấy rằng mô hình thực tiễn của tác giả cần tính đến những yếu tố nội sinh
quan trọng của thâm hụt ngân sách, đặc biệt là những yếu tố nội sinh đối với những cú sốc đầu ra
của cân đối ngân sách.
10
GVHD: TS. Nguyễn Khắc Quốc Bảo Nhóm 07 – Lớp Ngân hàng Ngày 2 – K21
Bảng 2: Phân tích phương sai sai số dự báo của GOV
Thời gian\Cú sốc RGDP GOV CUR RIR RER
Một cú sốc lãi suất thực tăng sẽ làm tăng tỷ giá hối đoái thực và tác động này tuân theo điều
kiện cân bằng lãi suất thực không đảm bảo. Lãi suất thực bị tác động là do chính sách thắt chặt tiền
11
GVHD: TS. Nguyễn Khắc Quốc Bảo Nhóm 07 – Lớp Ngân hàng Ngày 2 – K21
tệ, sản lượng đầu ra bị giảm, tăng thâm hụt ngân sách chính phủ sơ cấp và làm tăng tỷ giá hối đoái
thực.
4.3 Những tác động đối với các thành phần của tài khoản vãng lai và tỷ giá thực
Tác giả tìm hiểu thêm vì sao và như thế nào có sự gia tăng trong thâm hụt ngân sách chính
phủ sẽ giúp cải thiện tài khoản vãng lai và làm giảm giá trị đồng nội tệ trong tỷ giá thực. Bằng cách
sử dụng mô hình cơ bản, nhưng có thêm 01 biến mới (CURA) { RGDP, GOV, CUR, CURA, RIR,
RER}.
Tài khoản vãng lai = Tiết kiệm cá nhân - Thâm hụt ngân sách sơ cấp
+ Thu lãi ròng của Chính phủ - Đầu tư tư nhân
- Đầu tư Chính phủ + Sai số thống kê
Biểu đồ 4. Tác động của cú sốc thâm hụt ngân sách chính phủ sơ bộ.
Kết quả cho thấy, khi có sự xuất hiện sự gia tăng thâm hụt ngân sách sơ cấp (tiết kiệm
Chính phủ giảm), tiết kiệm cá nhân tăng vọt để bù đắp cho mức giảm tiết kiệm Chính phủ. Tuy
nhiên sự gia tăng của tiết kiệm cá nhân không đủ bù đắp sự gia tăng thâm hụt ngân sách. Tóm lại
khi tiết kiệm tư nhân tăng lên và đầu tư tư nhân giảm xuống lớn hơn thâm hụt ngân sách trong ngắn
hạn. Do đó, tài khoản vãng lai được cải thiện trong ngắn hạn. Những thành phần khác như chi trả
lãi vay ròng của Chính phủ, sai số thống kê thay đổi không đáng kể.
Kết quả cũng cho thấy, tỷ giá hối đoái danh nghĩa cũng tăng không đáng kể. Vì vậy, tác giả
cho rằng tỷ giá hối đoái thực tăng sau khi các cú sốc thâm hụt ngân sách chính phủ sơ cấp tăng là
do tỷ giá hối đoái danh nghĩa tăng.
4.4 Tác động của các thành phần ngân sách Chính phủ đến tài khoản vãng lai
Đầu tiên, tác giả xem xét tác động của chi tiêu Chính phủ hay sự mua hàng hóa của Chính
phủ. Tác giả đãcấu trúc mô hình trở thành {GOV, RGDP, CUR, RIR, RER}, trong đó log của chi
tiêu Chính phủ thực được xem là GOV.
12
GVHD: TS. Nguyễn Khắc Quốc Bảo Nhóm 07 – Lớp Ngân hàng Ngày 2 – K21
RIR 0.52(− 0.46,0.89) 0.01(− 0.01, 0.03) 1.6(− 1.5, 6.2)
RER − 0.98 (− 0.47,− 0.97) − 0.03 (− 0.04,− 0.01) − 6.8 (− 13.0,− 1.2)
8 quý 0.34(0.48,0.18) RGDP 0.98(0.92,0.98) 0.40(0.27,0.45) 117.5(83.6,167.0)
GOV 0.63(0.01,0.79) 0.06(0.00,0.10) 16.4(0.4,34.2)
CUR 0.05(− 0.24,0.55) 0.00(− 0.02, 0.04) 0.7(− 8.9, 16.0)
RIR 0.30(− 0.39,0.72) 0.01(− 0.01, 0.03) 1.8(−2.9, 9.9)
RER − 0.97 (− 0.97,− 0.73) − 0.12 (−0.17,−0.05) − 36.4 (− 76.5,− 10.0)
(2) RER và GOV
4 quý 0.09(− 0.05,0.22) RGDP 0.99 (0.79,0.99) 0.14 (0.04,0.21) 153.5(− 75.4,195.6)
GOV 0.93 (0.20,0.94) 0.14 (0.09,0.25) 97.5(− 31.4,139.9)
CUR 0.11 (− 0.69,0.69) 0.00 (− 0.01, 0.01) 1.1(− 10.1,12.7)
RIR − 0.36 (− 0.81,0.62) − 0.01 (− 0.03, 0.01) − 9.6 (− 32.3,27.8)
RER − 0.85 (− 0.87,− 0.72) − 0.13 (− 0.18,− 0.05) − 142.6 (− 202,185)
Bảng 3(1) cho thấy hệ số tương quan không điều kiện của sai số dự báo đối với tài khoản
vãng lai và thâm hụt ngân sách trong 4 và 8 quý cho thấy trong ngắn và trung hạn, thâm hụt ngân
sách Chính phủ và tài khoản vãng lai có xu hướng biến đổi cùng chiều. Những cú sốc về CUR và
RIR cũng cho ra những mối tương quan xác định trong khi cú sốc về RER lại cho thấy mối tương
quan phủ định. Sự cùng biến động cùng chiều (hay cùng biến động không điều kiện) chủ yếu là kết
quả của những cú sốc đầu ra. Vì vậy, tác giả đã kết luận rằng cú sốc đầu ra là nguyên nhân quan
trọng nhất dẫn đến hiện tượng bộ đôi đối nghịch mà chúng ta quan sát thấy thông qua dữ liệu.
Nhưng trong một chừng mực nhất định, cú sốc thâm hụt ngân sách cũng góp phần tạo nên bộ đôi
đối nghịch.
Bảng 3 (2) cho thấy kết quả phân tích cùng biến động của tỷ giá thực và thâm hụt ngân sách
Chính phủ. Cú sốc RGDP và GOV sinh ra một mối tương quan xác định cao và nó được bù đắp
bằng một mối tương quan phủ định cao được sinh ra bới những cú sốc RIR và RER. Trong 4 quý,
cú sốc GOV và RGDP có vai trò ngang nhau trong việc giải thích sự biến đổi cùng chiều của RER
và GOV; còn trong 8 quý, mức đóng góp của cú sốc RGDP lớn hơn đóng góp của cú sốc GOV.
4.6 Kiểm định thực nghiệm mở rộng và kiểm định tính chắc chắn của mô hình:
14
GVHD: TS. Nguyễn Khắc Quốc Bảo Nhóm 07 – Lớp Ngân hàng Ngày 2 – K21
những biến ngoại sinh cùng thời được đặt đầu tiên. Chú ý rằng GOV* được đặt trước GOV để xác
định những cú sốc thâm hụt ngân sách của Mỹ mà không tương quan với sự thay đổi trong thâm hụt
ngân sách của những nước khác. Thêm vào đó, RGDP và RGDP* cũng được tính riêng để xây
dựng cú sốc thâm hụt ngân sách Mỹ bằng cách điều chỉnh một cách phù hợp cú sốc RGDP.
15
GVHD: TS. Nguyễn Khắc Quốc Bảo Nhóm 07 – Lớp Ngân hàng Ngày 2 – K21
Biểu đồ 6. Kiểm định mở rộng.
Biểu đồ 6 báo cáo các kết quả cho những mô hình mở rộng này. Các đồ thị trong 02 cột đầu
tiên cho thấy phản ứng của tài khoản vãng lai trong khi các đồ thị trong 02 cột cuối thể hiện phản
ứng của tỷ giá thực. Trong hầu hết trường hợp, tài khoản vãng lai được cải thiện và tỷ giá thực giảm
(đồng nội tệ tăng giá trị). Trong ngắn hạn những hiệu ứng này có ý nghĩa ở mức xác suất 68% trong
hầu hết các trường hợp.
4.7 Thực nghiệm mở rộng đối với các thành phần ngân sách chính phủ:
Trong phần này, tác giả sử dụng mô hình phi đệ quy để kiểm định sâu hơn tác động của hai
thành phần của ngân sách chính phủ: chi tiêu và thuế ròng. Các biến trong mô hình gồm {GOV1,
GOV2, RGDP, CUR, RIR, RER}, trong đó chi tiêu thực của chính phủ được sử dụng như GOV1 và
tỉ số chuyển nhượng ròng trên GDP được sử dụng như GOV2.
Đồng thời, tác giả sử dụng mô hình Edelberg, Eichenbaum, và của Fisher ("EEF") để kiểm
định tác động của cú sốc chi tiêu mua sắm chính phủ lên tài khoản vãng lai. Các biến trong mô hình
này gồm {CUR, G Spend, GDP, G Mill Spend, TBR, PPIF} lần lượt là tài khoản vãng lai, chi tiêu
thực của chính phủ, GDP thực, chi tiêu quốc phòng thực của chính phủ, lãi suất trái phiếu kho bạc
ba tháng và chỉ số giá cả sản xuất của nhiên liệu thô.
16
GVHD: TS. Nguyễn Khắc Quốc Bảo Nhóm 07 – Lớp Ngân hàng Ngày 2 – K21
Biểu đồ 7. Kiểm định mở rộng.
Các đồ thị trong cột đầu tiên là các kết quả từ mô hình phi đệ quy, cho thấy sự cải thiện tài
khoản vãng lai và sự mất giá đồng nội tệ trong tỷ giá thực. Cột thứ hai cho thấy những tác động của
những biến giả tài khóa từ mô hình mở rộng EEF, cho thấy tài khoản vãng lai xấu đi trong giai đoạn
đầu tiên do sự giảm xuống ban đầu trong chi tiêu mua sắm chính phủ. Từ giai đoạn kế tiếp trở đi,
chi tiêu mua sắm chính phủ bắt đầu tăng và tài khoản vãng lai cũng bắt đầu cải thiện. Kết quả này