Chính sách tiền tệ và tỷ giá hối đoái: Mô hình VAR
MỤC LỤC
ABTRACT
Bài viết này đánh giá khả năng của mô hình tự hồi quy véc tơ để xác định một
cách đầy đủ về tầm quan trọng và sự ảnh hưởng của kênh truyền dẫn chính sách tiền
tệ lên các khu vực của nền kinh tế (đặc biệt là khu vực sản xuất). Theo những dữ
liệu tổng hợp được từ mô hình DSGE với nền kinh tế thị trường có độ mở nhỏ như
Úc, chúng tôi nhận thấy rằng mô hình cấu trúc tự hồi quy véc tơ (VAR) được xem là
hợp lý trong việc đo lường các phản hồi của các biến số kinh tế vĩ mô trước những
cú sốc (shock) chính sách tiền tệ. Mặc trái của mô hình này là việc sử dụng những
giới hạn nghịch loại 0 (zero-type) cho thấy lạm phát có thể tăng khi lãi suất không
kỳ vọng tăng, trong khi tỷ giá hối đoái có thẻ tăng hoặc giảm phụ thuộc vào thứ tự
của các biến. Mô hình cấu trúc tự hồi quy véc tơ (SVAR) dường như có thể khắc
phục được những puzzle liên quan đến tỷ giá hối đoái thật (real), đã cho thấy rằng
việc đủ số lượng các loại cú sốc (shocks) khác nhau được tìm thấy. Kết quả này dự
báo sự nghi ngờ đối với quan niệm thông thường rằng các phân rã trung vị (median
impulses) là sự mô tả phù hợp nhất của quá trình tạo ra những cơ sở dữ liệu đúng.
1. Giới thiệu
Mô hình tự hồi quy vector (VAR) được sử dụng rộng rãi để tìm hiểu tác động
của chính sách tiền tệ đối với nền kinh tế. Trong khi kết quả của các mô hình nói
Tiểu luận tài chính quốc tế Page 1
Chính sách tiền tệ và tỷ giá hối đoái: Mô hình VAR
chung là phù hợp với lý thuyết kinh tế, họ có nhiều vấn đề khác nhau. Một trong số
đó là vấn đề về giá, một thuật ngữ do Eichenbaum (1992) đề cập đến một tình
huống trong đó chính sách thắt chặt bất ngờ trong chính sách tiền tệ dẫn đến sự gia
tăng lạm phát. Những biến động đã được tìm thấy liên quan đến tỷ giá hối đoái thực
để đáp ứng với một cú sốc chính sách tiền tệ. Tiêu chuẩn lý thuyết cho rằng một
chính sách tiền tệ thắt chặt bất ngờ dẫn đến một sự đánh giá trực tiếp của tiền tệ và
một khấu hao trong tương lai phù hợp với tính chẵn lẻ phát hiện lãi suất (UIP) (UIP:
là một hàm chủ yếu trong mộ hình cấu trúc kinh tế mở, trong công thức đơn giản
nhất của nó cho thấy rằng một sự thay đổi của tỷ giá hối đoái mong đợi trong tương
được đặt vào cú sốc chính sách tiền tệ. Điều này đặt ra câu hỏi liệu việc sử dụng của
một tập tối thiểu các tự hồi quy là đủ để xác định đúng phản ứng của tỷ giá hối đoái.
Tiểu luận tài chính quốc tế Page 2
Chính sách tiền tệ và tỷ giá hối đoái: Mô hình VAR
Câu hỏi này đặc biệt phù hợp, Bjørnland (2009) cho rằng - sử dụng hồi quy trong
dài hạn giải thích sự ảnh hưởng của sự biến đổi của chính sách tiền tệ đối với tỷ giá
hối đoái , không có bằng chứng về sự biến đổi tỷ giá hối đoái trong bốn nền kinh tế
mở nhỏ.
Bài viết này xem xét các kết quả của việc sử dụng các mô hình tự hồi quy
VAR đệ quy trong việc xác định sự biến đổi của chính sách tiền tệ khi dữ liệu chung
được xử lý như một đánh giá mô hình cân bằng tổng thể cho các nền kinh tế mở nhỏ
ỡ Australia (theo tinh thần của Gali và Monacelli, năm 2005 ). Đặc biệt, kiểm định
các mô hình này có tính ứng dụng rộng rãi hay không. Nó phát hiện ra rằng các mô
hình tự hồi quy cũng hợp lý trong việc ước tính phản ứng của kinh tế vĩ mô với
những biến động của chính sách tiền tệ, đặc biệt là so mô hình VAR sử dụng một
cấu trúc quy nạp, thường là không phù hợp với kết quả của mô hình DSGE. Sử dụng
một thủ tục xác định đó là bất khả tri về hướng của phản ứng tỷ giá hối đoái, bài viết
này xem xét mô hình VAR có khả năng để giải quyết những vấn đề nan giải của tỷ
giá hối đoái thực.
Nó tìm thấy rằng các phương pháp tự hồi quy hướng đến phục hồi các phản
ứng …
ý, với điều kiện là một số lượng đủ của các cú sốc được xác định duy nhất, nếu
chúng ta chỉ mới xác định các cú sốc chính sách tiền tệ, phù hợp với Scholl và Uhlig
(2008) , Các câu đố tỷ giá vẫn còn. Ngoài ra, nó cho thấy các biện pháp của mô hình
VAR không chính xác.
Tóm tắt câu hỏi nghiên cứu: sự ảnh hưởng của các biến số kinh tế vĩ mô đến
những cú sốc chính sách tiền tệ như thế nào? Các yếu tố liên quan đến tỷ giá thực,
cho phép chúng ta xác định các cú sốc tiền tệ trực giao?
3. Phương pháp nghiên cứu:
3.1 Phương pháp nghiên cứu: định lượng
χ
t
: quarterly linearly- detrended log real GDP
π
t
: demeaned trimmed-mean inflation bao gồm interest và thuế
r
t
: demeaned RBA cash rate
q
t
: linearly-detrened log of tỷ giá thực song phương
cho các mẫu trong giai đoạn trên.
Bảng 1 tóm tắt kết quả đánh giá từ mô hình DSGE
Posterior statistics dựa trên 1 triệu draws sử dụng phương pháp MCMC
(Markov Chains Monte Carlo) với 20% burn-in period.
Ta kiểm định:
- Nhân tố chiết khấu β= 0.99 (áp dụng cho cả 2 nền kinh tế nhỏ và lớn)
- Độ mở cửa α= 0.25: tương ứng với giá trị hàng hóa nước ngoài trong giỏ
hàng tiêu dùng của người Úc.
- σ= 1.5; τ= 1.0; ι= 1.0; ϕ= 3.0 (cho cả 2 nền kinh tế) phù hợp với các kết quả
nghiên cứu khác.
- Tham số độ lưu ρ
a
và ρ
χ
được kiểm định tuần tự = 0.85 và 0.80. Ta chọn kiểm
định 2 tham số này vì ước lượng của chúng có xác suất dao động quanh 1 => điều
này làm nổi bật vấn đề là mô hình này không có độ lưu tạo ra do nội sinh, do đó
cách duy nhất để phù hợp với độ lưu trong dữ liệu là chọn lựa những biến động
: lạm phát nước ngoài (foreign inflation)
Tiểu luận tài chính quốc tế Page 6
Chính sách tiền tệ và tỷ giá hối đoái: Mô hình VAR
r
t
*
: lãi suất nước ngoài (foreign interest rate)
y
t
: sản lượng trong nước (domestic output)
π
t
: lạm phát trong nước (domestic inflation)
r
t
: lãi suất trong nước (domestic interest rate)
q
t
: tỷ giá thực (real exchange rate)
Đây là các biến điển hình được các nhà nghiên cứu sử dụng để đánh giá các
mô hình VAR. Để phù hợp với giả định trong nền kinh tế nhỏ mở, chúng ta bắt buộc
khóa các yếu tố ngoại sinh, với các biến nước ngoài không bị ảnh hưởng bởi các
thay đổi trong nước. Chúng ta đánh giá 2 mô hình VAR, tương ứng với đại diện mô
hình VAR của DSGE.
Độ lớn của những thay đổi trong chính sách tiền tệ được tiêu chuẩn hóa bằng
25 điểm cơ sở. Điều này đảm bảo chắc chắn rằng sự khác nhau giữa IRFs đúng thực
tế và IRFs được ước lượng không chỉ đơn giản là do khuynh hướng trong việc ước
lượng độ lớn của thay đổi trong chính sách
4.2.1 Mô hình VAR đệ quy
Tiểu luận tài chính quốc tế Page 7
Hình 2 và 3 so sánh những phản ứng đẩy từ mô hình đệ quy với những phản
ứng đúng thực tế từ mô hình DSGE. Tương tự kết quả nghiên cứu của Carlsfrom
(2009), độ lớn và hình dạng của phản ứng đẩy là khác so với kết quả của mô hình
DSGE.
Thứ tự 2 (hình 3) cho thấy các vấn đề tỷ giá hối đoái: tỷ giá hối đoái giảm khi
chính sách tiền tệ thắt chặt, hơn nữa, phản ứng đầu tiên của sản lượng đầu ra là tăng
khi chính sách tiền tệ thắt chặt.
Thứ tự 1 (hình 2) cho kết quả là tỷ giá thực tăng nhưng độ tăng lớn hơn nhiều
so với các phản ứng theo lý thuyết.
Tiểu luận tài chính quốc tế Page 8
Chính sách tiền tệ và tỷ giá hối đoái: Mô hình VAR
Trong mô hình DSGE, chính sách tiền tệ và tỷ giá thực tác động đồng thời lẫn
nhau. Vì vậy, các vấn đề liên quan đến tỷ giá hối đoái thực dường như là do những
giới hạn ‘zero type’ gây ra ( Faust & Rogers 2003 cũng đã nhận thấy như vậy)
Cả 2 mô hình VAR đều đưa ra vấn đề giá với lạm phát tăng do những thay đổi
trong chính sách tiền tệ.
Hình 2 và 3 nhấn mạnh vấn đề ước lượng các phản ứng đẩy rất nhạy cảm với
việc đưa ra các giả định để nhận dạng (kết quả của thứ tự 1 và 2 khá khác nhau) .
4.2.2 Mô hình VAR dấu hiệu hạn chế
Bây giờ chúng ta kiểm tra mô hình Sign- restricted VARs có thể xác định
những thay đổi trong chính sách tiền tệ tốt như thế nào.
Các mô hình này thực hiện việc xác định bằng cách áp đặt chiều hướng mà các
biến quan trọng sẽ phản ứng với các thay đổi khác nhau.
Tập hợp các dấu hiệu hạn chế được chấp nhận trong bài nghiên cứu này thì
được trình bày trong bảng 2
Các giả định:
- Các biến nước ngoài trong mô hình DSGE là các biến ngoại sinh.
- Những thay đổi trong nước không ảnh hưởng đến các biến nước ngoài, trong
khi phản ứng của các biến trong nước đối với những thay đổi nước ngoài là không
hạn chế.
có 7 biến trong mô hình nhưng chúng ta chỉ xác định được 6 thay đổi. Do đó, có 1
thay đổi không xác định mà ta không áp đặt dấu hiệu hạn chế lên nó. Fry and Pagan
(2010) nhận thấy điều này có thể dẫn đến multiple shocks problem, nghĩa là những
thay đổi không xác định có thể tương tự với những thay đổi đã được xác định khi sử
dụng dấu hiệu hạn chế. Điều này rất đáng lưu ý, tuy nhiên không có khả năng phân
biệt giữa một thay đổi tiêu cực trong năng suất và một thay đổi tích cực trong chi phí
đẩy.
Các kết quả này thì cho thấy rằng giá trị trung bình thì không nhất thiết phải
theo mô hình thực tế. Kết quả này được nhấn mạnh ở Hình 5, cho thấy phân phối
của các phản ứng đẩy theo mô hình VAR dấu hiệu giới hạn của các biến sản lượng,
lạm phát và tỷ giá thực đối với những thay đổi trong chính sách tiền tệ. Những
đường đứt quảng dọc xuống thể hiện những phản ứng theo thực tế. Vùng mô tả các
phản ứng đẩy theo thực tế của các biến sản lượng, lạm phát và tỷ giá thực theo thứ
tự nằm trong trong khoảng 36, 9 vả 94% . Không có vùng nào nằm trong khoảng
50% - giá trị trung bình. Sự cố gắng đáng chú ý để tiến gần với những phản ứng đẩy
thực tế thì hiệu quả hơn so với việc đo lường hướng theo giá trị trung bình bằng hình
vẽ , nhưng vẫn còn một số vấn đề nhỏ không đồng nhất. Hơn nữa xu hướng này thì
dễ dàng để nhận biết hơn khi những thay đổi trong năng suất và tổng cầu được xác
định.
Tiểu luận tài chính quốc tế Page 11
Chính sách tiền tệ và tỷ giá hối đoái: Mô hình VAR
5. Kết luận
Nghiên cứu này tập trung vào tác động truyền dẫn của tỷ giá hối đoái, tức là,
mức độ mà sự thay đổi trong diễn biến tỷ giá hối đoái dẫn đến sự thay đổi các chỉ số
giá cả trong nước. Đo lường tác động truyền dẫn này là quan trọng bởi nhiều lý do.
Những chuyên gia về tiền tệ có khuynh hướng xem tỷ giá hối đoái như là 1 kênh chủ
yếu trong cơ chế truyền tải của chính sách tiền tệ. Đặc biệt là trong những nền kinh
tế nhỏ, mới nổi, thật là cần thiết để người làm chính sách đánh giá mức độ chịu ảnh
hưởng của lạm phát trong nước bởi tỷ giá hối đoái.