ĐỀ tài CHÍNH SÁCH TIỀN tệ và tỷ GIÁ hối đoái ước LƯỢNG của mô HÌNH VAR - Pdf 95

Monetary policy and the exchange rate: Evaluation of VAR models
GVHD: TS. Nguyễn Khắc Quốc Bảo

Nhóm 32 – NH Ngày 2 – K21 Trang i
Danh sách nhóm 32 – Ngân hàng Ngày 2 – K21
Stt Họ và tên Năm sinh
1 Nguyễn Như Hùng 1986
2 Nguyễn Thị Ngọc Linh 1988
3 Phan Thị Ánh Ngọc 1987

Monetary policy and the exchange rate: Evaluation of VAR models
GVHD: TS. Nguyễn Khắc Quốc Bảo

Nhóm 32 – NH Ngày 2 – K21 Trang ii
NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN


3.2. Đánh giá mô hình nền kinh tế có độ mở nhỏ: 8
3.2.1. Ước lượng tham số 8
3.2.2. Phản ứng xung lực 10
4. Nội dung và kết quả nghiên cứu: 12
4.1. Recursive VARs 13
4.2. Sign – restricted VARs 14
4.3. Mở rộng 18
5. Kết luận 21

Monetary policy and the exchange rate: Evaluation of VAR models
GVHD: TS. Nguyễn Khắc Quốc Bảo

Nhóm 1 – NH Đêm 2 – K21 Trang 2
TÓM TẮT
Bài viết này xem xét khả năng của các mô hình VAR để xác định cơ chế truyền dẫn chính
sách tiền tệ một cách có kiểm soát. Dữ liệu được mô phỏng từ mô hình kinh tế mở nhỏ DSGE tại
Úc. Bài viết tìm thấy mô hình sign – restricted VAR hợp lý khi ước lượng mức độ phản ứng của
các biến số kinh tế vĩ mô với cú sốc chính sách tiền tệ. Điều này trái ngược với mô hình recursive
zero – type restrictions, lạm phát có thể tăng lên sau khi lãi suất tăng bất ngờ trong khi đó tỷ giá
hối đoái có thể đánh giá cao hoặc thập tùy thuộc vào các biến khác. Mô hình sign – restricted
VAR làm sáng tỏ những câu hỏi liên quan đến tỷ giá hối đoái thực với điều kiện xác định được số
lượng các cú sốc khác nhau. Mặc dù mô hình sign – restricted VAR đưa ra các kết quả đúng, tuy
nhiên vẫn còn những thiếu xót gây hiểu lầm và chưa phản ánh đúng với thực tế. Những phát hiện
này làm nghi ngờ về những khái niệm những phản ứng trung bình là mô tả hợp lý của quá trình
tạo dữ liệu đúng.
Từ khóa: mô hình VAR, sign restrictions, định nghĩa về những cú sốc, mô hình nền kinh
tế mở nhỏ.
Monetary policy and the exchange rate: Evaluation of VAR models
GVHD: TS. Nguyễn Khắc Quốc Bảo


2.1. Các nghiên cứu đã thực hiện thông qua mô hình recursive VAR (VAR đệ quy)
Eichenbaum, Evans (1995), Kim, Roubini (2000) nghiên cứu dựa trên các nước G7 và Mojon,
Peersman (2001) và Peersman, Smets (2003) đã nghiên cứu dựa trên mô hình VAR đệ quy để
không hạn chế sự tương tác giữa chính sách tiền tệ và tỷ giá hối đoái.
2.2. Các nghiên cứu đã thực hiện thông qua mô hình sign – restricted VAR (VAR dấu
hiệu hạn chế)
Canova, De Nicoló (20020 và Uhlig (2005) sử dụng mô hình sign-restriction thay thế cho mô
hình recursive VAR để nhận dạng những cú shock trong chính sách tiền tệ và ảnh hưởng của cú
sốc chính sách tiền tệ lên tỷ giá hối đoái.
Faust and Rogers (2003) cũng sử dụng mô hình Sign-restriction nhưng không tìm ra được khoảng
thời gian mà tỷ giá hối đối chịu ảnh hưởng từ cú sốc chính sách tiền tệ.
Scholl và Uhlig (2008) cũng sử dụng mô hình Sign-restriction với tập số biến nhỏ nhưng không
hạn chế sự phản ánh của tỷ giá hối đoái khi cú sốc chính sách tiền tệ xảy ra, trong khi đó mô hình
gặp nhiều chỉ trích vì chỉ sử dụng một cú sốc để tác động mà bỏ qua nhiều yếu tố khác. Điều này
dẫn đến câu hỏi liệu với tập số biến nhỏ nhất dựa trên cú sốc chính sách tiền tệ thì mô hình Sign-
restriction có phản ánh “đúng” tỷ giá hối đoái.
Bjørnland (2009) giải quyết vấn đề của Scholl và Uhlig (2008) bằng việc sử dụng mô hình long-
rung restrictions để nói lên sự tác động của chính sách tiền tệ lên tỷ giá hối đoái tuy nhiên đã
không tìm thấy sự ảnh hưởng của cú sốc tài chính tiền tệ lên tỷ giá hối đoái khi sử dụng những
hạn chế trong dài hạn cho 4 nền kinh tế mở nhỏ.
Canova, Paustian (2007) và Paustian (2007) sử dụng mô hình sign-restriction xác định chính xác
những cú sốc chính sách tiền tệ trong nền kinh tế đóng
2.3. Các nghiên cứu đã thực hiện thông qua 2 mô hình sign and short – run (zero)
restricted VAR
Bjørnland and Halvorsen (2008) sử dụng mô hình sign and short-run (zero) restrictions. Họ tìm
thấy rằng sau cú sốc chính sách tiền tệ thắt chặt, tỷ giá hối đoái tăng và sau đó giảm trở lại ban
đầu. Monetary policy and the exchange rate: Evaluation of VAR models

E
t
biểu thị sự kỳ vọng có điều kiện về thông tin tại thời điểm t.
Đường cong IS hàm ý chỉ chênh lệch giữa mức độ sản lượng nước ngoài hiện tại phụ thuộc vào
mức độ tương lai dự kiến của nó , tổng các yếu tố sản lượng nước ngoài , và tổng
cầu nước ngoài , như sau:
Monetary policy and the exchange rate: Evaluation of VAR models
GVHD: TS. Nguyễn Khắc Quốc Bảo

Nhóm 1 – NH Đêm 2 – K21 Trang 6

Trong đó: : lãi suất danh nghĩa ngắn hạn nước ngoài ; : thể hiện tính chắc chắn và sự thay
thế của thời gian; : tồn tại của ; tồn tại của ; và = , với > 0 điều chỉnh sự
co giãn của thị trường lao động
Chính sách tiền tệ nước ngoài theo quy tắc Taylor có dạng:

Trong đó: là cú sốc chính sách tiền tệ nước ngoài độc lập và phân phối giống nhau, với trung
bình 0 và độ lệch chuẩn là phản ứng của lãi suất nước ngoài đến độ lệch của mục
tiêu lạm phát nước ngoài và chênh lệch sản lượng nước ngoài.

Sản lượng tiềm năng nước ngoài, , là mức đại diện cho các chỉ số danh nghĩa. Ở các nước có
nền kinh tế lớn, có thể biết được mức sản lượng thực tế, , và mức chênh lệch sản lượng, ,
tuân theo mối quan hệ sau:

Tập hợp các biến ngoại sinh ta có: Trong đó: những cú sốc và là độc lập và phân phối giống nhau với, với trung bình 0 và
độ lệch chuẩn tương ứng với ; và các tham số tự hồi quy ít hơn so với sự thống nhất về
giá trị tuyệt đối là

S
t
= giá của hàng hóa nước ngoài (p
f,t
) – giá của hàng hóa trong nước (p
h, t
). Chỉ số giá tiêu dùng
là trung bình có trong số của giá hàng hóa nước ngoài và hàng hóa sản xuất trong nước.
Monetary policy and the exchange rate: Evaluation of VAR models
GVHD: TS. Nguyễn Khắc Quốc Bảo

Nhóm 1 – NH Đêm 2 – K21 Trang 8
. Lạm phát về giá tiêu dùng và lạm phát trong việc sản xuất hàng hóa
trong nước được thể hiện qua công thức:

Tỷ giá hối đoái danh nghĩa, e
t
, giá ngoại tệ so với đồng tiền trong nước, sự mất mát danh
nghĩa của đồng tiền trong nước. Luật 1 giá được giả định, , vậy S
t
được viết là
. Kết hợp các biểu thức, ta thấy tỷ giá hối đoái thực tỷ lệ thuận với các điều
khoản thương mại.
(11)
Kết hợp thị trường chứng khoán quốc tế hoàn thiện, dẫn đến mối quan hệ giữa các đều khoản của
thương mại, sản lượng và cú sốc, ta thấy:
(12)
Mối quan hệ giữa sản lượng thực tế, y
t
, chênh lêch sản lượng, x

chọn hiệu chỉnh hai tham số này vì dự đoán có nhiều khả năng xoay quanh 1. Điều này nêu bật
thực tế là mô hình không tạo ra được sự bền vững nội sinh, do đó cách duy nhất để dữ liệu bền
vững là chọn ra những cú sốc bền bỉ hơn.
Bảng 1: ước lượng tham số của mô hình DSGE
Parameters Prior
mean
Posterior
mean
90 per cent
probability intervals
Prior
distribution
Prior std
dev
Calibrated parameters

0.99 0.99

1.50 1.50

1.00 1.00

1.00 1.00

3.00 3.00
Calvo parameter

0.60 0.60 [0.44-0.77] Beta 0.10
Domestic monetary policy


1.00 9.80 [8.68–10.92] Inv gamma 2

1.00 0.69 [0.52–0.86] Inv gamma 2

1.00 2.35 [1.90–2.80] Inv gamma 2

1.00 0.84 [0.74–0.94] Inv gamma 2

1.00 1.97 [1.59–2.34] Inv gamma 2

1.00 0.22 [0.19–0.25] Inv gamma 2
3.2.2. Phản ứng xung lực
Chức năng xung lực được tạo ra từ mô hình DSGE (dựa trên giá trị trung bình sau của tham số
ước tính) được trình bày trong phần 1. Cú sốc thắt chặt tiền tệ có tác động tiêu cực đến chênh
lệch sản lượng và lạm phát thấp hơn, trong khi tỷ giá hối đoái thực đánh giá cao ngay lập tức (sau
đó mất giá phù hợp với điều kiện UIP). Hầu hết các biến trở lại ban đầu tương đối nhanh chóng.
Nói một cách tổng quát, nó phù hợp với mô hình cân bằng khác nói chung khi tất cả các biến
cùng đồng thời phản ứng với cú sốc tiền tệ.
Điều này không phù hợp với giả định tiêu chuẩn được sử dụng để ước lượng VAR đệ quy, cho
thấy mô hình này gặp phải vấn đề nhận dạng cú sốc chính sách tiền tệ khi dùng dữ liệu được mô
phỏng từ mô hình này.
Monetary policy and the exchange rate: Evaluation of VAR models
GVHD: TS. Nguyễn Khắc Quốc Bảo

Nhóm 1 – NH Đêm 2 – K21 Trang 11

Hình 1: Cú sốc chính sách tiền tệ ảnh hưởng đến Mô hình cấu trúc và Phản ứng xung lực
(phản ứng đẩy)

Monetary policy and the exchange rate: Evaluation of VAR models

Nhóm 1 – NH Đêm 2 – K21 Trang 13
q
t
: tỷ giá hối đoái thực.
Các biến trên là một trong những biến phổ biến được sử dụng để ước lượng theo mô hình VAR.
Để phù hợp với giả định nền kinh tế mở nhỏ, tác giả chặn các yếu tố bên ngoài, với các biến nước
ngoài không tác động lên các cú sốc trong nước.
4.1. Recursive VARs

Hình 3: Cú sốc chính sách tiền tệ ảnh hưởng đến Mô hình Var đệ quy và Phản ứng xung
lực (phản ứng đẩy)
Sử dụng dữ liệu mô phỏng, chúng ta ước tính VAR đệ quy dựa trên dữ liệu được đưa ra ở trên
theo trật tự các biến như trên (y
t
*
,
t
*
,
t
*
,
t
,
t
, r
t
, q
t
) .





- - - -
Foreign productivity






- - - -
Foreign monetary policy






- - - -
Demand 0 0 0






-
Productivity 0 0 0


Hình 4: Cú sốc chính sách tiền tệ ảnh hưởng đến Baseline sign - restricted VAR và Phản
ứng xung lực (phản ứng đẩy)
Ở bảng 2 cho rằng những biến nước ngoài tham gia vào mô hình DSGE dưới dạng quá trình
ngoại sinh, chúng ta giả sử rằng những thay đổi nội địa không ảnh hưởng tới biến nước ngoài,
trong khi độ nhạy của biến nội địa đối với thay đổi nước ngoài là không giới hạn. Chúng ta vẫn
không thể biết độ nhạy của tỷ giá hối đoái đối với tất cả thay đổi trong mô hình. Độ nhạy của tỷ
giá hối đoái thực đối với thay đổi của chính sách tiền tệ trong nước là không giới hạn vì ta muốn
thấy liệu rằng những sign - restristed trên những biến khác là có đủ để nhận diện đường đặc trưng
xung lực hay không, trong điều kiện không tính đến những vấn đề về tỷ giá hối đoái. Chúng ta
tránh những vấn đề về giá cả và sản lượng bằng cách cho rằng lạm phát và sản lượng giảm do
phản ứng lại thay đổi của chính sách tiền tệ thắt chặt.
Hình 4 so sánh độ nhạy của các biến số đối với thay đổi của chính sách tiền tệ trong mô hình sign
- restricted VAR với những biến số trong mô hình đúng. Vùng tô đậm đại diện cho số phần trăm
Monetary policy and the exchange rate: Evaluation of VAR models
GVHD: TS. Nguyễn Khắc Quốc Bảo

Nhóm 1 – NH Đêm 2 – K21 Trang 16
thứ 5 và 95 của độ nhạy từ thuật toán sign - restricted VAR và đường màu xanh đại diện cho
trung bình của nhóm độ nhạy được nhận diện. Fry, Pagan (2010) đã chỉ trích ứng dụng của việc
sử dụng trung bình phân phối của độ nhạy như là một ước lượng địa điểm, vì trung bình của mỗi
điểm nằm trên đường nằm ngang và cho mỗi biến số có thể nhận được từ những mô hình đề cử
khác nhau. Họ cho rằng sử dụng những nỗ lực đơn lẻ duy nhất điều mà sát thực nhất với những
đường xung lực trung bình đối với tất cả biến số. Theo đó đường màu đỏ chỉ cho đường ước
lượng trung bình mục tiêu. Những chỉ trích tương tự đối với những ước lượng trung bình khác đo
bởi những vùng tô đậm này. Chúng ta cũng chỉ ra một nỗ lực duy nhất làm giảm thiểu khoảng
cách từ xung lực đúng (đường màu xanh).
Như được chỉ ra trong Hình 4, sign - restricted VAR đã góp một phần quan trọng hơn mô hình đệ
quy VAR trong việc tái tạo đường đặc trưng xung lực đúng đối với thay đổi chính sách tiền tệ
đồng thời. Mô hình này tìm ra những dấu hiệu của độ nhạy tỷ giá thực. Tuy nhiên, phạm vi của

sao có những thiên lệch cố hữu trong kết quả của VAR sign-restricted mà có giá trị xem xét. Đó
là: số lượng độ trễ trong mô hình VAR, số lượng giai đoạn giới hạn và cườg độ của các cú sốc.
Tác giả chỉ sử dụng tập hợp con của các biến mô hình trong VAR, tác giả có thể giới thiệu thiên
lệch rút gọn bằng cách ước lượng mô hình VAR thứ tự hữu hạn (xem trong Ravenna, 2007).
Kapetanios, Pagan và Scott (2007) nghiên cứu câu hỏi này trong một nghiên cứu mô phỏng. Họ
thấy có 50 độ trễ bắt buộc phải ước lượng phản ứng xung lực và cơ bản là không thể phân biệt
được các giá trị đúng (Mô hình của họ gặp vấn đề từ việc một số biến bị bỏ lỡ, có 26 biến trong
mô hình lý thuyết của họ nhưng chỉ có 6 biến có trong thực nghiệm). Nếu tăng lag length nhằm
làm phù hợp mô hình trong nghiên cứu của tác giả, nó sẽ hợp lý khi số lượng draw cần thiết để
lấp đầy mô hình phải thõa mãn những giới hạn xác định nên giảm lag length. Tuy nhiên, điều này
Monetary policy and the exchange rate: Evaluation of VAR models
GVHD: TS. Nguyễn Khắc Quốc Bảo

Nhóm 1 – NH Đêm 2 – K21 Trang 19
hóa ra không phải. Bảng 3 cho thấy số lượng trung bình các draw cần thiết để tìm một phân hủy
thõa mãn các giới hạn dấu hiệu được đưa ra trong bảng 2 cho các chi tiết lag length khác nhau.
Khi tăng lag length, số lượng các draw ban đầu giảm xuống, nhưng các thuật toán giới hạn dấu
hiệu đòi hỏi số lượng lớn các draw tìm ra một draw thỏa mãn khi lag length vượt quá 16. Hình 7
cho thấy phản ứng xung lực những lag length khác nhau. Có rất ít bằng chứng rằng khi tăng lag
length cải thiện độ chính xác của ước lượng phản ứng xung lực (thử nghiệm chạy mô hình với
1000 quan sát mô phỏng, tăng gấp đôi kích thước mẫu, kết luận này vẫn đúng).
Bảng 3: Acceptance rate.
Lag length L = 1 L = 2 L = 4 L = 8 L = 16 L = 32 L = 50
Total/Accepted 40.023 39.483 39.106 38.94 36.2810 40.367 42.021
Ghi chú: Chỉ số lượng trung bình các draw cần thiết để tìm ra một phân hủy thõa mãn giới hạn
dấu hiệu trong bảng 2

Hình 7. VAR Sign-restricted với độ trễ khác nhau – Phản ứng xung lực với một cú sốc tiền
tệ.
Monetary policy and the exchange rate: Evaluation of VAR models

lượng phản ứng của các biến số kinh tế vĩ mô đối với cú sốc chính sách tiền tệ, đặc biệt là so với
mô hình VAR đệ quy.
Có nhiều hướng khác nhau được trình bày trong bài báo này có thể mở rộng. Một phương pháp sẽ
cho phép thời gian khác nhau trong quá trình tạo dữ liệu. Sẽ thú vị để xem liệu chế độ chuyển đổi
(hoặc tham số thời gian khác nhau) mô hình sign - restricted VAR có thể nắm bắt được sự phá vỡ
trong quá trình tạo dữ liệu ở tất cả.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status