TÀI LIỆU SỬ DỤNG DI SẢN VĂN HÓA TRONG DẠY HỌC VÀ TỔ CHỨC CÁC HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC Ở TRƯỜNG THPT - Pdf 26

TÀI LIỆU
SỬ DỤNG DI SẢN VĂN HÓA TRONG DẠY HỌC VÀ TỔ CHỨC
CÁC HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC Ở TRƯỜNG THPT
1
Phần I. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ DI SẢN VĂN HÓA
1. Khái niệm, đặc điểm và phân loại di sản văn hóa
a. Khái niệm về di sản văn hóa:
Di sản văn hóa Việt Nam bao gồm di sản văn hóa phi vật thể và di sản
văn hóa vật thể (bao gồm di sản văn hóa nhân tạo và di sản thiên nhiên) là sản
phẩm tinh thần, vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, được lưu truyền
từ thế hệ này qua thế hệ khác.
b. Đặc điểm của di sản văn hóa Việt Nam:
Di sản văn hóa Việt Nam là những giá trị kết tinh từ sự sáng tạo văn hóa
của cộng đồng 54 dân tộc, trải qua một quá trình lịch sử lâu đời, được trao
truyền, kế thừa và tái sáng tạo từ nhiều thế hệ cho tới ngày nay. Di sản văn hóa
Việt Nam là bức tranh đa dạng văn hóa, là tài sản quý giá của cộng đồng các
dân tộc Việt Nam và là một bộ phận của di sản văn hóa nhân loại. Di sản văn
hóa Việt Nam có vai trò to lớn trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước của
nhân dân ta.
Di sản văn hóa Việt Nam là những giá trị sáng tạo từ việc học hỏi, giao
lưu và kế thừa từ các nền văn hóa và văn minh của nhân loại. Những giá trị đó
là sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa văn hóa và văn minh của nhân loại với nền
văn hóa bản địa lâu đời của các dân tộc Việt Nam.
Di sản văn hóa Việt Nam, đặc biệt là di sản văn hóa phi vật thể có sức
sống mạnh mẽ, đang được bảo tồn và phát huy trong đời sống của cộng đồng
các dân tộc Việt Nam. Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam bảo vệ
và phát huy giá trị di sản văn hóa thông qua Luật di sản văn hóa năm 2001 (có
hiệu lực từ 01/01/2002), được sửa đổi, bổ sung năm 2009.
c. Phân loại di sản:
Di sản văn hóa Việt Nam được chia thành hai loại: Di sản văn hóa vật thể
và di sản văn hóa phi vật thể.

Lễ hội truyền thống;
Nghề thủ công truyền thống;
Tri thức dân gian.
2. Ý nghĩa của di sản đối với hoạt động dạy học, giáo dục phổ thông
Di sản văn hóa, dù dưới dạng vật thể hoặc phi vật thể đều
có thể sử dụng trong quá trình giáo dục, dạy học dưới hình thức tạo môi trường; tạo
công cụ hoặc là nguồn cung cấp chất liệu để xây dựng nội dung dạy học, giáo dục.
Bàn về các điều kiện giáo dục, dạy học, nhìn chung
các tài liệu về lý luận dạy học, giáo dục chung, đại cương và tài liệu về lý luận
dạy học bộ môn hầu như chưa đề cập đến điều kiện, phương tiện dạy học là
các di sản văn hóa. Gần đây trong phong trào thi đua xây dựng nhà trường thân
thiện, học sinh tích cực, một trong những hoạt động được đặt ra là tổ chức cho
HS tham gia chăm sóc các di sản, chủ yếu là các di tích mang tính lịch sử của
địa phương.
3
Việc khai thác các di sản văn hóa ở địa bàn nhà trường đóng như là nguồn
tri thức, là phương tiện dạy học, giáo dục rất ít khi được quan tâm hoặc nếu có
thường mang tính tự phát. Vì vậy, vai trò và thế mạnh của những di sản văn
hóa phong phú, ở địa phương chưa được khai thác đúng mức để sử dụng trọng
dạy học và các hoạt động giáo dục của nhà trường.
Dưới dạng công cụ, thiết bị dạy học, di sản văn hóa giúp
cho quá trình học tập của HS trở nên hấp dẫn hơn, HS hứng thú học tập và hiểu bài
sâu sắc hơn, phát triển tư duy độc lập sáng tạo, giáo dục tư tưởng, đạo đức cho HS.
Ý nghĩa, vai trò của các di sản văn hóa có thể được phân tích dưới các góc độ sau:
- Về vai trò: Di sản là một nguồn nhận thức, một
phương tiện trực quan quý giá trong dạy học nói riêng, giáo dục nói chung. Vì
vậy, sử dụng di sản trong dạy học ở trường phổ thông có ý nghĩa toàn diện:
+ Góp phần đẩy mạnh, hướng dẫn hoạt động nhận thức cho HS:
Các di sản văn hóa sử dụng trong dạy học, giáo dục đều góp phần nâng
cao tính trực quan giúp người học mở rộng khả năng tiếp cận với đối tượng,

hoàn chỉnh về đối tượng, hiện tượng nghiên cứu. Trong quá trình tiếp cận với
di sản văn hóa theo sự hướng dẫn của GV, các hiện tượng sự vật, các giá trị ẩn
chứa trong di sản sẽ được các em tìm hiểu. Những điều tưởng như quen thuộc
sẽ trở nên hấp dẫn hơn, sống động hơn và HS sẽ có hứng thú với chúng, từ đó
các em có được động cơ học tập đúng đắn, trở nên tích cực và phấn đấu tiếp
nhận kiến thức mới cũng như có thái độ và hành vi thân thiện, bảo vệ di sản
văn hóa tốt hơn.
+ Phát triển trí tuệ của HS:
Trong quá trình học tập, trí tuệ của HS được phát triển nhờ sự tích cực
hóa các mặt khác nhau của hoạt động tư duy, nhờ việc tạo ra những điều kiện
thuận lợi cho sự phát triển khác nhau của hoạt động tâm lí: tri giác, biểu tượng,
trí nhớ,….cho HS tiếp cận di sản đúng mục đích, đúng lúc với những phương
pháp dạy học phù hợp, với sự hướng dẫn chi tiết mang tính định hướng, kích
thích tư duy, GV sẽ giúp HS phát triển khả năng quan sát, khả năng xử lý
thông tin, khả năng phân tích, tổng hợp và so sánh, qua đó phát triển trí tuệ của
các em.
+ Giáo dục nhân cách HS:
Di sản văn hóa là một trong những phương tiện dạy học đa dạng sống
động nhất. Ẩn chứa trong di sản là những giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học,
được lưu truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác nên nó có khả năng tác động
mạnh tới tình cảm, đạo đức, tới việc hình thành nhân cách của HS. Khai thác
được những giá trị ẩn chứa trong các di sản, chuyển giao cho HS để các em
cũng nhận thức được những giá trí đó, GV giúp hình thành ở HS một hệ thống
các quan điểm, các khái niệm về nhận thức thế giới xung quanh, giúp các em
nhận thức được bản chất và có cơ sở giải thích một cách khoa học các sự vật,
hiện tượng liên quan đến di sản. Tiến hành nghiên cứu di sản một cách nghiêm
túc, kỹ lưỡng cũng chính là rèn cho các em tác phong làm việc nghiêm túc,
khoa học.
- Góp phần phát triển một số kỹ năng sống ở HS:
Để tự lực trong cuộc sống, học tập và làm việc hiệu quả, HS rất cần kỹ

trình bày đúng với nội dung chủ đề đang được quan tâm; thông tin đưa ra đầy
đủ, chính xác, được sắp xếp một cách hợp lí, logic và phù hợp với nhu cầu,
trình độ của đối tượng giao tiếp; cách trình bày rõ ràng, ngắn gọn, dễ hiểu và
hấp dẫn đối tượng giao tiếp. Cho HS tiếp cận với di sản, GV cần lưu ý yêu cầu
HS tìm hiểu sự vật hiện tượng liên quan đến di sản một cách chi tiết, cụ thể và
tạo điều kiện để HS trình bày lại được những thông tin thu thập được đồng thời
bộc lộ cả suy nghĩ của cá nhân HS về những gì các em trình bày.
+ Kỹ năng hợp tác:
Hợp tác là cùng chung sức làm việc, giúp đỡ, hỗ trợ lẫn nhau trong một
công việc, một lĩnh vực nào đó vì mục đích chung. Học tập với di sản, đòi hỏi
sự hợp tác chặt chẽ của nhóm HS. Trong quá trình làm việc, HS biết chia sẻ
trách nhiệm, biết cam kết và cùng làm việc có hiệu quả với những thành viên
khác trong nhóm để hoàn thành nhiệm vụ GV giao; biết lắng nghe, tôn trọng,
6
xem xét các ý kiến, quan điểm của mọi người trong nhóm; đồng thời biết hỗ
trợ, giúp đỡ các thành viên khác trong quá trình hoạt động; tôn trọng những
quyết định chung, những điều đã cam kết.
+ Kỹ năng tư duy phê phán:
Kỹ năng tư duy phê phán là khả năng phân tích một cách khách quan và
toàn diện các vấn đề, sự vật, hiện tượng, xảy ra. Khi làm việc với di sản, HS
không chỉ thu thập thông tin rồi mô tả các hiện tượng sự vật được các em tìm
hiểu mà còn cần phải biết phân tích chúng một cách có phê phán. Khi sắp xếp
các thông tin thu thập được theo từng nội dung, các em phân tích, so sánh, đối
chiếu, lí giải các thông tin thu thập được, đặc biệt là các thông tin trái chiều;
xác định bản chất vấn đề, tình huống, sự vật, hiện tượng, đưa ra những nhận
định về những mặt tích cực, hạn chế của vấn đề, tình huống, sự vật, hiện
tượng, Những động tác đó giúp HS phát triển kỹ năng tư duy phê phán.
+ Kỹ năng đảm nhận trách nhiệm:
Đó là khả năng con người tự tin, chủ động nhận nhiệm vụ phù hợp với
khả năng của bản thân, nỗ lực hoàn thành nhiệm vụ và ý thức cùng chia sẻ

thông báo về những loại thông tin cần phải tìm kiếm, nguồn / các địa chỉ tin
cậy có thể cung cấp những loại thông tin đó; HS biết cách chuẩn bị công cụ để
thu thập thông tin; cách tiến hành thu thập thông tin theo kế hoạch đã xây
dựng, cách sắp xếp các thông tin thu thập được theo từng nội dung một cách hệ
thống sau đó phân tích, so sánh, đối chiếu, lí giải các thông tin thu thập được;
xem xét một cách toàn diện, thấu đáo, sâu sắc và có hệ thống các thông tin đó
và cuối cùng là viết báo cáo. Những công việc nêu trên được HS tuần tự thực
hiện. Cách tổ chức như vậy sẽ giúp các em rèn được kỹ năng tìm kiếm và xử lí
thông tin trong quá trình làm việc với di sản.
- Tạo điều kiện tổ chức quá trình họat động của GV và HS một cách hợp lý
Khi làm việc với/ tại nơi có di sản, GV và HS phải gia tăng cường độ làm
việc. GV không thuyết trình về các hiện tượng, sự vật cần tìm hiểu mà cần
hướng dẫn HS tự quan sát, thu thập thông tin, trao đổi trong nhóm để xử lý các
thông tin, tìm hiểu về di sản, để tìm cách trình bày lại những hiểu biết của cá
nhân hoặc nhóm. Đôi khi HS có thể được yêu cầu tổ chức triển lãm những hiện
vật, bài viết giới thiệu về di sản do các em thu thập được. Môi trường làm việc
thay đổi đòi hỏi GV phải có phương pháp dạy học, cách thức tổ chức dạy học
phù hợp, sao cho tập thể HS được lôi cuốn vào công việc tìm hiểu, nghiên cứu
di sản; đòi hỏi từng HS phải làm việc thực sự và phải biết hợp tác với bạn để
cùng hoàn thành nhiệm vụ được giao.
3. Những di sản thường được sử dụng trong dạy học, giáo dục ở nhà
trường phổ thông
Di sản văn hóa ở Việt Nam vô cùng đa dạng, phong phú và có nhiều giá trị.
Tính đến năm 2012, Việt Nam có 07 di sản văn hóa và thiên nhiên thế
giới (Quần thể di tích Cố đô Huế; Vịnh Hạ Long, Phố cổ Hội An; Khu di tích
Mĩ Sơn,Vườn Quốc gia Phong Nha – Kẻ Bàng, Hoàng thành Thăng Long;
Thành nhà Hồ ); 07 di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại (Nhã nhạc cung
đình Huế; Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên; Không gian văn hóa
Quan họ Bắc Ninh; Ca trù, Hội Gióng; Hát Xoan; Tín ngưỡng thờ cúng Hùng
Vương); 03 di sản thông tin tư liệu thế giới (Mộc bản triều Nguyễn; 82 bia đá

thiên nhiên, di sản văn hoá vật thể tiêu biểu của nhân loại. Vịnh Hạ Long thuộc
tỉnh Quảng Ninh được UNESCO ghi danh lần thứ nhất với giá trị cảnh quan
ngoại hạng (năm 1994), lần thứ hai với giá trị địa mạo – địa chất (năm 2000);
Vườn quốc gia Phong Nha – Kẻ Bàng thuộc tỉnh Quảng Bình được
UNESCO ghi danh vào danh mục Di sản thiên nhiên thế giới năm 2003; 05
di sản văn hoá vật thể của Việt Nam được UNESCO ghi danh vào danh mục
di sản văn hoá của nhân loại là: Quần thể các công trình kiến trúc cố đô Huế
thuộc tỉnh Thừa Thiên – Huế (năm 1993); Khu phố cổ Hội An thuộc tỉnh
Quảng Nam; Khu di tích tháp Chàm – Mỹ Sơn thuộc tỉnh Quảng Nam; Khu
trung tâm Hoàng thành Thăng Long – Hà Nội (năm 2010); Thành nhà Hồ
thuộc tỉnh Thanh Hoá (năm 2012)
(2)
.
Về văn hoá phi vật thể: Cả nước có 3355 làng nghề và làng có nghề;
trong số đó có trên 1000 làng được công nhận là làng nghề. Trên 400 làng
được công nhận là làng nghề truyền thống, 145 người được công nhận là
1
() Nguồn : Cục Di sản văn hóa, Bộ VHTTDL.
2
() Nguồn: Cục Di sản văn hóa, Bộ VHTTDL.
9
nghệ nhân. Theo đề nghị của Bộ VHTTDL,Thủ tướng đã quyết định công
nhận 55 làng nghề truyền thống tiêu biểu của quốc gia; công nhận đợt I: 1
nghệ nhân nhân dân, 20 nghệ nhân ưu tú
(3)
.
- Lễ hội: Lễ hội là một hình thức sinh hoạt tín ngưỡng – văn hoá cộng
đồng của nhân dân ở nông thôn, cũng như ở đô thị. Trong các lễ hội đó,
nhân dân tự đứng ra tổ chức, chi phí, sáng tạo và tái hiện các sinh hoạt văn
hoá cộng đồng và hưởng thụ các giá trị văn hoá và tâm linh. Do vậy, lễ hội

thể cần được bảo vệ khẩn cấp của nhân loại (2011); Tín ngưỡng thờ cúng
Hùng Vương là di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại (2012). Văn
bia Quốc Tử Giám – Hà Nội, Châu bản Vương triều Nguyễn cũng đã được
3
() Nguồn: Lưu Duy Dần, Phó Chủ tịch, Tổng Thư ký Hội làng nghề, tổ nghề.
4
() GS.TS. Ngô Đức Thịnh, Mấy nhận thức về lễ hội cổ truyền (Tham luận tại Hội thảo khoa
học : Lễ hội - nhận thức, giá trị và giải pháp quản lý, do Hội đồng Di sản văn hóa quốc gia và Bộ
VHTTDL phối hợp tổ chức tháng 5/2012 tại Hà Nội),Tài liệu lưu tại HĐDSVHQG.
10
ghi nhận là di sản ký ức của khu vực và của nhân loại. Hiện tại, chúng ta
cũng đã hoàn thiện hồ sơ đề nghị UNESCO ghi danh: Đờn ca tài tử Nam Bộ
vào danh mục Di sản văn hoá đại diện của nhân loại…
Khí hậu nước ta nhiệt đới gió mùa, lắm mưa, nhiều bão, nắng nóng, độ
ẩm cao, lại trải qua nhiều cuộc chiến tranh, cộng thêm ý thức bảo tồn di sản
chưa thật tốt, nên có những di sản văn hóa vật thể nay chỉ còn là địa danh, là
phế tích; có những di sản văn hóa phi vật thể thật sự đã bị thất truyền. Đây
thực sự là điều đáng tiếc. Những di sản mà Nhà nước đã xếp hạng,
UNESCO đã ghi danh vào danh mục Di sản đại diện của nhân loại cả vật
thể, phi vật thể và những di sản đã biết đến, chưa được xếp hạng, cũng còn
khá nhiều. Đó chính là cơ sở, là nền tảng để chúng ta sử dụng trong giáo dục
nhằm giữ gìn và phát huy những giá trị của di sản văn hóa đối với hiện tại
và tương lai.
Bên cạnh khối lượng, chất lượng các di sản nói trên, nước ta còn có 217
bảo tàng và các bảo tàng đó đang bảo quản, trưng bày trên 3 triệu tài liệu
hiện vật. Gần đây, Bộ VHTTDL đã trình Thủ tướng Chính phủ công nhận
30 bảo vật quốc gia trong số các hiện vật nói trên. Ví dụ: Trống đồng Ngọc
Lũ, trống đồng Hoàng Hạ, thạp đồng Đào Thịnh, tượng hai người cõng nhau
thổi khèn thuộc văn hoá Đông Sơn, đài thờ Trà Kiệu, tượng Phật Đông
Dương, tượng Bồ tát Tara thuộc văn hoá Chăm, tượng Nữ thần Đêvi, tượng

Hòa); khu rừng nguyên sinh Xuân Sơn (huyện Tân Sơn); vùng nước khoáng
nóng Thanh Thuỷ (huyện Thanh Thủy); các khu di chỉ khảo cổ: Phùng
Nguyên, Sơn Vi, Gò Mun; các di tích kháng chiến: Chiến khu Hiền Lương
(huyện Hạ Hoà), chiến khu Vạn Thắng (huyện Cẩm Khê), tượng đài chiến
thắng sông Lô (huyện Đoan Hùng), khu lưu niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Cổ
Tiết (huyện Tam Nông) và Chu Hoá (huyện Lâm Thao)…
Phú Thọ còn là miền đất lưu giữ nhiều giá trị văn hoá dân tộc đặc sắc
của tổ tiên, mang tính giáo dục truyền thống uống nước nhớ nguồn: Tín
ngưỡng thờ cúng Hùng Vương, lễ hội Đền Hùng, hội Phết (Hiền Quan), hội
làng Đào Xá, Sơn Vi;
Các làng nghề truyền thống: may nón lá (xã Sai Nga, huyện Cẩm Khê);
làng làm ủ ấm Sơn Vi (huyện Lâm Thao), làng làm bún Hùng Lô (xã Hùng Lô,
thành phố Việt Trì) đã được UBND tỉnh công nhận là làng nghề truyền thống.
…;
Nhiều làn điệu dân ca, nhiều trò diễn dân gian, nhiều truyền thuyết -
huyền thoại về dựng nước, nhiều truyện cổ tích, ngụ ngôn, truyện cười giàu
tính nhân văn, mang nét đặc sắc của vùng đất Tổ, đặc trưng văn hoá Lạc
Hồng…Do đó, Phú Thọ có điều kiện thuận lợi cho việc sử dụng di sản văn hóa
trong dạy học và các hoạt động giáo dục trong nhà trường phổ thông.
Di sản văn hóa Việt Nam nói chung, di sản văn hóa Phú Thọ nói riêng là
những giá trị kết tinh từ sự sáng tạo văn hóa của cộng đồng các dân tộc, trải
qua một quá trình lịch sử lâu đời, được trao truyền, kế thừa và tái sáng tạo từ
nhiều thế hệ cho tới ngày nay. Di sản văn hóa Việt Nam là bức tranh đa dạng
văn hóa, là tài sản quý giá của cộng đồng các dân tộc Việt Nam và là một bộ
phận của di sản văn hóa nhân loại. Di sản văn hóa Việt Nam có vai trò to lớn
trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước của nhân dân ta. Đối với giáo dục, việc
sử dụng di sản trong dạy học ở trường phổ thông có ý nghĩa rất quan trọng giúp
cho quá trình học tập của học sinh trở nên hấp dẫn hơn, học sinh hứng thú học tập
và hiểu bài sâu sắc hơn, phát triển tư duy độc lập sáng tạo, giáo dục truyền thống,
lòng yêu quê hương, đất nước, giáo dục tư tưởng, đạo đức, kỹ năng sống cho học

những nghệ nhân, người lớn tuổi có tri thức và kinh nghiệm, người làm nghề
chuyên nghiệp, những dòng họ, gia đình thực hành nghề truyền thống… Họ là
những chủ thể của di sản phi vật thể và có thể trở thành những đối tác, cộng tác
viên đắc lực của nhà trường trong việc sử dụng di sản để dạy học. Di sản phi
vật thể có ở mọi nơi trong cuộc sống đương đại. Gắn kết di sản văn hoá phi vật
thể với giáo dục ở trường phổ thông giúp cho các bài học sinh động, cảm xúc
và có ý nghĩa giáo dục văn hoá một cách sâu sắc. Vì vậy, ở nhiều nước trên thế
giới di sản phi vật thể thường được sử dụng để dạy học.
Để xác định giá trị di sản và có cách thức sử dụng di sản để dạy học một
cách hiệu quả nhất, nhà trường cần có sự phối hợp chặt chẽ với các cán bộ
nghiên cứu, cơ quan quản lý di sản để tiếp cận di sản, nhận dạng giá trị di sản
và khai thác di sản một cách phù hợp và hiệu quả. Ở mỗi tỉnh và thành phố đều
có các cơ quan quản lý di sản. Đó là các bảo tàng quốc gia, bảo tàng chuyên
ngành, bảo tàng tỉnh và thành phố. Đó là các ban quản lý di tích, di sản trực
thuộc các Sở Văn hoá, Thể thao và Du lịch các tỉnh, thành phố hoặc trực thuộc
tỉnh (Khu di tích lịch sử Đền Hùng không trực thuộc Sở Văn hoá, Thể thao và
Du lịch mà trực thuộc trực tiếp UBND tỉnh Phú Thọ). Đó là các ban quản lý di
13
tích do cộng đồng quản lý trực thuộc chính quyền cấp huyện, xã. Một số viện
nghiên cứu về chuyên ngành trực thuộc Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch,
Viện Khoa học xã hội và Nhân văn quốc gia là những trung tâm lưu trữ dữ
liệu phong phú về di sản văn hoá Việt Nam.
4. Trách nhiệm của nhà trường phổ thông đối với di sản văn hóa Việt
Nam
Nhà trường phổ thông vừa có trách nhiệm giáo dục nâng cao nhận thức
cho HS về di sản văn hoá, góp phần bảo vệ di sản văn hoá vừa có trách nhiệm
sử dụng di sản văn hoá để dạy học. Việc sử dụng di sản văn hoá để dạy học
mang lại những kết quả tích cực vừa có giá trị ở phương pháp giáo dục kiến
thức phổ thông theo quy định của chương trình, vừa nâng cao nhận thức và
trách nhiệm của HS đối với di sản văn hoá.

trường (xã hội hóa giáo dục). Đây hiển nhiên không phải là trách nhiệm chỉ
của riêng Bộ Giáo dục và Đào tạo, của ngành giáo dục. Ngành giáo dục sử
dụng phương pháp dạy và học thông qua các di sản như là một phương pháp
bổ trợ tích cực nhằm củng cố và mở rộng kiến thức cho HS.
Hai là: Giáo dục thông qua di sản là phương thức giáo dục vừa có tính
phổ biến, vừa không phụ thuộc vào độ tuổi của người học và đạt hiệu quả
cao, góp phần tạo lập, phát triển, hoàn thiện nhân cách con người và không
đòi hỏi quá nhiều chi phí, “chơi mà học, học mà chơi”: Khi trẻ mới sinh, sự
vuốt ve, cưng nựng, lời ru và tiếng hát của người mẹ từ ngày này qua ngày
khác thật sự đã xác lập được phản xạ có điều kiện đầu tiên ở não bộ trẻ. Để
rồi sau đó, lúc trẻ giận hờn, mẹ nựng, mẹ ru “cơn hờn” dịu lại. Lúc trẻ vẫn
đang mải chơi, nhưng đã đến giờ trẻ cần được ngủ, mẹ bế trẻ và chỉ vài động
thái cưng chiều, vài lời hát ru, trẻ đã “chìm sâu vào giấc ngủ ngon lành”. Khi
trẻ biết nói, biết nhận biết, não bộ trẻ bắt đầu hình thành được các khái niệm,
từ giản đơn đến phức tạp, mà những khái niệm đầu đời ấy chính là di sản văn
hoá: tiếng nói, đồ vật, cái nôi, cái giường, cái chăn, cái bát, cái thìa, đôi đũa,
cái nhà mà trẻ vẫn tiếp xúc hàng ngày, v.v Tới tuổi cắp sách tới trường, trẻ
lại một lần nữa được làm quen, được tiếp cận với di sản văn hoá Thế là các
khái niệm được định hình và trở thành hữu thức khi được tiếp nhận ở các lớp
học tiếp theo, v.v
Ba là: Dạy và học thông qua các di sản văn hoá là phương pháp trực
quan, sinh động và thực sự có hiệu quả. Do mục tiêu đào tạo, do khối lượng
kiến thức cần phải truyền thụ cho HS các cấp, chúng ta hiện chưa đưa việc
dạy, học các di sản văn hoá vào chương trình bắt buộc (có thời lượng), mà
mới chỉ dừng lại ở chương trình ngoại khoá, ở các giờ tự học, hoặc sinh hoạt
tập thể. Từ đầu năm 2013, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã tổ chức thí điểm việc
sử dụng di sản văn hóa trong dạy học và các hoạt động giáo dục ở trường
phổ thông (Trong đó ở Phú Thọ có thí điểm 02 trường THPT: Việt Trì, Long
Châu Sa; 02 trường THCS: Gia Cẩm, Nông Trang). Ở đây, mức độ là “sử
dụng” di sản văn hóa, coi di sản văn hóa như là phương tiện, tư liệu dạy

1. Những yêu cầu về sử dụng di sản trong dạy học và các hoạt động
giáo dục ở trường phổ thông
Di sản văn hóa có ý nghĩa nhất định đối với quá trình dạy học, giáo dục.
Tuy nhiên muốn sử dụng chúng có hiệu quả, người GV phải chú ý tuân thủ
một số yêu cầu trong chuẩn bị các điều kiện thực hiện dạy học với di sản và
triển khai hoạt động dạy học với di sản. Cụ thể là:
Thứ nhất: Đảm bảo mục tiêu của chương trình giáo dục phổ thông của
môn học và mục tiêu giáo dục di sản :
- Đảm bảo chương trình giáo dục phổ thông môn học theo quy định của
Bộ Giáo dục và Đào tạo (không thêm, bớt thời lượng làm thay đổi chương
trình).
- Đảm bảo mục tiêu giáo dục phổ thông gắn với mục tiêu giáo dục di sản.
Mục tiêu từng cấp học nói chung, các môn học trong nhà trường phổ thông đều
có mục tiêu cụ thể cho từng cấp, lớp học. Trên cơ sở của những mục tiêu đó,
mục tiêu từng bài được xây dựng. Vì vậy, chuẩn bị lựa chọn di sản phục vụ
cho việc dạy học một bài học hoặc một nội dung/chuyên đề của môn hoặc
nhiều môn học, GV cần xác định mục tiêu bài học/ chuyên đề và lựa chọn di
sản phải hướng vào thực hiện mục tiêu đã được xác định và hỗ trợ, tạo điều
kiện cho việc thực hiện mục tiêu được thuận lợi hơn. Bên cạnh đó GV cần xây
dựng thêm một số yêu cầu về di sản đối với HS. Ví dụ: HS có thêm hiểu biết
16
về sự ra đời của di sản, về cấu trúc hình thức và nguyên nhân của sự tạo thành
cấu trúc đó, về ý nghĩa của di sản đối với đời sống tinh thần, vật chất của
người dân ở địa phương có di sản,… Từ đó có thái độ tôn trọng di sản, có hành vi
giữ gìn và chăm sóc di sản. Tuy nhiên, tùy cách sử dụng di sản để thiết kế mục tiêu
giáo dục di sản cho phù hợp. Nếu đưa HS tới địa điểm có di sản, GV ngoài yêu cầu
HS tìm hiểu về hình thức, ý nghĩa di sản cần kết hợp cho các em tham gia một số
hoạt động góp phần gìn giữ di sản như quét rác, nhặt cỏ, làm sạch quanh khu vực có
di sản. Nếu sử dụng các hình ảnh về di sản trong dạy học trên lớp thì GV nên có biện
pháp để học sinh thể hiện sự hiểu biết và thái độ của mình đối với di sản.

17
+ Công tác chuẩn bị:
GV nên hướng dẫn để HS cùng tham gia hoạt động chuẩn bị. Ở bước này,
GV có điều kiện để thực hiện đổi mới phương pháp qua thực hiện một số việc
làm cụ thể sau:
* Dự kiến được nội dung công việc, hình dung được tiến trình hoạt động.
* Dự kiến những phương tiện gì cần cho hoạt động.
* Dự kiến sẽ giao những nhiệm vụ gì cho đối tượng nào, thời gian phải
hoàn thành là bao lâu.
* Bản thân GV sẽ phải làm những việc gì để thể hiện sự tương tác tích
cực giữa thầy và trò.
Về phía HS, khi được giao nhiệm vụ các em cần chủ động bàn bạc cách
thực hiện trong tập thể lớp, chỉ ra được những việc phải làm, phân công rõ
ràng, đúng người, đúng việc.
Tuy vậy, GV vẫn phải có sự quan tâm, theo dõi, giúp đỡ, nhắc nhở HS
hoàn thành công việc chuẩn bị.
+ Tiến hành hoạt động với di sản:
Có thể hình dung khi thiết kế bước tiến hành hoạt động như xây dựng một
kịch bản cho HS thể hiện. Do đó, cần sắp xếp một qui trình tiến hành hợp lí,
phù hợp với khả năng của HS. Kịch bản hoạt động cần được thiết kế chi tiết từ
lúc bắt đầu tiếp xúc với di sản, các công việc cụ thể khi HS tìm thông tin về
các đối tượng, sự vật chứa đựng trong di sản liên quan đến nội dung bài học
(ghi chép, lấy mẫu vật, chụp ảnh, vẽ lại,…), trao đổi để phân tích các hiện
tượng sự vật, giải thích, liên hệ,…. nêu nhận xét của cá nhân, nhóm,… đến lựa
chọn cách trình bày thông tin, mẫu vật, viết báo cáo.
Trong bước tiến hành hoạt động, HS hoàn toàn chủ động, tích cực, sáng
tạo, GV chỉ là người điều khiển, hướng dẫn, quan sát các hoạt động của học
sinh theo kịch bản và nhiệm vụ đặt ra.
+ Kết thúc hoạt động:
Bước này cũng do HS hoàn toàn làm chủ. Có nhiều cách kết thúc, tùy

hoàn thành báo cáo tìm hiểu di sản, có sản phẩm do cá nhân hoặc nhóm tạo ra
các em sẽ phấn khởi càng cố gắng hoàn thành nhiệm vụ. Điều đó càng khuyến
khích HS làm việc tích cực, nhiệt tình hơn, các em có cơ hội được thể hiện
mình. Trong quá trình làm việc với di sản, các em được áp dụng những kiến
thức, sự hiểu biết của cá nhân để nhận biết các sự vật, hiện tượng gắn bó với di
sản, các em được trải nghiệm với những tình huống đã từng xảy ra tại nơi có di
sản, có thể chỉ là tình huống được dựng lại, được mô tả lại nhưng nó tác động
mạnh tới tâm tư, tình cảm của các em. Khi các em được tự tìm hiểu về di sản,
được quan sát, nhận xét, tri giác trực tiếp mà không chỉ nghe nói về di sản sẽ
giúp các em được trải nghiệm qua các tình huống thực tế. Điều đó thường giúp
HS có được thái độ tình cảm chân thực, đúng đắn với di sản. Mặt khác được
trải nghiệm qua các tình huống thực tế khi tiếp xúc với di sản sẽ giúp các em
phát triển tốt hơn một số kỹ năng sống như đã nêu trên.
Thứ tư: Kết hợp đa dạng các hình thức tổ chức thực hiện
19
Trong môi trường sống xung quanh chúng ta tồn tại rất nhiều loại di sản,
bao gồm cả di sản vật thể lẫn di sản phi vật thể. Tùy theo giá trị chứa đựng
trong mỗi di sản chúng được phân loại thành di sản văn hóa, khoa học, di sản
tự nhiên, di sản lịch sử,…. Mỗi loại di sản lại có những đặc điểm riêng về hình
thức, giá trị,…. Vì vậy, khi sử dụng di sản như phương tiện dạy học, có thể tổ
chức nhiều hình thức tiếp cận: Cho HS trực tiếp quan sát di sản, đôi khi có thể
dùng các giác quan để tìm hiểu, dùng máy ảnh, máy quay phim ghi lại hình
ảnh di sản. Cũng có thể cho các em tiếp xúc qua phim, ảnh nếu không có điều
kiện đưa HS tới nơi có di sản. Cách tiếp cận này thường được dùng đối với di
sản vật thể. Di sản phi vật thể cũng có thể chuyển giao được. Ví dụ: Nhã nhạc
cung đình Huế, Ca Trù, Dân ca Nam Bộ, Chèo, hát quan họ; hát Xoan… là
một trong những loại di sản phi vật thể quý báu của các vùng miền Việt Nam.
Bên cạnh việc dạy học các môn học với các di sản, nhà trường phổ thông
cần tổ chức nhiều loại hình hoạt động tạo điều kiện để HS tìm hiểu di sản ngay
trong khuôn viên nhà trường; phòng truyền thống của nhà trường; các buổi

an toàn, hiệu quả, hấp dẫn và mang tính giáo dục cao.
- Khi tiến hành dạy học và các hoạt động giáo dục có sử dụng di sản văn hóa, GV
cần phải có nhận thức đúng về khái niệm “sử dụng di sản” chứ không phải là đưa
di sản vào dạy học. Như vậy, thì không dẫn tới tình trạng nặng nề, quá tải, không
tăng thời lượng chương trình vì ta dùng di sản như một phương tiện, tư liệu, nguồn
kiến thức để hỗ trợ bài học, làm cho bài học sinh động, gây hứng thú hơn cho học
sinh.
- Phải hiểu đúng khái niệm di sản văn hóa (theo nghĩa rộng) không phải chỉ những
di sản được thế giới, quốc gia và các cấp địa phương công nhận mới sử dụng trong
nhà trường, mà di sản ở quanh ta, gần gũi với ta (có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa
học, nghệ thuật) nên sẽ không khó khi sử dụng. Tuy nhiên, khi sử dụng di sản trong
nhà trường không nên gượng ép, lựa chọn những nội dung phù hợp để sử dụng di
sản (không phải bài nào, nội dung nào, hoạt động giáo dục nào cũng sử dụng di sản
văn hóa), chọn những di sản văn hóa tiêu biểu, không nên đưa tràn lan (nếu những
bài, nội dung có nhiều di sản văn hóa).
- Nhà trường, tổ chuyên môn và GV phải xây dựng kế hoạch triển khai, sử dụng di
sản văn hóa trong dạy học và các hoạt động giáo dục một cách cụ thể, chi tiết. Tăng
cường công tác quản lí, thanh tra về kế hoạch giảng dạy, quá trình tổ chức thực
hiện của GV về việc sử dụng di sản văn hóa trong dạy học.
- Phối hợp với các Sở, ban ngành liên quan, các tổ chức đoàn thể trong và ngoài
nhà trường đặc biệt là ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch để hỗ trợ, đồng hành
trong việc giáo dục di sản văn hoá cho học sinh trung học một cách thống nhất,
đồng bộ và đi vào chiều sâu.
- Tăng cường đầu tư cơ sở vật chất, thiết bị, phương tiện cho các cơ sở giáo dục
gắn với việc triển khai nhiệm vụ Giáo dục Trung học, tạo điều kiện thuận lợi nhất
cho cán bộ, GV và học sinh được khai thác, sử dụng di sản văn hóa trong giảng
dạy, học tập nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả giáo dục giáo dục di sản văn hoá
trong trường phổ thông. Nên tính toán, dành riêng một khoản kinh phí nhất định
phục vụ cho việc giảng dạy và các hoạt động giáo dục có sử dụng di sản văn hóa.
- Làm tốt công tác bồi dưỡng cán bộ quản lý và GV về nội dung sử dụng di sản văn

nhau (phần thực hành sẽ có hướng dẫn soạn giáo án đính kèm) và vẫn phải
đảm bảo chuẩn kiến thức kỹ năng của chương trình:
- Lập kế hoạch về việc sử dụng di sản văn hóa trong dạy học theo từng
môn học (được lựa chọn để sử dụng di sản văn hóa) cả năm học (có thể theo
từng học kỳ).
- Xác định nội dung để sử dụng di sản vào mục, phần nào trong bài;
- Tiến hành sưu tầm, lựa chọn di sản văn hóa để sử dụng trong bài;
- Tổ chức soạn bài, giảng dạy theo kế hoạch (Khi soạn bài chú ý làm rõ
việc sử dụng di sản văn hóa trong bài qua từng bước: Từ mục đích, yêu cầu;
chuẩn bị của GV, học sinh; thể hiện nội dung và phương pháp sử dụng di sản
trong bài; củng cố, giao bài tập về nhà…).
Tài liệu về di sản đóng vai trò là một nguồn kiến thức góp phần bổ sung,
cụ thể hoá, làm phong phú hơn nội dung bài học do quy định số trang có hạn,
sách giáo khoa không đề cập tới. Nó làm cho những kiến thức trong bài học
không chỉ đơn thuần là con số, các sự kiện khô khan mà sinh động hơn, có hồn
hơn, giúp cho HS tái hiện được kiến thức và hiểu bài nhanh, nhớ lâu hơn.
22
Tuy nhiên, để khai thác các tài liệu về di sản phục vụ cho bài nội khoá thì
GV phải tuân thủ những yêu cầu sau:
- GV phải tiến hành chọn lọc kỹ và xác minh tính chân thực của các tài
liệu về di sản.
- Tài liệu di sản có nhiều nhưng do thời gian của một tiết trên lớp có hạn
(45 phút) nên đòi hỏi GV phải biết chọn lọc những tài liệu điển hình nhất, sắp
xếp các tài liệu đó thành hệ thống phù hợp với tiến trình bài học kết hợp với
các phương tiện trực quan, phương tiện kỹ thuật hiện đại làm cho bài học sinh
động hơn. Đồng thời, tuỳ theo mục đích, nội dung bài học mà GV khai thác
những tài liệu khác nhau (có bài dùng tranh ảnh, có bài dùng hiện vật kết hợp
các đoạn miêu tả, tường thuật về di sản, nhân vật lịch sử) phù hợp với trình độ
và khả năng nhận thức của HS.
Sử dụng tài liệu về di sản trong tiến hành bài học trên lớp là phương pháp

lớn, thông qua đây mà tạo hứng thú học tập và bước đầu tập dượt nghiên cứu
khoa học cho HS.
Sau khi đã sưu tầm được tài liệu về di sản, GV phải tiến hành phân loại
cho phù hợp với nội dung từng bài học cụ thể và sắp xếp thành hồ sơ dạy học.
Khi tiến hành soạn giáo án, GV phải chọn những tài liệu điển hình nhất,
cần thiết nhất để đưa vào bài giảng. Tránh tình trạng đưa quá nhiều tài liệu,
không phân biệt đâu là tài liệu cần thiết, điển hình, sử dụng không đúng lúc,
đúng chỗ, làm loãng nội dung cơ bản của bài học. Những tài liệu về di sản
được sử dụng trong hình thức này như là các phương tiện trực quan, nguồn
kiến thức, do đó cần kết hợp chặt chẽ với trình bày miệng và các phương pháp
khác. Song phải đảm bảo phù hợp với từng đối tượng HS. Ví dụ: GV có thể sử
dụng ảnh chụp về di sản kết hợp với việc miêu tả khái quát có phân tích những
kiến thức liên quan, hoặc GV có thể sử dụng tranh ảnh về di sản kết hợp với
những mẩu chuyện để cụ thể hoá kiến thức hay kết hợp sử dụng tranh ảnh về di
sản với trao đổi đàm thoại nhằm giúp HS hiểu sâu sắc những kiến thức cơ bản
của bài học.
2.2. Tiến hành bài học tại nơi có di sản - Bài học tại thực địa
Bài học là hình thức tổ chức cơ bản của việc dạy học ở trường phổ thông.
Bài học không chỉ tiến hành ở trên lớp mà còn có thể tiến hành ở nơi có di sản
(thực địa).
Nó được thực hiện theo nội dung quy định của chương trình và hoàn toàn
khác với các hoạt động ngoại khoá tại di sản. Tuy hình thức học tập có thay đổi
song bài học tại thực địa là bài học nội khoá, một mắt xích trong toàn bộ khoá
trình có liên quan đến các bài học khác. Việc học tập loại bài này là bắt buộc
đối với tất cả HS.
Bài học thực địa đối với những bài trong chương trình sách giáo khoa
hay bài học địa phương về căn bản cũng giống nhau về hình thức thực hiện và
đảm bảo nội dung theo yêu cầu của chuẩn kiến thức kỹ năng chương trình. Tuy
nhiên, bài học địa phương chỉ được tiến hành học thực địa tại nơi có di sản ở
địa phương mà thôi, còn bài học trong chương trình sách giáo khoa có thể tiến

Tiếp đó, GV tiến hành tìm hiểu kỹ lưỡng các đặc điểm về vị trí địa lí, địa
hình địa vật tự nhiên, các hiện vật, chứng tích… có liên quan đến nội dung bài
học. Đây là cơ sở quan trọng để GV chuẩn bị nội dung bài giảng và tổ chức
hoạt động nhận thức của HS một cách cụ thể nhất. Sau khi đã khảo sát thực
địa, GV liên hệ với cơ quan, đơn vị quản lý di sản (thường là các Bảo tàng địa
phương hoặc ngành Văn hoá, thể thao và du lịch các cấp) để đăng kí sử dụng
di sản, nhờ giúp đỡ (phương tiện kĩ thuật, hướng dẫn viên, bảo vệ), thống nhất
kế hoạch, thời gian tiến hành bài học để phối hợp thực hiện. Đặc biệt, nếu dự
định bài học (hoặc một vấn đề nào đó của bài học) do người phụ trách di sản,
hướng dẫn viên hay nhân chứng lịch sử thực hiện thì GV cần đặt ra mục tiêu,
yêu cầu và nội dung cơ bản để họ chuẩn bị trước. Ngoài ra, khi làm việc với
các cơ quan quản lý di sản, GV cần chú ý khai thác, tìm hiểu các nguồn tài liệu
về di sản và các nội dung bài học có liên quan đến di sản bao gồm tài liệu hiện
vật gốc, sa bàn, mô hình phục chế, phim ảnh, các công trình nghiên cứu, bài
viết chuyên đề. Đây sẽ là nguồn tài liệu về địa phương phong phú, có giá trị để
GV bổ sung vào bài giảng hoặc thiết kế bài giảng về địa phương.
25

Trích đoạn BGH nhà trường (để phê duyệt); Ban quản lí di sảnnếu tại di sản (để phối hợp); Tiến trình tổ chức dạy học: Khâu chuẩn bị, thiết bị đồ dùng, tài liệu dạy học: Thiết bị, tư liệu dạy học Chuẩn bị, thiết bị, tư liệu
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status