BỘ CÔNG THƯƠNG
TRƯỜNG CĐ CÔNG NGHIỆP PHÚC YÊN
UBND TỈNH VĨNH PHÚC
SỞ KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ
BÁO CÁO KẾT QUẢ
MỞ RỘNG MÔ HÌNH KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
NĂM 2009
Tên mô hình nhân rộng: Ứng dụng giải pháp nổ mìn khai thác mới nhằm nâng
cao hiệu quả phá vỡ đất đá, giảm chấn động và ô nhiễm môi trường tại một số mỏ đá
trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc.
Mã số: 14/MHNRVP-2009
Người chủ trì Cơ quan chủ tr
ì
HIỆU TRƯỞNG
TS. LÊ NGỌC NINH VŨ VĂN DŨNG
Quang, huyện Tam đảo, tỉnh Vĩnh Phúc.
6. Phương pháp thực hiện: Nổ mìn thực nghiệm chứng minh
7. Kinh phí:
- Tổng: 120 triệu đồng Trong đó:
- Kinh phí khoa học: 120 triệu
- Kinh phí khác: không
8. Tiến độ thực hiện mô hình: 1 năm
9. Cơ sở lý luận và thực tiễn của mô hình:
9.1. Quá trình nghiên cứu
Mô hình: Ứng dụng giải pháp nổ mìn khai thác mới nhằm nâng cao
hiệu quả phá vỡ đất đá, giảm chấn động và ô nhiễm môi trường tại một số mỏ
đá trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc là mô hình khoa học dựa trên kết quả nghiên
cứu của đề tài thuộc chuyên đề 2 cấp tiến sĩ của TS. Lê Ngọc Ninh với tiêu
đề:“Nghiên cứu các thông số của lượng thuốc nổ có đường kính khác nhau
trong lỗ khoan nhằm nâng cao hiệu quả phá vỡ đất đá và giảm thiểu tác động
môi trường khi nổ mìn ở một số mỏ lộ thiên Việt Nam”, chuyên ngành Kỹ
thuật khai thác mỏ lộ thiên, mã số: 62.53.05.01
Đề tài của chuyên đề được Hội đồng KH trường Đại học Mỏ - Địa chất
đánh giá có chất lượng tốt với điểm bình quân đạt 9,8 điểm.
3
Kết quả nghiên cứu của đề tài đã được ứng dụng đầu tiên tại một số mỏ đá
lộ thiên, điển hình như mỏ đá Ao Ngươm (thuộc nhà máy xi măng 78, Hữu
Lũng, Lạng sơn, mỏ đá vôi Hố Dùng, Hữu Lũng, Lạng Sơn…)
9.2. Kết quả nghiên cứu của đề tài
Kết quả nghiên cứu của đề tài này là phương pháp nổ mìn với lượng thuốc
nổ dài liên tục (hoặc phân đoạn khi cần thiết) nhưng có đường kính khác nhau
nạp trong lỗ khoan, bao gồm có nhiều bài toán, cụ thể như sau:
9.2.1. Bài toán 1. Đất đá cứng đồng nhất
/4 phải được kiểm tra theo công thức sau đây:
Q = W.a.h.qt ; kg
Như vậy, muốn nâng cao được hiệu quả nổ mìn thì nhiệm vụ của chúng ta là
cần phải thay đổi cấu trúc của thuốc nổ trong lỗ mìn và thay đổi vật liệu làm
bua. Điều này sẽ liên quan đến tính chất đất đá trong tầng mỏ, chỉ tiêu thuốc nổ
tính toán (qt), khối lượng thuốc nổ (Q).
Ta biết rằng: dọc theo chiều cao của tầng, đất đá phần phía trên bao giờ cũng
bị ảnh hưởng của những đợt nổ trước, thường chúng bị nứt nẻ và bị phân chia
thành các khối khác nhau. Nghĩa là lực liên kết giữa các khối bị yếu đi, năng
lượng dùng để phá vỡ và làm văng xa chúng là nhỏ hơn so với đá nguyên khối.
Mặt khác, đất đá phần phía trên bao giờ cũng gần bề mặt tự do hơn và đường
kháng cũng nhỏ hơn nên năng lượng của thuốc nổ dùng để phá vỡ chúng nhỏ
hơn các phần đất đá phía dưới. Dạng này thường thấy ở các tầng mỏ đá vôi và
4
một số mỏ lộ thiên khác ở Việt Nam.
Chúng ta cũng biết rằng, theo cơ cấu phá vỡ đất đá cứng đồng nhất bằng mìn
khi nổ, xung quanh lỗ mìn bao giờ cũng hình thành 3 vùng khác nhau: vùng
nghiền nát (đất đá bị nghiện nát mạnh khi nổ) nằm kề sát với lượng thuốc, vùng
tạo thành nứt nẻ (vùng biến dạng mạnh với nhiều hệ thống nứt nẻ cắt nhau, làm
cho đất đá phá vỡ với nhiều kích thước khác nhau), vùng chuyển dịch dao động
(các phần tử đá chỉ chuyển dịch dao động mà không bị phá vỡ).
Như vậy, để nâng cao được mức độ đập vỡ đất đá, cần phải giảm bớt bán
kính vùng nghiền nát, tăng bán kính vùng tạo thành nứt nẻ và giảm bán kính
vùng chuyển dịch dao động. Điều này chỉ thực hiện được khi nổ mìn vi sai giữa
các lượng thuốc, nổ mìn phân đoạn bằng lưu cột không khí và nổ mìn với lượng
thuốc có đường kính khác nhau trong lỗ khoan.
Trong thực tế, chúng ta đã sử dụng nổ vi sai và nổ phân đoạn lượng thuốc
bằng lưu cột không khí và đã nâng cao được mức độ đập vỡ đất đá. Tuy nhiên,
khoan bị chồng chéo nhiều, còn khi k < 1 thì r < a và vùng không bị đập vỡ giữa
các lỗ khoan có thể tích lớn).
Tuỳ thuộc vào tình trạng của đất đá phần trên và năng lượng của cột thuốc
nổ có chiều dài l
1
mà ta có phễu nổ yếu, phễu nổ mạnh hay phễu nổ chuẩn.
Thể tích của đất đá nằm trong phễu nổ (V) có bán kính r = ka sẽ là:
(2)
3
1
22
1
2
),5,0(
3
1
)5,0(
3
1
mllakllrV
bb
)(2
1 b
lkal
+ Đường kính lượng thuốc phía trên (d
1
) được tính như sau:
Gọi p là sức chứa thuốc nổ của một mét đoạn lỗ khoan có chiều cao l
1
thì
khối lượng thuốc nổ có chiều cao l
1
sẽ là:
(3)
Với: - là mật độ của thuốc nổ khi đóng gói (dạng thỏi), kg/m
3
d
1
- là đường kính lượng thuốc phía trên, m
Khi hình thành phễu nổ, lượng thuốc nổ cần phá hết phễu nổ là:
(4
)
Từ (3) và (4) ta suy ra: (5)
Trong đó:
W
)5,0(
2
3
)5,0(4
)5,0(
3
1
4
1
11
1
1
1
22
2
1
11
22
1
2
1
1
lượng thuốc phía trên với mật độ dạng thỏi của nó cũng như thông số l
1
. Để đảm
bảo được cách tính này, ta cần phải lựa chọn loại thuốc dạng thỏi có đường kính
d = 42 150 mm và mật độ nạp ≥ 1g/cm
3
.
Trên bảng 1 giới thiệu sự phụ thuộc giữa chiều cao (l
1
) và đường kính (d
1
)
của lượng thuốc nổ phần trên với các thông số nổ mìn khi sử dụng lượng thuốc
nổ có đường kính khác nhau trong lỗ khoan.
Sau khi xác định được l
1
và d
1
, ta sẽ có chiều cao còn lại của cột thuốc
phía dưới là: l
2
= L
k
– (l
b
+ l
1
) ; m (6)
Và khối lượng thuốc nổ phía dưới (Q
2
Lk
(m)
độ l
b
(m) f
C
(m)
Khi thuốc
nổ có mật
độ nạp
trong lỗ
(kg/m
3
)
q
1
kg/m
3
9.2.2. Bài toán 2: Đất đá cứng đồng nhất, phân lớp với hướng cắm khác nhau
Cũng tương tự như bài toán 1, trong bài toán này ta xét 2 trường hợp:
- Trường hợp a: các mặt phân lớp có độ dốc từ nghiêng đến đứng và
hướng cắm của các lớp đá từ phía trong ra phía ngoài sườn tầng (hình 2.a
1
).
Trong trường hợp này, năng lượng dùng để phá vỡ đất đá phần trên cũng
như phần dưới không lớn (dễ nổ mìn) do các khối đá có xu hướng trượt ra phía
sườn tầng. Bài toán này là hệ quả của bài toán 1
2
và thường gặp trong thực tế.
Do vậy, ta áp dụng công thức (1) để tính chiều cao cột thuốc phía trên l
1
và áp
dụng công thức (2) để tính đường kính của cột thuốc nổ phía trên (d
1
). Mặt khác,
do phần đất đá phía dưới cũng dễ nổ nên để tiết kiệm thuốc nổ, ta có thể nổ phân
đoạn lượng thuốc đáy (hình 2.a
2
). 7
Hình 2.a
2
. Sơ đồ tính toán các thông số của lượng thuốc nổ có đường kính khác
nhau trong lỗ khoan, khi nổ phân đoạn lượng thuốc nổ đáy, trong đất đá cứng
đồng nhất, phân lớp từ dốc nghiêng đến dốc đứng, hướng cắm từ trong ra ngoài
Bài toán 2 thường áp dụng nhiều ở Việt Nam, cụ thể tại các mỏ đá vôi,
mỏ đá Riôlit phục vụ xây dựng.
- Trường hợp b: các mặt phân chia lớp có độ dốc từ nghiêng đến đứng và hướng
cắm của các lớp đá từ phía ngoài vào trong tầng (hình 2.b).
C
b = a
W
b
l
1
l
2
l
b
Hình 2.b. Sơ đồ tính toán các thông số của lượng thuốc nổ có đường kính
khác nhau trong lỗ khoan, khi đất đá cứng đồng nhất, phân lớp từ dốc
nghiêng đến dốc đứng và hướng cắm từ phía ngoài vào trong
Đối với trường hợp này, năng lượng dùng để phá vỡ phần đất đá phía trên
rất lớn (khó nổ mìn) do các khối đá có xu hướng trượt vào trong và làm tăng sức
kháng, chống lại khả năng phá vỡ của chất nổ. Đây là bài toán cũng thường gặp
ở thực tế. Vì vậy, nếu áp dụng theo cách tính bài toán 1 sẽ dẫn đến không hiệu
quả khi nổ. Để giải bài toán này ta phải chọn loại thuốc nổ có sức công phá và
khả năng công nổ lớn và áp dụng phương pháp nổ truyền thống (lượng thuốc nổ
dài liên tục một loại thuốc nổ), hoặc sử dụng phương pháp nổ phân đoạn lượng
thuốc, đồng thời lựa chọn vật liệu bua làm từ Kabenlis kết hợp với phoi khoan
và đá dăm để ngăn cản sự phụt bua sớm.
9.2.3. Bài toán 3: Đất đá phân thành nhiều lớp có hệ số kiên cố khác nhau
Giả sử các lỗ khoan được khoan qua n lớp đất đá của tầng (hình 3). Trong
bài toán này, về mặt lý thuyết, ta có thể sử dụng nhiều loại thuốc nổ có đường
kính khác nhau nổ cho mỗi lớp, nhưng điều này rất khó thực hiện trong thực tế.
Do vậy ta vẫn áp dụng như bài toán 1
2
để tính. Chỉ khác là giá trị hệ số kiên cố
của đất đá và tỷ trọng đất đá lấy theo giá trị bình quân gia quyền (ftb,
tb
):
và
Trong đó:
f
1
, f
i
nn
tb
l
lll
1
2211
C
W
b
b
l
1
l
2
l
b
0,5l
1
Trong trường hợp này, đất đá phần phía trên thường là lớp quặng mềm
hay đất đá mềm yếu. Trong khi đó lớp đất đá phía dưới thuộc dạng cứng và khó
nổ mìn (hình 4).
Hình 4. Sơ đồ tính toán các thông số của lượng thuốc nổ có đường kính khác
nhau trong lỗ khoan khi đất đá phần trên mềm yếu hơn phần dưới
Líp 1
Líp 2
Líp n
W
C
b
0,5l
1
b
0,5l
1
l
b
l
1
l
2
b
f
1
; h
1
f
2
; h
2
H
1
h
1
0,5h (H
1
- chiều dày nhỏ nhất của lớp đất đá cứng phần trên).
Đối với bài toán 5, nếu áp dụng nội dung như bài toán 1 sẽ dẫn đến sai
lầm vì khi khối lượng thuốc nhỏ đi, năng lượng của nó sẽ không đủ để phá vỡ
phần đất đá cứng phía trên. Phương án giải cho bài toán 5 như sau:
- Lựa chọn chủng loại và chỉ tiêu thuốc nổ của tầng theo phần đất đá phía trên
và tiến hành xác định thông số của phần trên theo phương pháp nổ truyền thống.
Nghĩa là, đường kính lượng thuốc phía trên bằng đường kính lỗ khoan.
- Chọn đường kính lượng thuốc của phần dưới (d
2
) nhỏ hơn đường kính lỗ
khoan (d). Chọn chỉ tiêu thuốc nổ cho phần đất đá phía dưới (q
2
) dựa theo các
bảng phân loại đất đá hoặc lấy theo thực tế. Hình 5. Sơ đồ tính toán các thông số của lượng thuốc nổ có đường kính khác
nhau trong lỗ khoan khi đất đá phần dưới mềm yếu hơn phần trên.
1
h
b11
Cỏc thụng s n mỡn xỏc nh theo ni dung ca bi toỏn 1 trờn hỡnh 5
nh sau:
- Chiu cao ct thuc phớa trờn ly l: l
1
2(ka - lb); m
- ng kớnh lng thuc (d
1
) ly bng ng kớnh l khoan (d)
- Khi lng thuc n tớnh cho phn trờn l:
- Chiu cao ct thuc phớa di: l
2
= L
k
- (l
b
+ l
1
)
Khi lng thuc n tớnh cho phn di cú th c xỏc nh nh sau:
Gi d
2
l ng kớnh ca lng thuc phớa di, ta cú:
Các thông số của tầng và các thông số nổ mìn
T
T
d
(mm)
a
(m)
w
(m)
h
(m)
L
k
(m)
l
b
(m)
f
C
8075
5,5
4 42 1,5 1,5 2,5 3 75 0,8 6- 7 0,8 1050- 1150 0,32
3025
0,8
Cụng thc (9) ch ỏp dng khi t ỏ cú mt phõn lp nm ngang n
nghiờng. Khi mt phõn lp t ỏ dc ng, thỡ kt qu tớnh toỏn theo cụng thc
trờn s khụng chớnh xỏc.
m
awq
d ,2
2
2
kg
ld
Q ,
4
2
2
2
2
kg
ld
thỏi thuốc đúng theo thiết kế rồi tạo vành đai ở hai đầu hoặc giữa thỏi thuốc
bằng cách cuốn giấy nylon hoặc băng keo (hình 6a) rồi thả xuống lỗ khoan.
- Để tránh vật liệu bua rơi vào lớp vỏ bọc không khí của lượng thuốc có
đường kính nhỏ, phía đỉnh của lượng thuốc này cần nạp nữa thỏi thuốc có đường
kính bằng đường kính lỗ khoan, dài 15 – 20 cm (hình 6b )
- Các thỏi thuốc cần được đặt sẵn ở nhà máy ở tâm của thỏi thuốc cần có lỗ để
luồn được dây điện, dây nổ hay dây dẫn tín hiệu của ngòi nổ phi điện.
Hình 6. Sơ đồ cấu trúc lượng thuốc có đường kính khác nhau trong lỗ khoan
nhằm nổ mìn giảm chấn động
a/ Cấu trúc lượng thuốc trong lỗ khoan b/ cách tạo khoảng không khí
xung quanh thỏi thuốc
-Các lỗ khoan nhỏ cũng áp dụng tương tự như các lỗ khoan lớn. Riêng cột
thuốc có đường kính nhỏ hơn đường kính lỗ khoan phải được nạp bởi các thỏi
hoặc giấy
niylon
khoảng
không
khí
xung
quanh
thỏi
thuốc
13
giữa chúng) được nạp vào một phần hay nhiều phần của lỗ khoan hoặc đắp lên
khối thuốc nổ trên đối tượng cần nổ nhằm nâng cao hiệu quả phá vỡ đất đá và
bảo vệ môi trường xung quanh.
Theo các kết luận của nhiều tác giả và kết quả nghiên cứu, thực nghiệm
tại thực tế sản xuất, tác giả khẳng định rằng: khi vật liệu bua và thông số kỹ
thuật của nó hợp lý sẽ mang lại những tác dụng có lợi như sau:
- Khi nổ, đất đá không bị văng về phía miệng lỗ khoan, chống được tổn thất
năng lượng trong quá trình kích nổ chất nổ, thúc đẩy kích nổ hoàn toàn và giải
phóng năng lượng tối đa.
- Tạo điều kiện hoàn thành phản ứng phân huỷ lần thứ hai trong sản phẩm kích
nổ và tăng được năng lượng nổ.
- Tăng thời hạn tác dụng của sản phẩm kích nổ và kéo dài trạng thái căng của
đất đá nhất là khi sử dụng lỗ mìn phân đoạn không khí.
- Ngăn cản, giảm sự tạo thành sóng va đập trong không khí.
- Giảm số lượng khí độc, bụi trong sản phẩm kích nổ và ngăn cản sự bay xa của
các cục đá và bụi mỏ. Điều này có ý nghĩa rất lớn trong công tác bảo vệ môi
trường.
Như ta đã biết, nổ mìn là phương pháp phá vỡ đất đá tiên tiến và khẳng
liệu bua làm từ sét Kabenlis kết hợp với phoi khoan và đá dăm, cụ thể như sau:
- Công thức xác định chiều cao cột bua và vật liệu bua mìn: Hình 7. Sơ đồ xác định chiều dài cột bua hợp lý của lỗ mìn
trên tầng mỏ lộ thiên theo phương pháp của tác
Trong đó:
q
t
- chỉ tiêu thuốc nổ tính toán, kg/m
3
d - đường kính lỗ khoan, m
- là mật độ của thuốc nổ trong lỗ khoan, kg/m
3
- Vật liệu làm bua: để tăng sức kháng và hệ số ma sát của vật liệu bua với thành
lỗ khoan, thực nghiệm đã chứng minh rằng: vật liệu làm bua từ đất sét hoặc sét
W
C
b
l
1
l
2
l
b
0,5l
1
W
0
15
Hình 8. Sơ đồ thí nghiệm xác định số lần nhồi bua cát và mức độ chặt của nó
3
2
4
5
6
716
vôi nồng độ 3% pha dung dịch muối ăn nồng độ 3% (cứ 1m
3
sét tơi pha với 100
lít nước). Nếu đất sét đã ẩm sẵn thì không cần tới nước.
- Đối với Vụ nổ có quy mô từ 1500 kg - 2000 kg, có thể điều xe nhỏ có
sức chở 2-3 tấn để vận chuyển đất sét và đá dăm xung quanh khu vực nổ mìn
đến vị trí nổ mìn.
- Đối với Vụ nổ có quy mô lớn 3000 - 5000 kg, có thể điều xe tải lớn có sức
chở 10 tấn để vận chuyển đất sét và đá dăm xung quanh khu vực nổ mìn đến vị
trí nổ mìn.
Tuy nhiên, phương pháp nổ mìn với lượng thuốc nổ có đường kính khác
nhau nạp trong lỗ khoan chỉ nên áp dụng cho các vụ nổ có quy mô nổ <5000 kg
2. Nhận hộ chiếu nổ mìn, vận chuyển và chuẩn bị vật liệu nổ ở hiện trường:
- Kiểm tra, đo và lựa chọn kíp theo điện trở quy định trong hộ chiếu
- Mô hình được triển khai với quy mô nổ mìn thực nghiệm đối chứng giữa
phương pháp của mỏ đang sử dụng và phương pháp đề xuất của mô hình. Qua
đó, đánh giá được lợi kinh tế và ý nghĩa của công tác bảo vệ môi trường trong
khai thác mỏ.
- Phạm vi thực hiện của Mô hình được thực hiện tại 02 Mỏ đá Minh Quang
và Bảo Quân, xã Minh Quang, huyện Tam Đảo, Vĩnh Phúc. căn cứ vào nguồn
kinh phí được cấp là rất nhỏ, nên Nhóm triển khai mô hình chỉ thực hiện được
04 vụ nổ thực nghiệm. Trong đó có sự hỗ trợ kinh phí và nhân lực của Công ty
Cổ phần đầu tư Tân Phát và Công ty Cổ phând đầu tư & xây dựng Bảo Quân –
Chi nhánh Vĩnh Phúc.
2. Thực hiện: Việc thực hiện Mô hình đúng theo kế hoạch đề ra. Kết quả
nổ mìn không xảy ra mất an toàn, đảm bảo vệ sinh môi trường, không ảnh
hưởng đến đời sống của nhân dân sống xung quanh mỏ. Trong quá trình thực
hiện, các tài liệu kỹ thuật liên quan đến 04 vụ nổ đã được thiết lập và lưu trữ để
báo cáo, bao gồm: 04 chiếu nổ mìn (phụ lục1), 04 biên bản xác nhận nổ mìn
(phụ lục 2), 04 bản xác nhận kết quả đo chấn động (phụ lục 3), 01 bản xác nhận
tổng hợp số liệu đo chấn động, khí và bụi của công ty cổ phần P&Q (phụ lục 4),
02 bản xác nhận đã và đang ứng dung phương pháp nổ mìn theo mô hình của 02
đơn vị tham gia (phụ lục 5) và một số hình ảnh nổ thực nghiệm tại 2 mỏ (phụ 6)
3. So sánh, đánh giá: Đánh giá được hiệu quả kinh tế - kỹ thuật và xã hội
mà mô hình mang lại.
Để làm sáng tỏ hiệu quả kinh tế mà Mô hình mang lại, chúng ta có thể tham
khảo các thông số để so sánh qua 04 vụ nổ tại 02 mỏ đá Minh Quang và Bảo
Quân trên bảng 3.
Trên cơ sở dữ liệu của bảng 3, ta có thể tính toán hiệu quả kinh tế mà mô
hình mang lại tại mỏ đá Minh Quang (vụ nổ 1 = 1091 kg thuốc nổ, vụ nổ 2
= 998 kg thuốc nổ như sau:
- Lượng thuốc nổ tiết kiệm được theo phương pháp của MHNR so với
phương pháp nổ của mỏ trước đây là: 1091 – 998 = 93 kg
Số lượng thuốc nổ trên tương đương với kinh phí mà mỏ tiết kiệm được là:
- Các chi phí khác (băng keo =5 cuộn, vôi =5kg, muối ăn = 2kg)
510 000 đồng/cuộn + 51000đồng/kg +3kg 3000 đồng/kg = 70000 đồng
- Tổng chi phí phát sinh khi nổ theo phương pháp mới là: 920 000 đồng
- Kinh phí mà mỏ tiết kiệm khi nổ 998 kg thuốc nổ theo phương pháp mới:
3 069 000 đồng – 920 000 đồng = 2 149 000 đồng.
Tóm lại, khi nổ mìn với quy mô nổ 1000 kg thuốc nổ cho các lỗ khoan có
đường kính 105 mm theo phương pháp mới, không những mang lại hiệu quả
kinh tế, mà còn giảm thiểu được chấn động, khí độc hại và bụi mỏ sau khi nổ
mìn.đây chính là những ưu việt của Mô hình nhân rộng.
Bảng 3. Kết quả nổ mìn và các thông số liên quan đến chấn động, khí độc hại và bụi khi
tiến hành nổ mìn thực nghiệm tại 02 mỏ đá Minh Quang và Bảo Quân
Mỏ đá
Minh Quang
Mỏ đá
Bảo Quân
TCVN về
chấn động
khí, bụi mỏ TT
Các thông số nổ mìn và
kết quả đo được
khi nổ mìn.
Của mỏ
(cũ)
Đề xuất
(mới)
Của mỏ
(cũ)
Đề xuất
(mới)
6,55
(giới hạn
T.bình của
thang động
đất cấp III)
6,08
(giới hạn
T.bình của
thang động
đất cấp III)
3,15
(giới hạn
dưới của
thang động
đất cấp III)
Tối đa
25,4mm/s
với khoảng
cách đo t
ừ
92-524 m
11 Tỷ lệ đá quá cỡ ( %) 3,0 2,0 2,5 1,5
5 %
12 Nồng độ khí CO ( %) 0,0009 0,00045 0,0008 0,0004
0,0017
13 Nộng độ khí CO
2
( %) 0,35 0,25 0,25 0,15
0,5
suất thông thường tại nơi triển khai mô hình.
Thông qua 04 vụ nổ mìn thực nghiệm cho thấy: khi áp dụng nổ mìn theo
phương pháp mới (với cùng mạng nổ, vật liệu nổ, phụ kiện nổ và phương pháp
làm nổ) đã tiết kiệm được số lượng thuốc nổ như sau:
a. Tại mỏ đá Minh Quang, tiết kiệm được 93 kg thuốc nổ (tương đương
với 3 069 000 đồng) nhưng phải tăng chi phí nhân công phục vụ và
công vận chuyển để làm bua mìn từ 900 000 – 950 000 đồng
b. Tại mỏ đá bảo Quân, tiết kiệm được 80 kg thuốc nổ (tương đương với
2 640 000 đồng) nhưng phải tăng chi phí nhân công phục vụ và công
vận chuyển để làm bua mìn từ 800 000 – 850 000 đồng
III. Đánh giá về chất lượng
1.1. Theo kế hoạch ban đầu
Khi áp dụng phương pháp nổ mìn mới mức độ đập vỡ đất đá đồng đều hơn
và giảm được số lượng hòn đá quá cỡ, cũng như các tiêu chuẩn về chấn động và
môi trường (xem bảng 3 - trang 18)
3.2. Thực hiện
Việc thực hiện các vụ nổ được tiến hành theo các Quy chuẩn Việt Nam
QCVN – 02/BCT và dưới sự giám sát của sở KH &CN, Công ty Cổ phần P&Q,
Ban triển khai Mô hình và Đội kỹ thuật khoan bắn mìn của từng đơn vị.
Trước và sau mỗi vụ nổ đều đảm bảo an toàn và đảm bảo vệ sinh môi
trường.
3.3. So sánh, đánh giá: Bằng, vượt, thấp hơn giao.
Khi áp dụng phương pháp nổ mìn mới, các chỉ tiêu kỹ thuật và kinh tế sau
20
đây sẽ thay đỏi như sau:
- Chỉ tiêu thuốc nổ (q
t
) sẽ giảm từ mức 0,4 ÷ 0,42 xuống mức 0,36 ÷ 38
người dân sông gần 02 mỏ đá. Vì vậy, đơn vị chủ quản và Chủ nhiệm mô hình
đề nghị Hội đồng KHCN tỉnh Vĩnh Phúc tiếp tục theo dõi, quan tâm gíúp đỡ để
hoàn thiện báo cáo và tiến hành nghiệm thu và đánh giá Mô hình đạt kết quả tốt.
Kiến nghị
Đề nghị Hội đồng KHCN tỉnh Vĩnh Phúc xem xét, và cho phép Mô nình nhân
rộng này được tiếp tục triển khai cho hầu hết các mỏ đá thuộc địa bàn của tỉnh
Vĩnh Phúc .