1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Bệnh răng miệng là bệnh phổ biến, gặp ở mọi lứa tuổi, mọi đối tượng,
mọi quốc gia trên thế giới. Bệnh không chỉ gây tổn thương tại chỗ (sưng, đau,
loét lợi, lung lay răng, mất răng...) mà còn ảnh hưởng đến sức khoẻ, thẩm mỹ
và tâm lý của bệnh nhân. Trong các bệnh răng miệng thì sâu răng và viêm
quanh răng là 2 bệnh thường gặp nhất, nó cũng là 2 nguyên nhân chính gây
mất răng.
Tại Mỹ, nghiên cứu của Walter T. và cộng sự đã cho thấy tỷ lệ viêm
quanh răng là 25 - 41%, tỷ lệ viêm lợi ở trẻ em là 99%, viêm lợi ở người lớn
là 70 - 80% [1]. Theo kết quả điều tra dịch tễ học trên thế giới, trong khu vực
và ở Việt Nam thì tỷ lệ người mắc bệnh sâu răng chiếm từ 50- 90 % và trên
90% dân số mắc bệnh quanh răng [2].
Tại việt Nam theo điều tra sức khoẻ răng miệng toàn quốc 2001 học sinh
từ 6 đến 8 tuổi có tỷ lệ sâu răng sữa là 84,9% %, sâu răng vĩnh viễn là 25,4%;
lứa tuổi 9-11 sâu răng sữa 56,3% và sâu răng vĩnh viễn là 54,6% [3].
Hiện nay người ta coi bệnh quanh răng là một bệnh nhiễm khuẩn vì có
sự liên quan chặt chẽ giữa mảng vi khuẩn với tỉ lệ bệnh tổ chức quanh răng và
mức trầm trọng của bệnh, người ta đã xác định được nhiều chủng vi khuẩn
gây nên những thể viêm lợi và viêm quanh răng khác nhau. Các chủng vi
khuẩn này thường gặp trong khoang miệng người lành, nhưng khi có sự thay
đổi một số yếu tố trong môi trường miệng (sang chấn khớp cắn, thay đổi pH,
sức đề kháng của cơ thể giảm...) thì chúng phát triển mạnh lên và có khả năng
gây bệnh.
Bệnh phong là một bệnh nhiễm trùng mạn tính do trực khuẩn
Mycobacterium leprae (M. leprae) gây ra. Diễn biến của bệnh âm thầm, lặng
2
Men răng là tổ chức cứng nhất cơ thể, nó có tỷ lệ muối vô cơ là 96%
nhiều hơn so với ngà răng và xương răng, chất hữu cơ chiếm 1,7%, muối
chiếm 2,3%.
Men răng cứng, ròn, tỷ trọng từ 2,9-3. Men răng phủ toàn bộ thân răng,
dày nhất ở núm răng và mỏng dần về phía cổ răng. Ở trạng thái bình thường
thì men trong suốt, song nó có thể thay đổi màu sắc do tác động của một số
yếu tố.
* Ngà răng:
Ngà răng được bao phủ phía ngoài bởi men răng và xương răng, ngà là
tổ chức ít rắn hơn và chun giãn hơn, không ròn và dễ vỡ như men răng.
4
* Ty rng:
L mt t chc liờn kt nm trong hp cng ng thõn rng, ng chõn
rng v c thụng vi bờn ngoi bi l cung rng.
V t chc hc: Ty rng chia thnh hai vựng; vựng gia ty v vựng
cnh tu.
- Vựng gia ty: L t chc liờn kt gm nhiu t bo v ớt t chc si,
cú nhiu mch mỏu v bch huyt.
- Vựng cnh ty: Gm cú lp t bo to ng v lp khụng cú t bo l
nhng t chc si keo [5].
* Xng rng
L t chc vụ c bao ph ng chõn rng, cú ngun gc trung mụ. Thnh
phn hoỏ hc gn ging nh xng nhng khụng cú mch mỏu v thn kinh.
B dy xng rng tng theo tui, nú khỏc nhau cỏc vựng, cung rng dy
hn c rng [5].
Chc nng ca xng rng l cựng vi xng rng gi b rng cn
thit cho dõy chng quanh rng, bo v ng rng, tham gia sa cha mt s
* Giải phẫu lợi
Lợi gồm: Lợi tự do và lợi dính, đường phân chia giữa hai phần là rãnh
dưới lợi tự do.
Hình 1.3. Cấu trúc lợi
- Lợi tự do: là phần lợi không dính vào xương răng, ôm sát cổ răng, giữa
lợi tự do và chân răng là rãnh lợi sâu từ 0,5-2,5mm [6], [8]. Lợi tự do gồm 2
phần khác nhau về mặt bệnh lý là bờ lợi và nhú lợi. Bờ lợi là thành ngoài của
rãnh lợi. Nhú lợi là phần lợi che phủ kẽ giữa các răng, có một nhú phía ngoài
và một nhú phía trong, giữa hai nhú là một vùng lõm.
- Lợi dính: Là phần bám dính vào chân răng ở phía trên và mặt ngoài
xương ổ răng ở phía dưới bề rộng từ 0-7mm, có cấu trúc bề mặt sần sùi kiểu
da cam [6], [8].
6
1.1.2.2. Dây chằng vùng quanh răng
Là mô liên kết đặc biệt nối liền xương răng với xương ổ răng, chiều dày
thay đổi tuỳ theo tuổi hoặc lực nhai, thông thường dày từ 0,15-0,35 cm.
* Cấu trúc
Gồm những sợi collagen xếp thành từng bó, một đầu bám vào xương ổ
răng, một đầu bám vào xương răng của chân răng, dựa vào hướng đi người ta
chia ra thành những nhóm sợi khác nhau gồm: nhóm cổ răng, nhóm ngang,
nhóm chéo và nhóm cuống [5], [6].
Ở răng nhiều chân có những bó sợi đi từ xương răng ở kẽ giữa các chân
răng tới vách giữa xương ổ răng.
* Chức năng
- Giữ chắc răng trong ổ răng, đảm bảo sự liên quan sinh lý giữa xương
răng và xương ổ răng, nhờ những tế bào đặc biệt có khả năng tiêu huỷ hoặc
Hội nghị Quốc tế về lâm sàng bệnh quanh răng năm 1996 đã kết luận
nguyên nhân chính của bệnh viêm quanh răng ở người là do Porphyromonas
gingivalis, Bacteroides forsythus và Actinobacillus actinomycetemcomitans
gây ra [9], [10]. Những năm 90 của thế kỷ trước, người ta đã thấy rằng mặc
dù vi khuẩn là yếu tố cần thiết nhưng chúng không đủ để gây ra bệnh. Các
yếu tố vật chủ như quá trình tương tác giữa cơ thể với vi khuẩn, hút thuốc lá
và rất nhiều các yếu tố nguy cơ khác cũng góp phần không nhỏ trong việc
khởi phát và tiến triển bệnh [10].
Ngày nay, các nhà khoa học đã thống nhất sự khởi phát và tiến triển
của viêm quanh răng phụ thuộc vào vai trò của các vi khuẩn đặc hiệu, các đáp
ứng miễn dịch của cơ thể và các yếu tố nguy cơ khác [11], [12].
1.2.1.1. Vai trò của mảng bám răng và vi khuẩn
Mảng bám răng là màng sinh học (biofilm) chứa vi khuẩn. Màng sinh
học được định nghĩa là “một quần thể vi khuẩn lớn tựa trên một khung gắn
8
chặt vào nhau và hoặc vào một bề mặt hoặc giữa các bề mặt”. Mảng bám răng
là một chất lắng mềm được tạo thành từ một màng sinh học bám vào bề mặt
răng hay các bề mặt cứng khác trong khoang miệng [13], [14].
Mảng bám ở viền lợi là nguyên nhân quan trọng trong quá trình tiến
triển viêm lợi. Mảng bám trên lợi có liên quan với răng gây hình thành cao
răng và sâu chân răng trong khi mảng bám dưới lợi có liên quan với mô mềm
đóng vai trò quan trọng trong việc phá hủy mô mềm và tạo ra các dạng khác nhau
của viêm quanh răng [14], [15].
Mảng bám răng có thành phần chính là vi khuẩn. Một gram mảng bám
có 2 x 1014 vi khuẩn. Ngoài vi khuẩn, mảng bán còn có các vi sinh vật khác
như mycoplasma, nấm, protozoa và virus. Các vi khuẩn tồn tại trong một
khung tựa cellulose có chứa một số tế bào cơ thể như tế bào biểu mô, đại thực
kích thích tế bào cơ thể sản xuất ra các chất tiêu tổ chức như protease,
elastease và metalloprotease [19], [20], [4].
1.2.1.2. Vai trò của đáp ứng miễn dịch trong bệnh viêm quanh răng
Nhiệm vụ của hệ thống miễn dịch là tiêu diệt các tác nhân gây hại,
nhưng nếu phản ứng này quá mạnh thì có thể gây tiêu hủy tổ chức cơ thể [4].
Vi khuẩn gây bệnh có thể làm rối loạn hệ thống miễn dịch của cơ thể,
phá hủy tổ chức bằng việc tiết ra các chất trung gian gây viêm, qua đó kích
thích đại thực bào, bạch cầu giải phóng prostaglandin, interleukin 1 (IL-1),
yếu tố gây hoại tử mô. Các chất trung gian này có khả năng gây phá hủy
xương, tăng tính thấm thành mạch và ức chế các tế bào miễn dịch khác của cơ
thể [21], [11], [9].
Bình thường, các mạch máu nhỏ trong đám rối dưới lợi có các phân tử
kết dính như E-elastin và bạch cầu đa nhân trung tính di chuyển ra ngoài
mạch máu và xuyên qua biểu mô nối để vào rãnh lợi làm nhiệm vụ chống
nhiễm trùng. Khi vi khuẩn gây bệnh và các sản phẩm của nó xâm nhập vào tổ
chức liên kết quanh răng và hoạt hóa các tế bào biểu mô, IL-8 và các tế bào
10
nội mô của các mạch máu nhỏ bị viêm làm tăng các phân tử kết dính, dẫn đến
gia tăng xâm nhập bạch cầu, xâm nhiễm tế bào viêm, thoát dịch bào làm tăng
đáp ứng miễn dịch của cơ thể. Nếu hoạt động của vi khuẩn không được hạn
chế hoặc loại bỏ thì quá trình viêm ngày càng nặng thêm gây phá hủy tổ chức
liên kết quan răng và tiêu xương ổ răng [22], [12].
Vi khuẩn kích thích bạch cầu sản xuất các cytokine, các enzym MMP và
prostaglandin E2 (PGE2), các men phân giải protein khác và các chất trung
gian gây viêm. Đại thực bào và các nguyên bào sợi sản xuất IL-1 β, yếu tố
hoại tử khối u α, MMP và PGE2, làm giảm sản xuất các chất ức chế MMP.
Nồng độ MMP tăng gây phá hủy các chất nền ngoài tế bào tạo khoảng trống
- Chỉ số nhu cầu điều trị CPITN (community periodontal index of
treatment needs). Chỉ số này nhằm mục đích: Khám phát hiện và hướng dẫn cá
thể hoặc nhóm nhu cầu điều trị quanh răng.
1.2.2. Nguyên nhân và những hiểu biết về bệnh sâu răng
Sâu răng là một quá trình bệnh lý xuất hiện sau khi răng đã mọc, tổ chức
cứng của răng bị phá huỷ và tạo thành hốc gọi là lỗ sâu. Với những nghiên
cứu về căn nguyên của sâu răng, người ta thấy sâu răng là một bệnh mà lỗ sâu
chỉ là dấu hiệu của bệnh đang hoạt động [25].
Thức ăn
(bột đường)
Vi khuẩn
Men răng
Sơ đồ 1.1. Cơ chế sâu răng được mô tả bằng sơ đồ Keys
12
Bệnh căn sâu răng chủ yếu liên quan đến chất đường và vi khuẩn
Streptococcus Mutans, vi khuẩn này lên men các chất bột và đường còn dính
lại ở trên răng tạo thành acid, phá huỷ tổ chức cứng của răng tạo thành lỗ sâu.
Theo sơ đồ Keys, phòng bệnh sâu răng chủ yếu là hạn chế ăn
đường, vệ sinh răng miệng song hiệu quả phòng bệnh không cao [trích
dẫn theo 25].
Sau năm 1975 người ta đã làm sáng tỏ hơn căn nguyên gây bệnh sâu
răng và đưa ra sơ đồ WHITE thay thế một vòng tròn trong sơ đồ Keys, trong
sơ đồ này:
sâu răng bằng sơ đồ ba vòng tròn gồm các yếu tố sau:
- Vật chủ: Là răng (bao gồm men răng, ngà răng, xương răng).
- Môi trường: Là các thức ăn chứa cacbonhydrat có khả năng lên men.
- Tác nhân: Là vi khuẩn gây sâu răng gồm Streptococcus Mutans và
Lactobacillus.
Vật chủ
Tác nhân
Môitrường
Sơ đồ 1.3. Nguyên nhân gây sâu răng của hội nha khoa hoa kỳ
Từ những hiểu biết mới về căn nguyên của bệnh sâu răng, người ta cho
rằng bất cứ một phương pháp nào cũng có thể ngăn cản được sâu răng theo
quan điểm giảm huỷ khoáng hoặc gia tăng quá trình tái khoáng đều có thể
được xem là biện pháp phòng ngừa sâu răng, cải thiện sức khoẻ răng miệng.
- Thay đổi chế độ ăn uống sẽ làm giảm lượng mất khoáng.
- Trám bít hố rãnh làm ngăn ngừa sự tiếp xúc của acid phân huỷ từ thức ăn.
14
- Fluor có cả hai tác dụng là làm giảm sự mất khoáng và làm tăng quá
trình tái khoáng [27].
Người ta đã đưa ra 4 biện pháp trong chiến lược phòng bệnh sâu răng
cho cộng đồng đó là:
• Vệ sinh răng miệng.
• Chế độ ăn, uống có kiểm soát đường và tinh bột.
• Trám bít hố rãnh.
răng hoặc nhiều răng.
- Viêm tuỷ ngược dòng do nhiễm trùng từ túi quanh răng lan tới cuống
răng vào tuỷ răng.
- Viêm mô tế bào, viêm xoang hàm, viêm xương tuỷ hàm.
Biến chứng thường gặp của sâu răng:
- Viêm tủy răng
- Viêm quanh cuống răng
- Nặng phải nhổ răng
Mất răng là một trong những sự cố lớn về thể chất trong cuộc sống mỗi
chúng ta. Khi mất một hay nhiều răng sẽ ảnh hưởng đến thẩm mỹ của gương
mặt và ảnh hưởng đến các chức năng như nhai, nuốt, phát âm, ảnh hưởng đến
chức năng của hệ tiêu hóa.
1.4. Các nghiên cứu về sâu răng và viêm quanh răng
1.4.1. Các nghiên cứu trên thế giới
* Các nghiên cứu về sâu răng:
Năm 1969, ngân hàng dữ kiện sức khoẻ răng miệng thế giới của Tổ
chức sức khoẻ thế giới (WHO/OMS) được thành lập, cho thấy ảnh hưởng của
bệnh sâu răng trên thế giới có hai khuynh hướng trái ngược nhau. Tại các
nước phát triển, sâu răng giảm rõ rệt từ mức cao xuống trung bình hay thấp,
trong khi đó ở các nước đang phát triển sâu răng có khuynh hướng tăng từ
thấp đến trung bình hay cao.
16
Để đo lường mức độ bệnh sâu răng, người ta dùng tỉ lệ % và chỉ số
SMT, trong đó S là răng sâu, M là răng mất do sâu và T là răng trám, SMT là
chỉ số chỉ áp dụng cho răng vĩnh viễn và không hoàn nguyên có nghĩa là chỉ
số này ở một người chỉ có tăng chứ không có giảm. SMT ở từng người có thể
ghi từ 0 đến 32, đối với nghiên cứu dịch tễ học, SMT của cộng đồng là tổng
Cao
4,5- 6,5
12,8- 16,2
≥ 6,6
≥ 16,3
Rất cao
* Tình hình bệnh sâu răng trên thế giới:
Ở các nước phát triển như Anh, Mỹ, Canada, Thuỵ điển… những thập
niên 60-70 có tỷ lệ sâu răng cao trên 90% dân số. Đến thập niên 90 thì tỷ lệ
này đã được giảm xuống rất nhiều.
Chỉ số SMT ở trẻ 12 tuổi ở một số nước phát triển (từ thập kỷ 80 đến
nay) [10].
Bảng 1.2. Chỉ số SMT của một số nước phát triển trên thế giới.
Tên nước
Năm
SMT
Năm
SMT
2006
2002
2000
1997
2004
2005
1999
1,0
1,23
1,75
0,8
2,1
0,86
1,7
2,0
Trong khi đó ở một số nước đang phát triển (thập niên 70 đến nay) tình
trạng sâu răng và chỉ số SMT vẫn còn cao.
Chỉ số SMT ở trẻ 12 tuổi ở một số nước đang phát triển [29].
Bảng 1.3. Chỉ số SMT ở một số nước đang phát triển
Tên nước
Năm
SMT
Năm
SMT
Iran
1976
4,9
2001
1,8
Điều này có được là do các nước phát triển đã áp dụng triệt để các biện
pháp phòng bệnh. Ở các nước đang phát triển trong đó có các nước khu vực
Đông Nam Á, tình trạng sâu răng và chỉ số SMT ở trẻ em còn cao. Chỉ số
SMT tuổi 12 ở một số nước trong khu vực Đông Nam Á-Thái Bình Dương
năm 1994- 2003 [27].
18
Bảng 1.4. Chỉ số SMT của một số nước vùng Đông Nam Á
Tên nước
Trung quốc
Lào
Triều tiên
Brunei
Campuchia
Philippin
Năm
82,25%
15
60%
44% 43,7%
96%
62%
35-44
72%
76% 64,2%
92%
68%
Sau 10 năm, qua điều tra sức khoẻ răng miệng toàn quốc năm 2000, tỷ lệ
sâu răng trên toàn quốc ở các lứa tuổi như sau:
- Răng sữa: 6 tuổi 83,7% , chỉ số smt 6,15.
- Răng vĩnh viễn:
+ 12 tuổi 56,6%, SMT 1,87.
+ 15 tuổi 67,6% , SMT 2,16.
Năm 1977 có 77% trẻ em 6 tuổi ở Hà Nội bị sâu răng sữa, 30% trẻ em 13
tuổi bị sâu răng vĩnh viễn [33] [15]. Năm 1978, tỷ lệ sâu răng vĩnh viễn ở trẻ
em 6 tuổi trở lên khoảng 39%, sâu răng sữa 1- 5 tuổi là 31,33% [34], [32], [33].
19
Theo nghiên cứu của Hoàng Tử Hùng (1981), tỷ lệ sâu răng sữa ở một
số tỉnh ở Miền nam là 70,47%. Năm 1985 tỷ lệ sâu răng vĩnh viễn ở trẻ 12
tuổi trên toàn quốc [29]. Miền bắc: 19,30%- SMT là 0,40. Miền nam:
76,29%- SMT là 2,51.
64,1
2,05
68,6
2,40
+ Tại Thị xã Hoà Bình năm 2000 cho thấy [31]: Trẻ 6 tuổi: Tỷ lệ sâu
răng sữa là 61,5%- chỉ số smt là 0,17; Tỷ lệ sâu răng vĩnh viễn là 14,5%. Trẻ
12 tuổi tỷ lệ sâu răng vĩnh viễn là 62%.
+ Tại Thị xã Yên Bái năm 2003 [trích dẫn theo 2]: Trẻ 6 tuổi: Tỷ lệ sâu
răng sữa là 64,95% chỉ số smt là 3,58; Tỷ lệ sâu răng vĩnh viễn là 13,97% chỉ
số SMT là 0,23. Trẻ 12 tuổi: Tỷ lê sâu răng vĩnh viễn là 51,82% chỉ số SMT
là 1,50;
20
Qua các số liệu trên cho ta thấy tình trạng sâu răng còn rất phổ biến và
tỷ lệ tăng dần theo tuổi.
* Tình hình bệnh quanh răng ở Việt Nam:
Tại Việt Nam qua điều tra bệnh quanh răng ở các tỉnh phía Nam và
thành phố Hồ chí Minh, Nguyễn Cẩn và CS cho thấy tỉ lệ viêm lợi ở tuổi từ
15-19 là 97,7%, từ 20-29 là 88,7% và tác giả cho biết 1/3 số viêm lợi sẽ tiến
triển sang VQR sau một thời gian thường là sau 35 tuổi [32], [35].
Theo điều tra sức khoẻ răng miệng toàn quốc năm 2001 tỷ lệ người
viêm lợi và viêm quanh răng lên tới 90% trong đó tỉ lệ người bị VQR ở lứa
tuổi 35-44 là 36,4%; ở lứa tuổi 45 trở lên là 46,2% [3].
1.4.3. Tình hình sâu răng và bệnh quanh răng ở những bệnh nhân đặc biệt
1.4.3.1. Liên quan của sâu răng, viêm quanh răng với một số bệnh mãn tính,
chuyển hóa
Với một số bệnh mãn tính và bệnh chuyển hóa, các bệnh viêm quanh
quanh răng và sâu răng cao hơn do tình trạng vệ sinh kém, sức đề kháng
giảm. Tuy nhiên, tình trạng sâu răng, bệnh quanh răng ở những đối tượng đặc
biệt này cũng còn ít nghiên cứu đề cập một cách hệ thống.
1.4.3.2. Liên quan của sâu răng, viêm quanh răng với bệnh phong
Bệnh phong là một bệnh nhiễm trùng mạn tính do trực khuẩn
Mycobacterium leprae (M. leprae) gây ra. Diễn biến của bệnh âm thầm, lặng
lẽ, lâu dài thậm chí cả cuộc đời nếu không được phát hiện và điều trị.
Trực khuẩn phong tác động chủ yếu vào da, các dây thần kinh ngoại
biên. Trong một số thể của bệnh, M. leprae có thể thấy ở nhiều nơi như niêm
mạc đường hô hấp, gan, lách, mắt, tinh hoàn… [36], [37]. Điều đáng sợ là bệnh
phong tuy không gây chết người nhưng nó làm cho người bệnh bị tàn tật. Đây
chính là nguyên nhân gây ra định kiến nặng nề, người bệnh bị xã hội ruồng bỏ.
Bệnh phong được chia thành các thể sau [36], [38]:
22
- Phong th c (T. Tuberculoid): tn thng l cỏc c, mng c mt
cm giỏc, s lng ớt, khu trỳ.., viờm dõy thn kinh.
- Phong bt nh (I: Indeterminate): tn thng l cỏc dỏt thay i mu
sc, mt cm giỏc nh hoc va.
- Phong th trung gian (B. Borderline): õy l th phong va mang tớnh
cht ca th c va mang tớnh cht ca th u.
- Phong th u (L: Lepromatous): thng tn da l cỏc u phong, mng
thõm nhim, lan ta ton thõn, i xng, viờm dõy thn kinh.
Ngy nay, t l bnh phong ó gim, nhng t l tang tt ngi b
phong vn cao. Tn tt trong bnh phong cú th xut hin trc, trong v sau
iu tr. Tu theo nguyờn nhõn m ngi ta chia cỏc loi hỡnh tn tt thnh hai
loi sau õy [37], [38]:
* Tn tt tiờn phỏt:
ti hi ngh ỏnh giỏ hot ng chng phong 2006 ca WHO, ton th gii
hin cú 7 nc cú t l lu hnh cao nht trong ú cú n , Brazil, Angola,
Mozambique, Nepal, Congo, Madagasca
Vit Nam, trc nm 1960 cha cú cuc iu tra no v bnh phong
ỏng tin cy. Ngi ta c tớnh t l lu hnh Min Bc l 2/10.000, Min
nam v Tõy nguyờn thỡ cao hn [7]. Trong nhiu nm qua nh nhng n lc
trong hot ng chng Phong, chỳng ta ó thu c nhng kt qa ỏng phn
khi. Vit Nam l mt trong nhng nc t c mc tiờu loi tr bnh
phong, theo tiờu chun ca WHO sm nht so vi cỏc nc trong khu vc (t
l lu hnh di 1 phn 10.000 dõn s).
Tuy nhiờn, cho ti nay s bnh nhõn mi hng nm vn cũn nhiu, cỏc
bnh nhõn ny mt phn c iu tr gia ỡnh, nhng phn ln c sng
cỏc Khu iu tr phong cỏc vựng khỏc nhau.
Vi nhng n lc trong cụng tỏc chng phong ca ton ngnh Da liu
Vit Nam, s lng bnh nhõn hng nm gim mt cỏch ỏng k. Tuy nhiờn s
bnh nhõn phong mi cũn cao nm 2005: 746 bnh nhõn mi. 25 tnh/thnh cú t
l phỏt hin trờn 1/100.000, trong ú 8 tnh cú t l phỏt hin trờn 2/100.000 [7].
24
Do là một bệnh mãn tính nên bệnh nhân phong cũng dễ mắc các bệnh về
răng miệng. Thêm vào nữa do điều kiện sống của các bệnh nhân này thường khó
khăn, sức đề kháng giảm làm cho tình trạng bệnh răng miệng ở các bệnh nhân
phong cao. Tuy nhiên đã có những nghiên cứu về tình trạng sâu răng, bệnh quanh
răng ở nhóm bệnh nhân này.
1.5. Các biện pháp phòng và điều trị viêm quanh răng và sâu răng
1.5.1. Các biện pháp phòng bệnh
* Phòng bệnh sâu răng:
Để phòng sâu răng, WHO đã đưa ra mục tiêu đến năm 2010 như sau [26]:
- Hướng dẫn các biện pháp vệ sinh răng miệng chủ yếu là đánh răng sạch
sau khi ăn và trước khi ngủ, đánh đúng phương pháp.
- Trám bít hố rãnh ở mặt nhai các răng hàm vĩnh viễn mới mọc, phục
hình răng mất, chỉnh hình răng mọc lệch lạc.
- Tăng cường sử dụng Fluor dưới mọi hình thức gồm:
+ Đánh răng với kem đánh răng có Fluor.
+ Súc miệng với NaF 0,2 % tuần/lần.
+ Dùng gel Fluor để bôi.
+ Uống viên Fluor với liều lượng như sau:
0 - 6 tháng: 0,25 mg F/ngày.
6 - 18 tháng: 0,25 - 0,5 mg F/ngày.
18 - 2 năm: 0,25 - 0,75 mg F/ngày.
Sau 2 tuổi: 0,5 - 1,0 mg F/ngày.
- Áp dụng chế độ ăn hợp lý có nội dung chủ yếu là kiểm soát thực phẩm
(giảm lượng carbohydrate, tránh ăn vặt).
Ở Các nước trên thế giới cũng như ở Việt Nam, để phòng bệnh sâu
rang, người ta triển khai chương trình nha học đường mà đối tượng của