“Bước đầu nghiên cứu tình hình ô nhiễm nước mặt tại một số sông chính trên đòa bàn tỉnh Đồng
Tháp – Đề xuất giải pháp kiểm soát ô nhiễm”
Chương 1: TỔNG QUAN
1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Hiện nay ô nhiễm môi trường nước là một vấn đề thu hút được sự quan tâm
của rất nhiều nhà khoa học, các tổ chức môi trường trên thế giới cũng như từng
quốc gia. Trong đó,ô nhiễm nước mặt trong các thủy vực như: sông ngòi, hồ tự
nhiên, hồ chứa (hồ nhân tạo), đầm lầy, đồng ruộng là vấn đề thu hút quan tâm
nhiều nhất. Trong các dạng nước mặt, thì nước sông là nguồn nước được sử dụng
rộng rãi trong đời sống và sản xuất.
Nước ta có hệ thống sông ngòi dày đặc, trong đó có 2.360 sông có chiều dài
lớn hơn 10 km; 8 trong số các con sông này có lưu vực sông lớn với diện tích lớn
hơn 10.000 km
2
. Tổng dòng chảy sông ngòi trung bình hàng năm của nước ta bằng
khoảng 847 km
3
; trong đó, tổng lượng ngoài vùng chảy vào là 507 km
3
(chiếm
60%) và dòng chảy nội đòa là 340 km
3
(chiếm 40%).
Đồng Tháp là một tỉnh nông nghiệp thuộc Đồng Bằng Sông Cửu Long, môi
trường không những chòu ảnh hưởng do quá trình phát triển kinh tế xã hội của tỉnh
mà còn chòu tác động từ các khu vực lân cận. Hàng năm Đồng Tháp chòu ảnh
hưởng của lũ từ thượng nguồn sông Mê Kông đổ về. Kinh tế của vùng đồng bằng
sông Cửu Long nói chung và của Đồng Tháp nói riêng chưa phát triển đúng với
tiềm năng sẵn có, đời sống của đa số người dân nông thôn vẫn còn gặp khó khăn.
Hơn 60% hộ gia đình ở Tỉnh Đồng Tháp sống dọc theo các kênh, sông đã phát
sinh nhiều vấn đề về ô nhiễm môi trường, phá vỡ cân bằng sinh thái. Trong đó,
Chính vì lẽ đó, với sự chấp thuận của khoa Môi trường và công nghệ Sinh học
- trường Đại học Kỹ thuật Công nghệ TP.HCM nay em xin mạnh dạn tiến hành
đề tài“Bước đầu nghiên cứu tình hình ô nhiễm nước mặt tại một số sông chính trên
đòa bàn Tỉnh Đồng Tháp - đề xuất giải pháp kiểm soát ô nhiễm”
SVTH: Nguyễn Phượng Loan
2
“Bước đầu nghiên cứu tình hình ô nhiễm nước mặt tại một số sông chính trên đòa bàn tỉnh Đồng
Tháp – Đề xuất giải pháp kiểm soát ô nhiễm”
1.2 MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
- Nghiên cứu, đánh giá thực trạng ô nhiễm nguồn nước mặt của một số sông
chính trên đòa bàn tỉnh Đồng Tháp.
- Đề xuất các biện pháp để kiểm soát tình hình ô nhiễm nguồn nước mặt tại
một số sông chính trên đòa bàn tỉnh Đồng Tháp, góp phần xây dựng môi
trường xanh - sạch - đẹp và phục vụ đời sống của người dân trong tỉnh.
1.3 Ý NGHĨA CỦA ĐỀ TÀI
Đề tài nghiên cứu về chất lượng nước mặt dựa theo các tiêu chuẩn môi trường
đang được áp dụng đối với nước mặt TCVN 5942 - 1995. Đây là một đề tài mang
tính thiết thực và có thể áp dụng để xem xét tình hình ô nhiễm môi trường nước
mặt trên đòa bàn tỉnh Đồng Tháp nói riêng, các đòa phương khác nói chung. Bên
cạnh đó, trong tình hình nước ta hiện nay bởi không có các cơ quan quản lý hành
chánh phối hợp kế hoạch một cách chặt chẽ, họ không đònh hướng rõ công việc
mình cần phải làm và làm như thế nào để mang lại hiệu quả kinh tế mà vẫn đảm
bảo đến sức khoẻ của người dân và hệ sinh thái tự nhiên trong khu vực. Như vậy,
đề tài còn chú trọng đến công tác giáo dục cho cán bộ, nhân dân trong khu vực có
nhận thức cơ bản về môi trường đồng thời mở ra đònh hướng phát triển kinh tế của
vùng.
1.4 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
Để đạt được mục tiên đề ra, đề tài cần được tiến hành với các nội dung chính
sau đây:
- Tổng quan về điều kiện tự nhiên và hiện trạng kinh tế xã hội tỉnh Đồng
phía thượng nguồn
Nước thải sinh
hoạt, công
nghiệp, các hoạt
động nông
nghiệp tại đòa
phương
“Bước đầu nghiên cứu tình hình ô nhiễm nước mặt tại một số sông chính trên đòa bàn tỉnh Đồng
Tháp – Đề xuất giải pháp kiểm soát ô nhiễm”
Nhìn chung, nước tham gia vào tất cả các hoạt động sống trên hành tinh chúng
ta; ở đâu có nước thì ở đó có sự sống. Hiện nay, chất lượng nước mặt đang bò ảnh
hưởng bởi các yếu tố tự nhiên như nước trong khí quyển; nước chảy tràn từ các
khu vực lân cận; nước mặt ô nhiễm từ phía thượng nguồn đã làm ảnh hưởng đến
chất lượng nguồn nước. Bên cạnh đó, dưới tác động của con người như nước thải
sinh hoạt, công nghiệp, nông nghiệp do các nhu cầu ăn uống, sinh hoạt, công
nghiệp, nông nghiệp một mặt ngốn lượng nước đáng kể, mặt khác còn gây suy
thoái và ô nhiễm nguồn nước, một khi chất lượng nguồn nước bò suy thoái và ô
nhiễm sẽ gây ảnh hưởng ngược trở lại đối với sự sống của sinh vật và hoạt động
của con người cũng như vấn đề khí hậu toàn cầu.
Môi trường nước được xem là môi trường sống, sự vận động và phản ứng của
chúng đối với các chất ô nhiễm có những đặc điểm riêng. Môi trường nước rất
nhạy cảm, chất bẩn được chuyển tải từ nơi này đến nơi khác dưới dạng hòa tan và
phần lớn nhờ các hạt keo trong nước. Do đó, cần có những phương pháp nghiên
cứu thích hợp.
1.5.2 Phương pháp triển khai đề tài
Các phương pháp được sử dụng trong đề tài này bao gồm phương pháp tổng
hợp thông tin, điều tra khảo sát, thu thập tài liệu, số liệu, so sánh và đánh giá số
liệu
- Tiền sát tại các cơ quan quản lý môi trường: việc tiền sát được tiến hành
trong suốt tháng 9/2006 nhằm khẳng đònh khả năng thu thập được các tài
văn tốt nghiệp là chủ yếu sử dụng 2 phần mềm Microsoft Word để soạn thảo báo
cáo và Mcirosoft Excel để xử lý số liệu và vẽ đồ thò phục vụ cho luận văn.
Trên cơ sở các kết quả nghiên cứu được sẽ tiến hành đề xuất các giải pháp để
cải thiện chất lượng nước mặt tại một số sông chính chảy qua đòa bàn tỉnh Đồng
Tháp.
SVTH: Nguyễn Phượng Loan
6
“Bước đầu nghiên cứu tình hình ô nhiễm nước mặt tại một số sông chính trên đòa bàn tỉnh Đồng
Tháp – Đề xuất giải pháp kiểm soát ô nhiễm”
1.6 GIỚI HẠN ĐỀ TÀI
Giới hạn về đối tượng nghiên cứu: Đề tài chỉ tập trung nghiên cứu về các
thông số gây ô nhiễm nước mặt tại một số sông chính ở Đồng Tháp gồm các
thông số vật lý, hóa học, sinh học,…
Giới hạn về phạm vi nghiên cứu: Nguồn nước mặt trên một số sông chính
trên đòa bàn tỉnh Đồng Tháp.
SVTH: Nguyễn Phượng Loan
7
“Bước đầu nghiên cứu tình hình ô nhiễm nước mặt tại một số sông chính trên đòa bàn tỉnh Đồng
Tháp – Đề xuất giải pháp kiểm soát ô nhiễm”
Chương 2: ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN VÀ HIỆN TRẠNG KINH TẾ XÃ
HỘI TỈNH ĐỒNG THÁP
2.1KHÁI QUÁT VỀ ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN
2.1.1 Vò trí đòa lý
Đồng Tháp là một trong ba Tỉnh nằm trên đòa bàn Đồng Tháp Mười thuộc
vùng đồng bằng sông Cửu Long, nằm ở phía thượng nguồn sông Tiền. Về đơn vò
hành chính, Đồng Tháp có 2 thò xã (Thò xã Cao Lãnh và Thò xã Sa Đéc) và 9
huyện (Tân Hồng, Hồng Ngự, Tam Nông, Thanh Bình, Tháp Mười, Cao Lãnh,
Lấp Vò, Lai Vung, Châu Thành).
Tổng diện tích tự nhiên của toàn Tỉnh là 3.374 km
2
thấp nhất là + 0,7 m gồm các Huyện Tam Nông, Thanh Bình, Tháp Mười, Cao
Lãnh và Thò xã Cao lãnh, TX Sa Đéc, Lấp vò, Lai Vung, Châu Thành, Khu di tích
Gò Tháp và Bộ chỉ huy Bộ đội Biên phòng. Đây là vùng kinh tế có nhiều tiềm
năng phát triển, đặc biệt là về nông - lâm - thủy sản
Vùng phía Nam sông Tiền: có diện tích tự nhiên 73.074 ha, rộng 756 km
2
, nằm
kẹp giữa sông Tiền và sông Hậu, đòa hình có dạng hình lòng máng, hướng dốc từ
hai bên sông vào giữa, với độ cao phổ biến 0,8 - 1,0 m, gồm các Huyện Lai Vung,
Lấp vò, Châu Thành và TX Sa Đéc. Do đòa hình thấp nên mùa lũ (tháng 9 và
tháng 10 hàng năm) thường bò ngập nước khoảng 1m. Ngoài sông Tiền và sông
Hậu, Đồng Tháp còn có sông Sở Thượng và sông Sở Hạ bắt nguồn từ Campuchia
đổ vào sông Tiền ở phía Bắc Tỉnh. Phía Nam Tỉnh cũng có một số sông như sông
Cái Tàu Thượng, sông Cái Tàu Hạ và sông Sa Đéc. Các sông này cùng với 20
kênh rạch tự nhiên,110 kênh đào cấp I, 2400 km kênh đào cấp II và cấp III đã
hình thành hệ thủy nông hoàn chỉnh phục vụ cho việc thoát lũ, tiêu nước và đưa
nước ngọt vào đồng. Vùng này có đòa hình cao hơn, gần với trung tâm kinh tế khu
vực, giao thông thủy bộ thuận lợi, đất đai màu mỡ, dân cư đông đúc nên nền kinh
SVTH: Nguyễn Phượng Loan
9
“Bước đầu nghiên cứu tình hình ô nhiễm nước mặt tại một số sông chính trên đòa bàn tỉnh Đồng
Tháp – Đề xuất giải pháp kiểm soát ô nhiễm”
tế phát triển khá ổn đònh, tiềm năng phát triển công nghiệp, thương mại, du lòch
còn lớn.
2.1.2.2 Thổ nhưỡng
Nhóm đất phù sa.
Nhóm đất này có diện tích 191.769 ha, chiếm 59,06% diện tích tự nhiên. Đây
là nhóm đất phân bố khắp 10 huyện thò (trừ huyện Tân Hồng). Loại đất này bao
gồm:
Loại đất Diện tích (ha)
bắt đầu từ tháng 5 đến tháng 11 và mùa khô thừ tháng 12 đến tháng 4 năm sau.
Gió theo hai hướng: Đông Bắc từ tháng 12 - 5, Tây Nam từ tháng 5 - 11, vận tốc
gió trung bình 2 -3 m/s. Riêng khu vực Đồng Tháp Mười vào mùa mưa thưởng
xảy ra gió lốc xoáy.
Sự thay đổi nhiệt độ trung bình giữa các tháng trong năm trong một số năm
gần đây như sau :
Bảng 2.1: Nhiệt độ trung bình giữa các tháng trong một số năm gần đây
Nă
m
Nhiệt độ trung bình tháng (
0
C)
TBT1 T2 T3 T4 T5 T6 T7 T8 T9 T10 T11 T12
200
1 26,30 26,30 27,60 28,80 28,20 27,30 27,80 27,20 28,20 27,60 26,20 26,20 27,31
200 25,20 25,50 25,50 29,10 29,0 27,90 27,80 27,10 27,70 27,90 27,50 27,40 27,46
SVTH: Nguyễn Phượng Loan
11
“Bước đầu nghiên cứu tình hình ô nhiễm nước mặt tại một số sông chính trên đòa bàn tỉnh Đồng
Tháp – Đề xuất giải pháp kiểm soát ô nhiễm”
2
200
3 25,4 26,60 28,10 29,50 28,0 28,50 27,3 27,10 27,20 26,90 27,30 25,20 27,31
200
4 25,70 25,70 27,70 29,30 28,40 27,50 27,30 27,30 27,60 27,20 27,20 25,40 27,19
200
5 24,90 26,60 27,50 29,00 28,90 28,10 26,80 27,60 27,40 27,60 27,20 25,60 27,26
Nguồn : Niên giám thống kê tỉnh Đồng Tháp, 2005
Kết quả quan trắc ở trên cho thấy sự chênh lệch nhiệt độ giữa các tháng trong
năm không lớn, nhiệt độ trung bình hằng năm khoảng 27,3
Tháp – Đề xuất giải pháp kiểm soát ô nhiễm”
200
2 0 0 0 14,0 23,4 181,7147,3160,9 154,3 317,2136,7 98,3
1233,
8
200
3 1,6 0 0 10,4 330,1114,2311,2208,9 260,7396,1104,2 1,6
1739,
0
200
4 0 0 0 1,0 134,9291,7 66,0 99,0 148,5379,0107,1 26,7
1253,
9
200
5 0 0 0,2 1,6 66,3 142,1255,9173,2224,0383,9 151,2 98,8
1497,
2
Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Đồng Tháp, 2005
Nhìn chung, tỉnh Đồng Tháp có lượng mưa lớn, mang lại nguồn nước cho
người dân nơi đây sử dụng. Tuy nhiên, lượng mưa tập trung vào một số tháng
cũng gây nhiều ảnh hưởng đến môi trường xung quanh, lượng mưa chảy tràn trên
mặt đất sẽ cuốn trôi các chất bẩn ra sông, rạch, gây ô nhiễm môi trường nước.
Độ ẩm
Bảng 2.3: Độ ẩm trung bình các tháng trong năm 2005
Tháng 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12
Độ ẩm (%) 81 78 75 75 80 84 86 85 86 86 86 83
Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Đồng Tháp, 2005
Độ ẩm trung bình là 81%, cao nhất là 86% (tháng 7) và thấp nhất là 75%
(tháng 3).
2.1.3.2 Thủy văn
14
“Bước đầu nghiên cứu tình hình ô nhiễm nước mặt tại một số sông chính trên đòa bàn tỉnh Đồng
Tháp – Đề xuất giải pháp kiểm soát ô nhiễm”
- Mùa lũ: thường bắt đâù từ tháng 5 đến tháng 11, tháng 7 - 8 nước lũ vào đồng
ruộng từ các cửa kênh rạch. Khi đã vượt bờ kênh, bờ ao tương ứng với mực nước
lũ tại Hồng Ngự (+ 3,5m), lũ bắt đầu tràn đồng qua biên giới và bắt đầu ngập lụt
toàn bộ khu vực. Đầu tháng 7 nước lũ vào đồng ruộng theo 2 hướng: từ sông Cửu
Long theo các trục kênh chính với tổng lượng khoảng 7 tỷ m
3
và lũ tràn qua biên
giới Campuchia với lưu lượng từ 3.500 - 4000 m
3
/giây, tổng lượng lũ tràn khoảng
26 tỷ m
3
, cường suất lũ lên từ 3 - 5cm/ngày, có khi lớn hơn 10 cm/ngày. Đỉnh lũ
cao nhất từ tháng 9 - 10, độ ngập sâu trung bình lớn hơn 1m so với khu vực phía
Bắc kênh Nguyễn Văn Tiếp A và nhỏ hơn 1m so với khu vực phía Nam kênh
Nguyễn Văn Tiếp A.
nh hưởng của triều vào mùa lũ không lớn, nhất là đối với khu vực phía Bắc
của tỉnh. Theo quy luật của lũ trước đây, thường thì cứ 5 - 6 năm thì xuất hiện một
trận lũ lớn nhưng từ năm 1991 đến nay lũ đã không còn tuân theo quy luật trên
mà nó đã liên tiếp xuất hiện trong nhiều năm liền. Trong đó, trận lũ năm 2000 là
trận lũ diễn biến khá phức tạp và là trận lũ lòch sử của 40 năm qua.
2.1.4 Tài nguyên thiên nhiên
2.1.4.1 Tài nguyên đất
Đất đai Đồng Tháp có độ màu mỡ cao, thích hợp cho sự phát triển của cây lúa
nước, cây công nghiệp ngắn ngày như đậu phọng (lạc), đậu nành, và các cây ăn
trái như cam, qt, nhãn,… Hiện tại, đất sử dụng cho nông nghiệp chiếm 72,71%,
đất lâm nghiệp chiếm 6,88%, đất chuyên dùng và đất khác chiếm 20,41%.
2.1.4.2 Tài nguyên rừng
SVTH: Nguyễn Phượng Loan
16
“Bước đầu nghiên cứu tình hình ô nhiễm nước mặt tại một số sông chính trên đòa bàn tỉnh Đồng
Tháp – Đề xuất giải pháp kiểm soát ô nhiễm”
Trước đây, đa số các diện tích ẩm, lầy thấp ở Đồng Tháp Mười được bao phủ
bởi rừng rậm rất phong phú và cây tràm được coi là đặc thù của Đồng Tháp
Mười. Do khai thác không hợp lý đã làm diện tích tràm giảm đến mức báo động,
gây nên mất cân bằng sinh thái. Ngày nay, nguồn rừng chỉ còn quy mô nhỏ, diện
tích rừng tràm còn dưới 10.000 ha, động vật, thực vật rừng rất đa dạng có rắn, rùa,
cá, tôm, trăn, cò, cồng cộc, đặc biệt là sếu cổ trụi nhưng cũng kém rất nhiều so
với trước đây.
Theo số liệu thống kê năm 2005, diện tích rừng của toàn tỉnh có 16.602,579
ha, trong đó có: rừng tràm 11.131,474 ha (phân bố chủ yếu ở huyện Tam Nông,
Tháp Mười, Cao Lãnh); rừng bạch đàn 58,199 ha (ở huyện Tân Hồng. Phân theo
công dụng có: rừng đặc dụng 3.086,650 ha (phân bố ở Vườn Quốc Gia Tràm
Chim, Khu di tích Xẻo Quýt, Gò Tháp), rừng phòng hộ 2.623,540 ha, rừng sản
xuất 5.479,483 ha.
2.1.4.3 Tài nguyên khoáng sản
Đồng Tháp là một tỉnh rất nghèo về tài nguyên khoáng sản, chủ yếu có:
- Cát sông: Có trữ lượng và chất lượng được coi là lớn nhất và tốt nhất so
với các Tỉnh thuộc khu vực đồng bằng sông Cửu Long và miền Đông Nam
Bộ. Được phân bố dọc theo ven sông (sông Tiền, sông Hậu), cồn hoặc cù
lao dạng trầm tích theo dòng chảy, cótrữ lượng trên 700 triệu khối được
khai thác sử dụng trong công nghiệp xây dựng gồm cát san lấp mặt bằng
và cát xây dựng đã và đang khai thác có hiệu quả, khối lượng khai thác
hàng năm khoảng 5 - 6 triệu m
3
. Đặc biệt, với mỏ cát vàng có trữ lượng
lớn, rất có giá trò trong việc xây tô, sản xuất các sản phẩm đúc sẵn trong
trưởng, tăng năng suất cây trồng. Đến nay, nguồn nguyên liệu này chưa đủ
điều kiện để khai thác sử dụng.
2.1.4.4 Tài nguyên nước
SVTH: Nguyễn Phượng Loan
18
“Bước đầu nghiên cứu tình hình ô nhiễm nước mặt tại một số sông chính trên đòa bàn tỉnh Đồng
Tháp – Đề xuất giải pháp kiểm soát ô nhiễm”
Tài nguyên nước là yếu tố quyết đònh cho sự phát triển kinh tế - xã hội của
Tỉnh. Có 3 nguồn nước chính.
Nước mưa là nguồn nước có chất lượng tốt cần cho ăn uống và sinh hoạt ở của
người dân mà nhất là vùng nông thôn của tỉnh, nhất là những vùng thiếu nước
mặt và nước ngầm. Tuy nhiên, vì lượng mưa chỉ tập trung trong 6 tháng mùa mưa
nên việc lưu trữ và sử dụng nước trong mùa khô là vấn đề hết sức khó khăn đối
với các vùng nông thôn nghèo.
Nước mặt: Đồng Tháp Mười ở đầu nguồn sông Cửu Long, có nguồn nước mặt
khá dồi dào, nguồn nước ngọt quanh năm không bò nhiễm mặn, tuy nhiên cục bộ
theo thời gian vùng trũng sâu thuộc trung tâm Đồng Tháp Mười vào cuối mùa
khô, đầu mùa mưa còn bò ảnh hưởng nước phèn. Sông Tiền có lưu lượng bình
quân 11.500 m
3
/s, lớn nhất 41.504 m
3
/s; nhỏ nhất 2.000 m
3
/s. Ngoài ra, còn có 2
nhánh sông nhỏ ảnh hưởng đến nguồn nước mặt vùng phía Bắc Tỉnh là sông Sở
Thượng và sông Sở Hạ bắt nguồn từ Campuchia đổ ra sông Tiền ở Hồng Ngự,
đưa nước ra và rút nước cho đồng ruộng từ sông Tiền và sông Hậu. Phía Bắc tỉnh
có rạch Ba Răng, Đốc Vàng Thượng, Đốc Vàng Hạ, sông Cao Lãnh, Cần Lố,…
phía Nam tỉnh có sông Cái Tàu Hạ và sông Cái Tàu Thượng, sông Sa Đéc, rạch
ngầm. Hiện tượng sụt áp đã xảy ra, độ chênh lệch giữa mực nước ngầm trong
mùa mưa vào khoảng 20 m đã chứng minh cho thấy trữ lượng nguồn nước ngầm
ngày càng sụt giảm đáng kể.
Việc khai thác nước ngầm hiện nay vẫn còn một số vấn đề cần phải quan tâm
trong công tác quản lý: a) Việc xử lý vách đường ống khoan để hạn chế ô nhiễm
tầng nước; b) Ô nhiễm nguồn nước ngầm từ nước thải công nghiệp hoặc rỉ từ bãi
rác; c) Quản lý và đánh thuế hợp lý trong việc sử dụng tài nguyên nước để hạn
chế việc sử dụng lãng phí nguồn nước ngầm vốn đã hiếm.
2.2 ĐẶC ĐIỂM KINH TẾ - XÃ HỘI
SVTH: Nguyễn Phượng Loan
20
“Bước đầu nghiên cứu tình hình ô nhiễm nước mặt tại một số sông chính trên đòa bàn tỉnh Đồng
Tháp – Đề xuất giải pháp kiểm soát ô nhiễm”
2.2.1 Tình hình phát triển kinh tế
Mặc dù, có nhiều thách thức nhưng tăng trưởng kinh tế của tỉnh trong năm
2005 tăng 13,48%. Tuy vậy, cơ cấu kinh tế năm 2005 vẫn chưa thay đổi theo
hướng tích cực, nông nghiệp vẫn còn chiếm tỷ trọng cao bao gồm:
- Giá trò sản xuất toàn ngành nông - lâm - thủy sản tính theo giá so sánh
1994 tăng bình quân 5 năm 9,38%/năm, trong đó ngành nông nghiệp tăng
9,05%/năm; ngành lâm nghiệp tăng 4,7%/năm; ngành thủy sản tăng bình
quân 5 năm 7,49%/năm.
- Giá trò sản xuất ngành công nghiệp tính theo giá so sánh 1994 tăng bình
quân 5 năm 21%/năm. Giá trò tăng thêm (GDP) ngành công nghiệp - xây
dựng tăng bình quân 5 năm 17,71%/năm.
- Giá trò thương nghiệp dòch vụ: 1658 tỷ đồng, xuất khẩu thu 81,56% triệu
USD, chủ yếu là gạo, hàng may mặc và thủy sản. Nhập khẩu 85,13 triệu
USD chủ yếu là xăng dầu và phân.
Đồng Tháp là một tỉnh có nhiều lợi thế về điều kiện phát triển, do đòa hình và
vò trí thuận lợi, hệ thống hạ tầng phát triển tương đối khá tốt, tốc độ đô thò hóa
nhanh là nơi tập trung nhiều cơ quan hành chính và các đơn vò kinh tế chủ lực của
- Huyện Hồng Ngụ
- Huyện Tam Nông
- Huyện Thanh Bình
- Huyện Tháp Mười
- Huyện Cao Lãnh
- Huyện Lấp Vò
- Huyện Lai Vung
SVTH: Nguyễn Phượng Loan
22
“Bước đầu nghiên cứu tình hình ô nhiễm nước mặt tại một số sông chính trên đòa bàn tỉnh Đồng
Tháp – Đề xuất giải pháp kiểm soát ô nhiễm”
- Huyện Châu Thành.
2.2.3 Đặc điểm dân cư
2.2.3.1 Dân số
Dân số của Đồng Tháp có 1.654.680 người, trong đó người Kinh chiếm 99,4%,
còn lại là người Hoa (6.936 người), Khơmer (218 người), Tày (33 người), Mường
(33 người),… có 20,14% dân số là tín đồ các tôn giáo, trong đó Hòa Hảo chiếm
11,46%, Cao Đài: 3,35%, Thiên Chúa Giáo: 2,25%. Trong những năm gần đây,
tốc độ đô thò hóa diễn ra khá nhanh, chương trình quốc gia về dân số thực hiện
đạt hiệu quả cao đã góp phần giãm đáng kể tỷ lệ sinh, qui mô dân số dần dần có
xu hướng đi vào ổn đònh. Đặc điểm phân bố dân cư trong các tỉnh không đồng
đều, chủ yếu tập trung hai thò xã,ven sông Tiền và các Cù Lao, phân bố dọc theo
các tuyến giao thông, tuyến kênh rạch với mật độ cao. Gần đây các tuyến giao
thông mở ra, tạo nhiều khu dân cư mới nên việc phân bố dân cư tương đối lớn.
Khu có mật độ dân cư cao như: thò xã Sa Đéc là 1.707 người/km
2
, thò xã Cao
Lãnh là 1.400 người/km
2
và Lấp Vò là 732 người/km
Một số hộ có đầu tư vốn vào các lónh vực như nuôi trồng thủy sản, tổ chức chế
biến lương thực, thực phẩm, đầu tư máy móc, thiết bò sản xuất nông nghiệp mang
lai hiệu quả kinh tế cao và làm giàu lên nhưng tỷ lệ hộ này không cao, còn lại
nguồn lao động lớn ở nông thôn với trình độ còn thấp và thiếu việc làm, cuộc
sống còn thiếu thốn và chưa ổn đònh.
Tóm lại, trình độ và chất lượng lao động của tỉnh chưa cao, chuyển dòch cơ cấu
lao động chậm, tình trạng lao động không có hoặc thiếu việc làm, nhất là thanh
niên đến tuổi lao động đang là vấn đề đáng quan tâm; tỷ lệ hộ nghèo giảm nhưng
chưa vững chắc, số hộ nghèo còn cao, đời sống của một bộ phận nhân dân, nhất
là ở vùng sâu, biên giới còn nhiều khó khăn.
2.2.3.3 Dự báo dân số lao động
Dự báo tỷ lệ tăng dân số tự nhiên đạt 1,35% thời kỳ 2001-2005 vàø đạt 1,15%
thời kỳ 2006-2010. dân số vàø lao động của tỉnh được xác dinh như sau:
Bảng 2.6: Dự báo tỉ lệ tăng dân số tỉnh thời kỳ 1999-2010.
Chỉ tiêu
Năm
1999
Năm
2000
Năm
2005
Năm
2010
Dân số trung bình
Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên
Lao động trong độ tuổi
1. 570
1. 51
900
1. 589
sử đấu tranh oai hùng chống chọi với thiên nhiên, thú dữ và giặc ngoại xâm đã
bồi đắp, hình thành nên những giá trò nhân văn, văn hoá truyền thống mang sắc
thái riêng.
Cuộc sống, sinh hoạt của người dân Đồng Tháp đơn giản, dễ cơ động; văn hóa
ăn, ở mang đặc thù riêng, phù hợp với miền đồng bằng sông nước và môi trường,
sinh thái tự nhiên.
Người Đồng Tháp, tính cách chuộng sự phóng khoáng, thẳng thắn, bộc trực,
coi trọng sáng kiến cá nhân; sinh hoạt đơn giản, không cầu kỳ, cần cù lao động;
bản chất giàu lòng nhân ái, thương người, mến khách, dễ gặp gỡ và dễ thân thiện.
SVTH: Nguyễn Phượng Loan
25