luận văn thạc sĩ Một số biện pháp phát triển đội ngũ nữ giảng viên trường CĐSP Ngô Gia Tự Bắc Giang - Pdf 26

MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Ngày nay, vấn đề nâng cao vai trò vị thế của phụ nữ trong các lĩnh
vực hoạt động khác nhau của xã hội không còn là vấn đề riêng của từng
quốc gia mà nó trở thành vấn đề chung của toàn cầu. Ở Việt Nam, ngay
trong bản tuyên ngôn độc lập thành lập nhà nước đầu tiên của nhân dân lao
động, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã long trọng tuyên bố thực hiện nguyên tắc
"nam nữ bình đẳng". Mấy chục năm qua vừa kháng chiến vừa kiến quốc đầy
gian nan, nhưng Việt Nam đó cú những bước tiến lên căn bản trong việc
nâng cao vai trò, vị thế của phụ nữ, khắc phục tình trạng bất bình đẳng giới.
Chính phủ đã thể chế hoá bằng hệ thống chế độ, chính sách bảo đảm quyền
lợi cho phụ nữ. Bản Hiến pháp đầu tiên (1946) đã thừa nhận quyền bình
đẳng nam nữ trong mọi lĩnh vực. Hiến pháp năm 1959 lại nêu rõ "Phụ nữ
Việt Nam Dân chủ Cộng hoà có quyển bình đẳng với nam giới về các mặt
sinh hoạt chính trị, kinh tế, văn hoá xã hội và gia đình". Các Hiến pháp
1980, 1992 đều tiếp tục khẳng định quyền bình đẳng nam nữ.
Đảng và Nhà nước đã có nhiều nghị quyết, chỉ thị nhằm phát huy vai
trò của lao động nữ và cán bộ nữ như Nghị quyết 04/NQ - TƯ ngày
17/4/1994 về "Đổi mới vận động phụ nữ trong tình hình mới" đã nêu rõ là
công tác cán bộ nữ có vị trí chiến lược trong công tác cán bộ - một khâu có
tác dụng quyết định việc thực hiện đường lối chiến lược của Đảng và Nhà
nước nói chung và trong từng ngành nói riêng. Chỉ thị 37/CT - TƯ ngày
16/5/1994 của Ban Bí thư Trung ương về một số vấn đề công tác nữ trong
tình hình mới đó nờu cỏc quy định, các biện pháp quản lý cụ thể mà các cơ
sở cần thực hiện nhằm xây dựng và củng cố đội ngũ cán bộ nữ và đặc biệt
chú trọng đào tạo đội ngũ cán bộ nữ làm công tác nghiên cứu khoa học.
Bộ Giáo dục và Đào tạo cũng ban hành Chỉ thị về việc "Đổi mới và
tăng cường công tác vận động phụ nữ trong ngành giáo dục và đào tạo trong
1
tình hình mới" (Chỉ thị 15/GD - ĐT ngày 19/9/1994). Chỉ thị này đề cập đến
vấn đề nâng cao nhận thức về vị trí, vai trò của phụ nữ đối với việc thực

tổng quát "Xây dựng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục theo hướng
chuẩn hoá, nâng cao chất lượng, bảo đảm đủ về số lượng, đồng bộ về cơ cấu,
đặc biệt chú trọng nâng cao bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức, lối sống,
lương tâm nghề nghiệp và trình độ chuyên môn của nhà giỏo…". [34].
Giáo dục đại học có vai trò quan trọng trong hệ thống giáo dục quốc
dân Việt Nam, trong đó đội ngũ giảng viên trong nhà trường đóng vai trò
quyết định chất lượng đào tạo. Đội ngũ giảng viên trường CĐSP và ĐHSP
là thầy của những người thầy, có nhiệm vụ giảng dạy, NCKH, bồi dưỡng, tự
bồi dưỡng, nhằm đào tạo thế hệ trẻ thành những nhà giáo tương lai góp phần
"nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài" cho đất nước.
Nguồn nhân lực đó sẽ tích cực tham gia vào quá trình CNH, HĐH đất nước.
Chính vì vậy mà việc nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên ở trường
CĐSP và ĐHSP là việc làm cần thiết, cấp bách hiện nay.
Trường CĐSP Ngô Gia Tự Bắc Giang có vai trò quan trọng trong việc
đào tạo nguồn nhân lực thực hiện sự nghiệp CNH, HĐH ở địa phương. Nhà
trường tiếp tục phát triển theo hướng đa dạng hoỏ cỏc hình thức đào tạo, tăng
cường liên kết đào tạo trên cơ sở vẫn hoàn thành tốt nhiệm vụ trọng tâm là
đào tạo và bồi dưỡng đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý cho 3 bậc học Mầm
non, Tiểu học, THCS của tỉnh đủ về số lượng, đảm bảo về chất lượng.
Trong những năm qua, được sự quan tâm đầu tư của Tỉnh, trường
CĐSP Ngô Gia Tự Bắc Giang đã đạt được những thành tựu nhất định trong
việc thực hiện sứ mệnh, nhiệm vụ được giao, khẳng định được chức năng đào
tạo, bồi dưỡng, nghiên cứu khoa học và chuyển giao khoa học công nghệ ở
địa phương. Trên cơ sở xem xét những vấn đề cơ bản hiện trạng đội ngũ nữ
giảng viên của trường hiện nay, chúng tôi mong muốn đưa ra giải pháp phát
3
triển đội ngũ nữ giảng viên một cách có cơ sở và hệ thống góp phần nâng cao
năng lực, chất lượng hiệu quả đào tạo của trường CĐSP Ngô Gia Tự Bắc
Giang. Vì những lý do trờn, tụi chọn nghiên cứu đề tài: “Một số biện pháp
phát triển đội ngũ nữ giảng viên trường CĐSP Ngô Gia Tự Bắc Giang”.

Gia Tự Bắc Giang.
6.3. Giới hạn về khách thể khảo sát:
Cán bộ quản lý, giảng viên, sinh viên trường CĐSP Ngô Gia Tự Bắc Giang.
7. Phương pháp nghiên cứu
7.1. Phương pháp nghiên cứu lý luận
- Phõn tớch các khái niệm
- Nhận định, đỏnh giá
7.2. Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
7.2.1.Phương pháp điều tra khảo sát.
7.2.2.Phương pháp phân tích, tổng hợp, tổng kết kinh nghiệm thực tiễn.
7.2.3.Phương pháp thống kê xử lý số liệu.
8. Đóng góp mới của đề tài
Đỏnh giỏ thực trạng về công tác phát triển đội ngũ giảng viên nói chung
và nữ giảng viên nói riêng, trên cơ sở đó đề xuất các giải pháp nhằm cải tiến
hiện trạng phát triển đội ngũ nữ giảng viên cho phù hợp với hoàn cảnh phát
triển của nhà trường, đáp ứng được nhu cầu của người học, của địa phương và
xã hội trong xu thế phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Bắc Giang, góp phần
nâng cao chất lượng đào tạo của nhà trường trong tương lai.
9. Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và kiến nghị, danh mục các tài liệu tham
khảo, phụ lục. Nội dung chính của luận văn được chia làm 3 chương:
5
Chương I: Cơ sở lý luận về phát triển đội ngũ nữ giảng viên.
Chương II: Thực trạng đội ngũ giảng viên và vấn đề phát triển đội
ngũ nữ giảng viên trường CĐSP Ngô Gia Tự Bắc Giang.
Chương III: Một số biện pháp phát triển đội ngũ nữ giảng viên
trường CĐSP Ngô Gia Tự Bắc Giang.
6
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ NỮ GIẢNG VIÊN

nâng cấp cơ sở vật chất trường lớp, đào tạo đội ngũ giáo viên mới và hỗ trợ
cỏc vựng khú khăn”.
Bên cạnh đú cú cỏc dự án phát triển đội ngũ giáo viên phổ thông: Dự
án đào tạo giáo viên Tiểu học năm 1994; Dự án phát triển giáo dục trung
học cơ sở năm 1997; Dự án đào tạo giáo viên Tiếng Anh năm 1998; Dự án
đào tạo Việt -Bỉ năm 1999; Dự án đào tạo giáo viên THCS, các công trình
và dự án đầu tư vào hệ thống giáo dục như số lượng giáo viên và cán bộ
quản lý giáo dục đã được đào tạo ở các cấp học, bậc học. Nhìn chung các dự
án và chương trình phát triển đội ngũ giáo viên phổ thông đã có nhiều công
trình đề cập đến, nhưng ở bậc đại học còn ít có công trình nghiên cứu về lĩnh
vực này. [39;32]
Đến những năm 20 của thế kỷ 20 cánh cửa nhà trường đại học mới
đón nhận những giáo viên nữ nhưng vẫn chỉ là sự tuyển chọn một cách hạn
chế những phụ nữ có trình độ cao vào làm việc. Số lượng nữ giáo viên đại
học nói riêng và nữ nhân viên làm công ăn lương chỉ thực sự chuyển biến
vào cuối thập kỷ 60 đầu thập kỷ 70 do làn sóng thứ hai của Phong trào phụ
nữ (làn sóng thứ nhất diễn ra vào cuối thế kỷ 19). Tỷ lệ tham gia của đội ngũ
nữ vào các hoạt động đã được cải thiện một cách rõ rệt.
1.1.2. Những nghiên cứu trong nước
Ở nước ta định kiến xã hội đối với phụ nữ cũng vẫn còn tồn tại và nó
có ảnh hưởng không nhỏ đến sự tiến bộ của họ.
Nếu trong xã hội phong kiến xưa người phụ nữ không được ngồi vào
mảnh chiếu giữa đình để bàn chuyện làng, không được tham gia vào các
8
khoa thi cử để ra làm quan thì nay định kiến với nữ giới đã giảm nhiều nhờ
vào các chủ trương, chính sách đúng đắn của Đảng và Nhà nước về vấn đề
bình đẳng giới, về vấn đề tiến bộ của phụ nữ. Công ước Liên hợp quốc về
xoá bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử đối với phụ nữ (CEDAW) được Liên
hợp quốc phê chuẩn ngày 18 tháng 12 năm 1979, được chính phủ Việt Nam
ký tham gia ngày 29 tháng 7 năm 1980 và được Quốc hội phê chuẩn ngày

4 Thời gian làm công việc gia đình 6h 30

5h25

1h18

Nhìn vào số liệu của bảng ta thấy rõ ràng thời gian nghỉ ngơi của
phụ nữ ít hơn nam giới và thời gian làm việc của phụ nữ cao hơn nam
giới, nhất là làm các công việc gia đình (phụ nữ phải làm việc gấp 5 lần
so với nam giới ở khu vực thành thị và gấp 12 lần so với nam giới ở khu
vực nông thôn).
- Trong hoạt động nghiên cứu khoa học, vai trò của các cán bộ nghiên
cứu là nữ thể hiện qua việc thực hiện các đề tài nghiên cứu vẫn còn hạn chế.
9
Nghiên cứu của Trần Thị Vân Anh năm 1999 đối với 598 nữ cán bộ khoa
học xã hội và 64 nam cán bộ về năng lực của cán bộ nữ, sự tin tưởng của
cán bộ lãnh đạo đối với nữ đã thu được kết quả như sau: Trong vòng khoảng
10 năm , từ 1992 – 1999 toàn Viện khoa học xã hội Việt Nam thực hiện 125
đề tài cấp Bộ, số nữ giới làm chủ nhiệm đề tài chiếm 10%, làm chủ nhiệm
đề tài cấp Nhà nước chiếm 4,4%, chủ nhiệm dự án điều tra cơ bản chiếm
4,7%. Một trong những lý do cơ bản để lý giải cho thực trạng này là tỉ lệ cán
bộ nữ có học hàm, học vị còn thấp. Số cán bộ nữ có học hàm giáo sư Viện
Khoa học xã hội Việt Nam khi đó là Trung tâm KHXH&NV Quốc gia) năm
1999 là 4% (còn lại 96% là nam), có học hàm phó giáo sư là 13%, có học vị
Tiến sĩ là 31%. Việc giao làm chủ nhiệm đề tài nghiên cứu phụ thuộc khá
nhiều vào học hàm, học vị của cán bộ nghiên cứu khoa học.
Ngày nay vị thế xã hội của phụ nữ đã có nhiều thay đổi theo chiều
hướng tích cực, nhưng họ vẫn phải đảm đương những công việc có tính chất
thiên chức của mình như sinh đẻ và chăm sóc con cái, gia đình. Với sự tiến
bộ của khoa học, phương pháp kiểm soát sinh đẻ, quan hệ tình dục trong gia

(Luận văn thạc sĩ của Nguyễn Đình Dũng, Đại học Sư phạm Hà Nội, 2005).
- Các biện pháp quản lý đội ngũ giảng viên trường Cao đẳng Sư phạm
Quảng Bình (Luận văn thạc sĩ của Dương Đức Sáu, Đại học Sư phạm Hà
Nội, 2005).
Đối với tỉnh Bắc Giang đây là công trình nghiên cứu đầu tiên đề cập tới
việc phát triển đội ngũ nữ giảng viên ở trường Cao đẳng Sư phạm Ngô Gia Tự
Bắc Giang. Đề tài đề cập đến một số khía cạnh về thực trạng đội ngũ nữ giảng
viên của trường, trên cơ sở đó đề xuất những biện pháp phát triển đội ngũ nữ
giảng viên của một trường đang trong quá trình chuyển sang đào tạo đa ngành.
1.2. MỘT SỐ KHÁI NIỆM CƠ BẢN
11
1.2.1. Khái niệm quản lý
Cùng với sự phát triển của xã hội loài người, nhu cầu quản lý xã hội
cũng được hình thành, trình độ tổ chức, điều hành quản lý hội cũng ngày
được nâng cao. Cỏc Mỏc viết: “Tất cả mọi lao động xã hội trực tiếp hay lao
động chung nào tiến hành trên qui mô tương đối lớn, thì ít nhiều cũng đều cần
đến một sự chỉ đạo để điều hoà những hoạt động cá nhân và thực hiện những
chức năng chung phát sinh từ sự vận động của toàn bộ cơ thể khác với sự vận
động của các khí quan độc lập của nó. Một người độc tấu vĩ cầm tự điều
khiển lấy mỡnh, cũn một dàn nhạc thì cần phải có nhạc trưởng. [13; 180]
Để kết hợp các yếu tố con người, công cụ, phương tiện, tài chớnh…
nhằm đạt mục tiêu đã định trước, cần phải có sự tổ chức, điều hành chung,
đú chớnh là quản lý. Có nhiều định nghĩa khái niệm quản lý theo các quan
điểm khác nhau.
- Theo quan điểm kinh tế, F. Taylor (1856 - 1915) cho rằng “ Quản lý
là nghệ thuật biết rõ ràng, chính xác cái gì cần làm và làm cái đó thế nào
bằng phương pháp tốt nhất và rẻ nhất”. [17; 25]
- Theo quan điểm xã hội: “Quản lý là sự tác động liên tục có tổ chức, có
định hướng của chủ thể (người quản lý, tổ chức quản lý) lên khách thể (đối
tượng quản lý) về các mặt chính trị, văn hoá, xã hội, kinh tế… bằng một hệ


Chủ thể quản lý
Cơ chế quản

Mục tiêu quản lý
1.2.2. Khái niệm quản lý giáo dục.
Giáo dục và quản lý giáo dục tồn tại song hành. Nếu nói giáo dục là
hiện tượng xã hội và phát triển cùng với sự tồn tại và phát triển của xã hội
loài người thì cũng có thể nói như vậy về quản lý giáo dục. Giáo dục xuất
hiện nhằm thực hiện cơ chế truyền kinh nghiệm lịch sử - xã hội của loài
người, của thế hệ đi trước cho thế hệ sau và để cho thế hệ sau có trách nhiệm
kế thừa, phát triển các kinh nghiệm ấy một cách sáng tạo, làm cho xã hội và
bản thân con người luôn phát triển không ngừng. Cũng như quản lý xã hội
nói chung, quản lý giáo dục là hoạt động có ý thức của con người nhằm đạt
được những mục đích của mình. Chỉ có con người mới có khả năng khách
thể hoá mục đích, nghĩa là biến cái hình mẫu ý tưởng của đối tượng trong
tương lai mà ta gọi là mục đích thành trạng thái hiện thực. Mục đích giáo
dục nằm trong mục đích của quản lý giáo dục.
Khái niệm quản lý giáo dục có nhiều cấp độ:
- Đối với cấp vĩ mô, như cấp Bộ GD&ĐT và các cấp trung gian dưới
Bộ, thì “quản lý giáo dục được hiểu là những tác động tự giác, có ý thức, có
mục đích, có kế hoạch, có hệ thống, hợp quy luật của chủ thể qủn lý đến tất
cả các mắt xích của hệ thống từ cấp cao nhất đến các cơ sở giáo dục nhà
trường nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả mục tiêu phát triển giáo
dục, đào tạo thế hệ trẻ mà xã hội đặt ra cho ngành giáo dục”.[17;36]
Xét theo quan điểm lý thuyết hệ thống thì quản lý giáo dục là sự tác
động liên tục, có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý lên hệ thống
giáo dục nhằm tạo ra tính “trồi” của hệ thống; sử dụng một cách tối ưu các
tiềm năng, các cơ hội của hệ thống nhằm đưa hệ thống tới mục tiêu một
cách tốt nhất trong điều kiện đảm bảo sự cân bằng với môi trường bên ngoài

chức vĩ mô nguồn nhân lực được hiểu là nguồn tài nguyên nhân sự và các vấn
đề nhân sự trong tổ chức cụ thể. Nguồn nhân lực chính là vấn đề nguồn lực
15
con người, nhân tố con người trong một tổ chức cụ thể nào đó. “Nguồn nhân
lực là khái niệm phát triển mới theo nghĩa nhấn mạnh, đề cao hơn yếu tố chất
lượng… Nguồn nhân lực có ý nghĩa cả cấp vi mô và cấp vĩ mụ”. [29; 28].
Theo UNESCO “Con người vừa là mục đích, vừa là tác nhân của sự
phát triển” và “Con người được xem như là một tài nguyên, một nguồn lực
hết sức cần thiết.”
Ngân hàng thế giới quan niệm có hai loại vốn: “Vốn con người và
vốn vật chất, trong đó sự phát triển vốn con người quyết định sự phát triển
của mọi vốn khỏc.” (Theo tạp chí Đại học – GDCN, tháng 9/1996).
“Nguồn nhân lực phải được thừa nhận là nguồn vốn và là tài sản quan
trọng nhất của mọi loại hình qui mô tổ chức”. [17; 35]
1.2.5. Khái niệm giảng viên
Giảng viên là công chức thuộc ngành giáo dục, là nhà giáo. Điều 61
Luật Giáo dục nước Cộng hoà XHCN Việt Nam 1998 đã ghi:
1. Nhà giáo là người làm nhiệm vụ giảng dạy, giáo dục trong nhà
trường hoặc các cơ sở giáo dục khác.
2. Nhà giáo phải có những tiêu chuẩn sau đây:
a.Phẩm chất đạo đức tư tưởng tốt;
b. Đạt trình độ chuẩn được đào tạo về chuyên môn và nghiệp vụ;
c. Đủ sức khoẻ theo yêu cầu nghề nghiệp;
d. Lý lịch bản thân rõ ràng ;
3. Nhà giáo dạy ở cơ sở giáo dục đại học và sau đại học gọi là giảng
viên. [32;43]
Như vậy, giảng viên là nhà giáo làm nhiệm vụ giảng dạy, giáo dục ở
trong các trường ĐH và CĐ (trước đây gọi là cán bộ giảng dạy).
Cần phân biệt khái niệm giảng viên là nhà giáo giảng dạy ở các
trường ĐH, CĐ với khái niệm giảng viên là một chức danh của giảng viên

Đội ngũ giảng viên nhà trường nói chung, đội ngũ nữ giảng viên nói
riêng nằm trong mối quan hệ chặt chẽ với các yếu tố khác nhau như: cơ sở
vật chất, nguồn lực tài chính.
Con người
CSVC NLTC
Sơ đồ 1.2. Mối quan hệ giữa đội ngũ giảng viên với các yếu tố cơ sở vật
chất, nguồn lực tài chính
1.3. QUAN ĐIỂM CỦA ĐẢNG VÀ NHÀ NƯỚC VỀ CÔNG TÁC PHỤ NỮ
1.3.1. Quan điểm về giới, bình đẳng giới và phát triển
Giới là sự khác biệt giữa phụ nữ và nam giới về mặt xã hội. Xã hội có
những quan niệm khác nhau về vai trò giới và đặc điểm giới. Một thời gian
dài, ở nhiều quốc gia, trong đó có nước ta, định kiến về vai trò, vị trí của phụ
nữ còn nặng nề, làm cản trở sự bình đẳng giới và sự tiến bộ của phụ nữ.
Quan tâm đến giới là một bộ phận quan trọng của sự định hướng vào
phát triển nhân lực của Liên hợp quốc. Bình đẳng giới là một trong những
chỉ báo được sử dụng để đánh giá mức độ phát triển nhân lực của các quốc
gia, bên cạnh các chỉ bỏo khỏc như tuổi thọ, học vấn, bình quân thu nhấp,…
Theo chỉ số này thì nước đứng đầu là Thuỵ Điển (0,919) còn Việt Nam đứng
thứ 74 (0,537) (Báo cáo của Liên hợp quốc – 1995).
Ngày nay vấn đề giới được nhiều nước trên thế giới quan tâm và trở
thành phương pháp tiếp cận không thể thiếu trong chiến lược phát triển quốc
gia. Hội nghị lần thứ tư tại Bắc Kinh năm 1995 đã nêu bật quyết tâm của các
Chính phủ tiến tới mục tiêu bình đẳng, phát triển và hoà bình cho phụ nữ vì
18
lợi ích của toàn thể nhân loại. “Việc đảm bảo cho phụ nữ và trẻ em gái
hưởng thụ đầy đủ và bình đẳng các quyền con người và quyền tự do cơ bản
là một ưu tiên của các chính phủ và Liên hợp quốc …” (Cương lĩnh hành
động Bắc Kinh, 1995).
Quyền con người bình đẳng cho cả phụ nữ và nam giới đã được 171
quốc gia thông qua tại Hội thảo Thế giới về quyền con người tháng 6/ 1993

1.3.2. Quan điểm của Đảng và Nhà nước về công tác phụ nữ
Nghị quyết của Bộ Chính trị ngày 12/7/1993 về đổi mới và tăng
cường công tác phụ nữ trong tình hình mới khẳng định “Bồi dưỡng lực
lượng phụ nữ, phát huy sức mạnh và chăm lo sự phát triển mọi mặt của phụ
nữ là nhiệm vụ thường xuyên, rất quan trọng của Đảng trong mọi thời kỳ
cách mạng. Trong giai đoạn hiện nay, đổi mới và tăng cường sự lãnh đạo
của Đảng đối với công tác phụ nữ là một yêu cầu rất quan trọng của sự phát
triển kinh tế xã hội”.
Ngày 21/01/2002 Phó Thủ tướng Phạm Gia Khiêm ký Quyết định số
19/ 2002 QĐ – TTg phê duyệt “Chiến lược quốc gia vì sự tiến bộ của phụ
nữ Việt Nam đến 2010” gồm 5 mục tiêu, trong đó mục tiêu thứ tư cú nờu
“Nõng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động của phụ nữ trờn cỏc lĩnh vực
chính trị, kinh tế, văn hoỏ, xó hội”.
Bộ GD&ĐT, ra Chỉ thị số 06/ CT – GD ngày 28/2/1985 về một số
vấn đề cấp bách trong công tác cán bộ nữ ngành GD&ĐT đã đánh giá “Chị
em đã và đang phát huy tác dụng tốt trong các lĩnh vực hoạt động giáo dục,
phụ nữ có vai trò to lớn trong việc thực hiện mục tiêu “Nõng cao dân trí, đào
tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài”. Ngành giáo dục và đào tạo là một trong
những ngành có tỷ lệ lao động nữ đông (70%). Công tác cán bộ nữ trong
ngành có ý nghĩa rất quan trọng, Chỉ thị số 37/ CT – TW về “Một số vấn đề
về công tác cán bộ nữ trong tình hình mới” là định hướng vô cùng quan
20
trọng về chiến lược cán bộ trong thời kỳ đổi mới. Sự chỉ đạo kịp thời của
Trung ương Đảng đã mang đến cho ngành giáo dục và đào tạo một cơ hội
mới, một niềm tin mới, tạo động lực để chị em rèn luyện, phấn đấu, chiếm
lĩnh những đỉnh cao mới trong giảng dạy, nghiên cứu khoa học.
Quán triệt sự chỉ đạo của Trung ương Đảng, Bộ GD & ĐT đã ban
hành Chỉ thị số 15/ GD - ĐT ngày 19/9/1994 về việc đổi mới và tăng cường
công tác vận động phụ nữ ngành giáo dục và đào tạo trong tình hình mới đã
cụ thể hoá những nội dung cơ bản của Chỉ thị số 37 – CT/ TW đưa ra một số

“Khõu then chốt để thực hiện chiến lược phát triển giáo dục là phải đặc biệt
chăm lo đào tạo, bồi dưỡng và tiêu chuẩn hoá đội ngũ giáo viên cũng như
cán bộ QLGD cả về chính trị, tư tưởng đạo đức và năng lực chuyên môn,
nghiệp vụ”. [19; 13].
Kết luận Hội nghị Trung ương 6 khoá IX nêu rõ “cỏc cấp uỷ đảng từ
trung ương tới địa phương quan tâm thường xuyên công tác đào tạo, bồi
dưỡng nhà giáo và cán bộ quản lý về mọi mặt, coi đây là một phần của công
tác cán bộ; đặc biệt chú trọng nâng cao bản lĩnh chính trị và phẩm chất lối
sống của nhà giáo. Xây dựng kế hoạch đầo tạo, đào tạo lại đội ngũ giáo viên
và cán bộ QLGD, đảm bảo đủ về số lượng, cơ cấu cân đối, đạt chuẩn đáp
ứng yêu cầu thời kỳ mới”. [20; 4]
Trong điều 15, Luật Giáo dục năm 2005 khẳng định “Nhà nước tổ
chức đào tạo, bồi dưỡng nhà giáo; có chính sách sử dụng, đãi ngộ, bảo đảm
các điều kiện cần thiết về vật chất và tinh thần để nhà giáo thực hiện vai trò
trách nhiệm của mỡnh”. [32; 14]
“Chiến lược phát triển giáo dục 2001 – 2010” của Chính phủ cũng đã
nêu rõ “Phỏt triển đội ngũ nhà giáo đảm bảo đủ về số lượng, hợp lý về cơ
cấu và chuẩn về chất lượng đáp ứng yêu cầu vừa tăng qui mô vừa nõng cao
chất lượng hiệu quả giáo dục”. [16; 30]
22
Nghị quyết số 14/ 2005/NQ – CP ngày 02/11/2005 của Chính phủ về
đổi mới cơ bản và toàn diện giáo dục đại học Việt Nam giai đoạn 2006 –
2020 xác định “Xõy dựng đội ngũ giảng viên và cán bộ quản lý giáo dục đại
học đủ về số lượng, có phẩm chất đạo đức và lương tâm nghề nghiệp, có
trình độ chuyên môn cao, phong cách giảng dạy và quản lý tiên tiến; [16; 3]
Đánh giá về thực trạng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục
Chỉ thị 40-CT/TW ngày 15 tháng 6 năm 2004 của Ban Bí thư Trung ương
Đảng đã nêu rõ:
“…Trong lịch sử của nước ta, “ tôn sư trọng đạo” là một truyền thống
quí báu của dân tộc, nhà giáo bao giờ cũng được nhân dân yêu mến kính

- Dạy là để khuyến học
- Có không khí sư phạm tích cực
- Khuyến khích hoạt động tương tác đồng đẳng
- Quan tâm phát triển giáo viên
- Chú ý chia sẻ quyền lãnh đạo
- Khuyến khích giải quyết vấn đề một cách sáng tạo
- Huy động được sự tham gia của cha mẹ học sinh và cộng đồng.
Dù nhà trường ở một loại hình nào đi nữa thì hoạt động quản lý nhà
trường phải bao gồm tất cả các tác động của chủ thể quản lý đến các hoạt
động trong cấu trúc của nhà trường nhằm vận hành hệ thống tổ chức của nhà
trường đạt tới các mục tiêu của chính nhà trường đó đề ra cùng với các mục
tiêu của Nhà nước và xã hội đòi hỏi. Xu hướng mà các nhà trường hiện nay
đều kỳ vọng có được đó là nhà trường chất lượng theo 5 tiêu chí được mô tả
theo sơ đồ 1.3.
24
Sơ đồ 1.3. Nhà trường chất lượng
1.5. NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA VIỆC PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ GIẢNG VIÊN
1.5.1. Về số lượng
Số lượng giảng viên là biểu thị về mặt định lượng của đội ngũ này, nó
phản ánh quy mô của đội ngũ giảng viên tương xứng với quy mô của mỗi
trường đại học, cao đẳng. Số lượng giảng viên phụ thuộc vào sự phân chia tổ
chức trong nhà trường.
Số lượng giảng viên của mỗi trường đại học, cao đẳng phụ thuộc vào
quy mô phát triển nhà trường, nhu cầu đào tạo và các yếu tố khác, chẳng hạn
như: chỉ tiêu biên chế, công chức của nhà trường, các chế độ chính sách đối
với đội ngũ giảng viên. Tuy nhiên, dù trong điều kiện nào, muốn đảm bảo
hoạt động giảng dạy thì người quản lý cũng đều cần quan tâm đến việc giữ
vững sự cân bằng động về số lượng giảng viên với nhu cầu đào tạo và quy
mô phát triển của nhà trường.
1.5.2. Về cơ cấu đội ngũ

Manage
-ment
Nhà trường chất lượng
5M
Nhà trường chất lượng
5M
Con
người
Man
Con
người
Man
25

Trích đoạn Mục đích, ý nghĩa của biện pháp Biện pháp 2: Xây dựng quy hoạch, kế hoạch phát triển đội ngũ giảng viên phải bám sát nhu cầu của nhà trường và yêu cầu của công Biện pháp 3: Đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ cho đội ngũ nữ giảng viên. Biện pháp 4: Xõy dựng và điều chỉnh các chớnh sách hỗ trợ về điều kiện vật chất, tinh thần để phát triển đội ngũ nữ giảng viên của Biện pháp 5: Thực hiện thường xuyên công tác thanh tra, kiểm tra, đỏnh giá đối với việc thực hiện nhiệm vụ của người giảng viên
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status