PHẦN MỞ ĐẦU
1- LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
1.1- Cơ sở lí luận.
Trong nền giáo dục từ xa xưa, ông cha ta vẫn rất đề cao và coi trọng
giáo dục đạo đức của con người. Lúc sinh thời Hồ Chủ Tịch rất quan tâm
đến vấn đề giáo dục, rèn luyện đạo đức cho thế hệ trẻ. Bác nói: “Có đức
mà không có tài thì làm việc gì cũng khó, có tài mà không có đức là người
vô dụng’’. Như vậy Đức và Tài là hai phạm trù cơ bản để đánh giá nhân
cách của một con người.
Việc hình thành những phẩm chất đạo đức của người thầy giáo cho
sinh viên là một trong những nhiệm vụ rất quan trọng của nhà trường sư
phạm cần được quan tâm ngay từ khi họ bước vào trường.
1.2- Cơ sở thực tiễn.
Quá trình đào tạo giáo viên ở các trường sư phạm nói chung và
trường Cao Đẳng Sư Phạm Thái Bình nói riêng còn nặng về trang bị, cung
cấp kiến thức khoa học chưa chú ý rèn luyện kĩ năng nghề nghiệp và
những phẩm chất đạo đức của người giáo viên Muốn dạy học tốt trước
hết phải có tâm hồn đẹp. Tu dưỡng về nghề căn bản nhất và cũng gian khổ
là luyện tâm hồn. Không có tâm hồn đẹp khó dạy học sinh thành công.
Quá trình luyện tâm hồn đi song song với quá trình luyện tay nghề. Nói
cách khác hồng thắm phải tiến hành cùng lúc với chuyên sâu.
Là một giáo viên của trường tôi luôn nhận thức được vai trò quan
trọng trong việc hình thành nhân cách cho sinh viên, đào tạo sinh viên vừa
có kiến thức và trình độ chuyên môn nghiệp vụ cao, vừa phải có đạo đức
tốt. Đặc biệt là giúp các giáo sinh yên tâm với nghề mình đã chọn, để họ
có thể trở thành những thầy, cô giáo vừa có Đức, vừa có Tài, gắn bó cả đời
mình với sự nghiệp đào tạo thế hệ trẻ. Từ những lÝ do trên, tôi lựa chọn đề
tài: “Biện pháp giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho sinh viên trường Cao
Đẳng Sư Phạm Thái Bình” để tiến hành nghiên cứu.
2- MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU.
Xác định một số biện pháp giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho sinh
CĐSP Thái Bình.
7- PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU.
7.1- Phương pháp nghiên cứu lý luận.
7.2- Phương pháp nghiên cứu thực tiễn.
7.2.1- Phương pháp quan sát.
7.2.2- Phương pháp điều tra bằng ankét
7.2.3- Phương pháp trao đổi trò chuyện.
7.2.4- Phương pháp lấy ý kiến chuyên gia.
7.2.5- Phương pháp thống kê toán học.
2
NỘI DUNG NGHIÊN CøU
Chương I : CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU.
1- LỊCH SỬ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU.
Ở phương tây, trước công nguyên có nhiều nhà triết học quan tâm đến
vấn đề đạo đức. Ở Việt Nam đã có hơn một trăm cuốn sách về giáo dục
đạo đức. Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng đã nghiên cứu về vấn đề đạo đức và
giáo dục đạo đức. Tư tưởng đạo đức của Người cụ thể và gần gũi với mọi
đối tượng. Đã có nhiều công trình khoa học trong và ngoài nước đề cập
đến vấn đề giáo dục đạo đức, nhưng nghiên cứu về đạo đức và giáo dục
đạo đức nghề nghiệp cho sinh viên sư phạm thì rất Ýt, và đây cũng là một
vấn đề mới mẻ chưa có ai nghiên cứu.
2- MỘT SỐ KHÁI NIỆM CƠ BẢN LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
NGHIÊN CỨU.
2.1- Khái niệm về đạo đức.
2.1.1- Khái niệm đạo đức.
C.Mác cho rằng:
“ Đạo đức chính là lực lượng bản chất của con người trong sự phát
triển của nó theo hướng ngày càng đạt tới giá trị đích thực của cái thiện”.
Trong các định nghĩa về đạo đức đều đề cập đến các khía cạnh sau:
- Đạo đức là hình thái ý thức xã hội phản ánh quan hệ giữa cá nhân
nhu cầu, thói quen của người được giáo dục.” [ 22, 128 ].
2.2.2- Đạo đức gắn liền nghề nghiệp
Công tác giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho sinh viên trong các nhà
trường sư phạm là hết sức quan trọng. Do đó giáo dục đạo đức nghề
nghiệp phải đạt những yêu cầu cơ bản:
- Giáo dục tư tưởng phẩm chất đạo đức cách mạng, lòng nhân ái cho
sinh viên.
- Giáo dục sinh viên xây dựng nề nếp, thói quen sống có kỉ luật, nêu
cao ý thức trách nhiệm, ý thức tự giác trong học tập.
2.2.3- Nội dung giáo dục đạo đức nghề nghiệp trong trường sư phạm.
Nội dung giáo dục đạo đức phải bao gồm cả ba mặt: phát triển ý
thức đạo đức, hình thành nhu cầu, động cơ, tình cảm đạo đức phù hợp với
nền đạo đức mới, xây dựng hành vi và thói quen đạo đức. Tuy vậy cơ bản
vẫn không tách rời những mối quan hệ chủ yếu trong xã hội, bao gồm các
mối quan hệ sau:
* Mối quan hệ của cá nhân với xã hội.
* Mối quan hệ thể hiện lí tưởng sống, nhận thức tư tưởng chính trị
của cá nhân.
4
* Quan hệ của cá nhân đối với công việc.
* Quan hệ giữa cá nhân với người khác, với dân tộc khác.
* Quan hệ của cá nhân với lao động
* Thái độ đối với bản thân.
* Quan hệ cá nhân với môi trường.
2.2.4- Một số phương pháp giáo dục đạo đức nghề nghiệp trong
nhà trường hiện nay:
Theo phó Giáo sư - Tiến sĩ Hà Nhật Thăng: “Phương pháp giáo dục
là cách thức hoạt động gắn bó với nhau giữa nhà giáo dục và người được
giáo dục nhằm giải quyết các nhiệm vụ giáo dục do xã hội đặt ra đối với
nhà trường”. [ 35, 72 ].
giúp người thầy giáo đứng vững được với nghề, là cái nâng nghề sư phạm
trở nên cao quÝ, là cái khiến người thầy giáo được đặt vào vị trí cao trong
xã hội và được xã hội tôn kính.
4- NHỮNG PHẨM CHẤT ĐẠO ĐỨC NGHỀ NGHIỆP CẦN
HÌNH THÀNH Ở NGƯỜI SINH VIÊN SƯ PHẠM.
4.1- Đặc điểm tâm lí xã hội của sinh viên nói chung.
Sinh viên là một tầng lớp xã hội, một tổ chức xã hội quan trọng đối
với mọi thể chế chính trị. Thanh niên sinh viên là nhóm người có vị trí
chuyển tiếp, chuẩn bị cho một đội ngũ tri thức có trình độ và nghề nghiệp
tương đối cao trong xã hội.
4.2- Những yêu cầu về phẩm chất đạo đức nghề nghiệp.
* Thế giới quan khoa học.
Thế giới quan khoa học không phải là bản tính tự nhiên của nhà giáo,
mà nó được hình thành trong quá trình học tập của họ và dưới nhiều ảnh
hưởng khác nhau. Đó là quá trình học tập trong trường phổ thông, trường
sư phạm và tự học suốt đời, trong quá trình học các môn khoa học thuộc
lĩnh vực khoa học tự nhiên và công nghệ, khoa học xã hội và nhân văn,
đặc biệt là triết học.
* Lí tưởng nghề nghiệp.
Lí tưởng nghề nghiệp của người thầy giáo thể hiện ở niềm tin sư
phạm, niềm say mê nghề nghiệp, tâm huyết với nghề, tận tâm với học sinh,
với công việc, lối sống giản dị lành mạnh…Điều đó tạo nên sức mạnh,
động lực bên trong giúp người thầy vượt qua được những khó khăn trở
ngại hoàn thành nhiệm vụ giáo dục thế hệ trẻ.
* Lòng yêu nghề.
Lòng yêu nghề gắn liền với tình cảm nghĩa vụ và ý thức trách nhiệm
của người thầy giáo, nó là biểu hiện của tình cảm nghề nghiệp. Chính từ
yêu cầu và đặc trưng của nghề nghiệp đòi hỏi người giáo viên sự cố gắng
6
và tinh thần trách nhiệm rất cao đối với công việc, đòi hỏi phải có tình yêu
* Tinh thần ham học hỏi, cầu tiến bộ của người thầy giáo.
Người giáo viên phải cập nhật kịp thời với những tiến bộ của thời đại,
phải thường xuyên học hỏi để không ngừng nâng cao trình độ chuyên môn
7
của mình. Không nên thoả mãn, bằng lòng với những cái hiện có. Chính vì
vậy, tinh thần cầu thị là phẩm chất đạo đức cần thiết của người giáo viên để
thầy giáo thực sự là cái dấu nối giữa nền văn hoá nhân loại và dân tộc với thế
hệ trẻ.
5- NHỮNG CON ĐƯỜNG CƠ BẢN NHẰM THỰC HIỆN QUÁ
TRÌNH GIÁO DỤC
ĐẠO ĐỨC NGHỀ NGHIỆP CHO SINH VIÊN Ở CÁC TRƯỜNG
SƯ PHẠM HIỆN NAY.
5.1- Thông qua hoạt động dạy và học các môn trong chương trình
đào tạo của nhà trường.
Qua một số môn học như giáo dục đạo đức, giáo dục công dân trang bị
cho sinh viên những kiến thức cơ bản, hệ thống về những chuẩn mực đạo
đức, nghĩa vụ, trách nhiệm của công dân theo yêu cầu của xã hội trong giai
đoạn hiện nay.
5.2- Thông qua hoạt động ngoài giờ lên lớp.
Hoạt động ngoài giờ lên lớp có ưu thế là rèn luyện, thể hiện bằng hành
vi, thái độ, hành động đạo đức trong các mối quan hệ chứ không chỉ dừng
lại ở mức độ nhận thức lí luận.
5.3- Thông qua tập thể lớp học.
Để có tập thể sinh viên lành mạnh, trước hết người giáo viên cần phải có
uy tín, có kĩ năng xây dựng tập thể sinh viên theo mục tiêu và kế hoạch xác
định.
5.4- Sự tự tu dưỡng của sinh viên.
Sự tù tu dưỡng của sinh viên là con đường tác động trực tiếp, có ý
nghĩa quyết định trong quá trình giáo dục đạo đức ở mỗi sinh viên.
Chương II: THỰC TRẠNG VỀ BIỆN PHÁP GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC
4 Không có ý kiến gì 13 14,9 17 17,3 30 16,2
Nhận xét:
Qua kết quả điều tra cho thấy số sinh viên yêu nghề chiếm tỉ lệ cao
nhất 64,8%, đây là một tín hiệu đáng mừng cho thấy động cơ thi vào
trường ban đầu của các em phù hợp với thái độ khi lựa chọn nghề nghiệp.
Chỉ có 3,2% ý kiến cho rằng không yêu nghề, vì thế đặt ra cho nhà
trường cần có các biện pháp giáo dục thiết thực, tích cực để công tác đào
tạo đạt hiệu quả cao hơn.
So sánh kết quả điều tra về lÝ do thi vào trường sư phạm thì lÝ do
yêu quí trẻ em đạt tỉ lệ cao nhất 64,8%. Chính từ lÝ do yêu nghề, mến trẻ
sẽ là cơ sở, là điều kiện thuận lợi để các em vượt qua mọi khó khăn, thử
thách, vững bước vào nghề.
2.3- Thực trạng nhận thức của sinh viên về các tiêu chuẩn, phẩm
chất đạo đức của người thầy giáo.
Chúng tôi đã tiến hành điều tra trên 185 sinh viên năm thứ nhất, thứ
hai khoa tự nhiên và khoa xã hội, với 14 nội dung, gồm những phẩm chất
9
mang tính chất chung của mọi nghề nghiệp, đồng thời mang tính chất đặc
trưng cho nghề dạy học, kết quả thể hiện qua bảng 3.
Qua kết quả điều tra, chúng tôi thấy những tiêu chí, phẩm chất đưa ra
khảo sát ở cả hai khối được sinh viên đánh giá theo những thứ bậc khác
nhau. Nếu lấy tiêu chuẩn từ 50% trở lên thì những tiêu chuẩn, phẩm chất sau
đây được các em đánh giá cao và cho rằng cần thiết đối với người giáo viên:
- Lòng yêu nghề, mến trẻ : 93,5%
- Kiến thức chuyên môn nghiệp vụ giỏi: 90,8%
- Năng lực giảng dạy : 76,7%
- Tôn trọng nhân cách học sinh : 73,5%
- Lí tưởng nghề nghiệp : 73 %
- Ý thức tự học, tự bồi dưỡng : 64,3%
- Trình độ văn hoá cao : 62,1%
nghề nghiệp, thực hiện được mục tiêu giáo dục đào tạo, góp phần nâng cao
phẩm chất, năng lực cho người giáo viên tương lai.
3-THỰC TRẠNG VIỆC THỰC HIỆN CÁC BIỆN PHÁP GIÁO
DỤC ĐẠO ĐỨC NGHỀ NGHIỆP CHO SINH VIÊN VÀ HIỆU QUẢ
CỦA CÁC BIỆN PHÁP ĐÓ.
3.1-Thực trạng về thực hiện các biện pháp giáo dục đạo đức nghề
nghiệp cho sinh viên trường CĐSP Thái Bình.
Bảng 7: Mức độ thực hiện những yêu cầu cơ bản trong
rèn luyện đạo đức nghề nghiệp của sinh viên.
ST
T
Mức độ thực hiện
Nội dung rèn luyện
Thường
xuyên
Chưa
thường
xuyên
Yếu
1 Thực hiện nội qui nhà trường đề ra 76,2 % 23,7 % 1 %
2 Thực hiện nghiêm túc giờ học
trên lớp.
72,4 % 28,1 % 0
3 Tự học ở nhà theo qui định. 52,9 % 44,3 % 4,3 %
4 Tiếp khách trong giờ tự học. 17,8 % 58,3 % 24,8 %
5 Tham gia các buổi ngoại khoá. 54,6 % 40 % 6,4%
6 Thực hiện giờ nào việc Êy. 42,1 % 51,3 % 7 %
7 Thực hành đầy đủ ở trường. 82,7 % 16,2 % 1 %
8 Tham gia sinh hoạt đoàn thể. 58,9 % 35,6 % 2,7 %
được sinh viên đánh giá cao hơn.
- Hoạt động kiến tập, thực tập đạt : 76,7%
- Dạy các môn chính trị, tâm lí, giáo dục đạt : 70,8%
- Rèn luyện nghiệp vụ sư phạm đạt: 66,4%
Môn tâm lí giáo dục là môn nghiệp vụ giúp sinh viên hình thành những
kinh nghiệm ứng xử, có tính ứng dụng cao trong cuộc sống. Bên cạnh đó
sinh viên cho rằng hoạt động nói chuyện ngoại khóa về nghề sư phạm, về
đạo đức người thầy giáo, tổ chức các ngày lễ truyền thống, sinh hoạt văn
hoá văn nghệ, TDTT, hoạt động xã hội có vai trò quan trọng, (đều đạt tỉ lệ
trên 50%). Trong các biện pháp giáo dục trên thì biện pháp giáo dục thông
qua việc giảng dạy các môn chuyên ngành chiếm tỉ lệ thấp hơn cả (đạt
12
30,2%). Thực tế này cho thấy các giáo viên giảng dạy môn văn hoá chưa
thực hiện tốt việc lồng ghép giáo dục đạo đức vào bài giảng cho sinh viên.
Kết luận chung:
Nhìn chung trường CĐSP Thái Bình đã chú trọng tới việc giáo dục
đạo nghề nghiệp cho sinh viên. Kết quả giáo dục bước đầu đã có những
chuyển biến tích cực, song so với yêu cầu thực tiễn, nhất là so với yêu cầu
đào tạo người giáo viên tương lai thì vẫn còn những tồn tại mà nhà trường
cần phải nỗ lực để thực hiện mục tiêu đề ra.
Vẫn còn một bộ phận không nhỏ các giáo viên chưa thực sự nhiệt tình
với công tác giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho sinh viên, chưa thực hiện
tốt việc lồng ghép giáo dục đạo đức vào bài giảng. Hoạt động rèn luyện
nghiệp vụ sư phạm, kiến thực tập sư phạm chưa được giáo viên chỉ đạo
tích cực. Mặc dù cơ sở hạ tầng của nhà trường tương đối tốt nhưng trang
thiết bị phục vụ cho điều kiện học tập còn hạn chế. Từ thực trạng nêu trên,
chúng tôi đưa ra một số biện pháp giáo dục đạo đức sau:
Chương III
MỘT SỐ BIỆN PHÁP GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC NGHỀ NGHIỆP CHO
SINH VIÊN TRƯỜNG CĐSP THÁI BÌNH.
cách chặt chẽ để hỗ trợ cho nhau nhằm phát huy mặt tích cực của mỗi loại.
1.2- Một số biện pháp giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho sinh viên
trường CĐSP Thái Bình.
1.2.1- Biện pháp 1: Nâng cao nhận thức cho giáo viên và sinh viên về vị
trí của giáo dục đạo đức nghề nghiệp ở trường CĐSP Thái Bình.
a. Định hướng:
Việc nâng cao đạo đức cho đội ngũ sinh viên trong nhà trường sư phạm là
hết sức cần thiết nhằm giúp các em thấm nhuần sâu sắc vị trí đạo đức nhân
cách của con người.
b.Tổ chức thực hiện:
- Tổ chức cho sinh viên học tập các môn khoa học cơ bản.
- Tổ chức nghe báo cáo tình hình thời sự, chính trị một năm từ 3- 4 lần.
- Tổ chức học tập Nghị quyết của Đảng.
- Tổ chức các cuộc thi tìm hiểu truyền thống lịch sử của địa phương.
1.2.2- Biện pháp 2: Đảm bảo sự lãnh đạo của tổ chức Đảng và hoạt
động của Đoàn TNCS Hồ Chí Minh trong việc giáo dục đạo đức nghề
nghiệp cho sinh viên.
a. Định hướng:
14
Hiện nay, tổ chức Đảng, Đoàn Thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh trong
nhà trường chưa phát huy được chức năng giáo dục, việc bồi dưỡng đoàn
viên ưu tú để giới thiệu cho Đảng không được tiến hành thường xuyên và
chưa có hiệu quả. Điều đó càng phải khẳng định hoạt động của các tổ chức
Đảng, Đoàn phải là động lực thúc đẩy sinh viên phấn đấu.
b.Tổ chức thực hiện:
Các giá trị này phải được dấy lên từ các phong trào văn hoá, văn nghệ, các
cuộc thi cán bộ giỏi, sinh viên tài năng. Ccần phối hợp với nhà trường có
chương trình huấn luyện, bồi dưỡng nghiệp vụ công tác cho các cán bộ
phụ trách Đoàn trường và các chi đoàn sinh viên. dục đạo đức.
1.2.3- Biện pháp 3: Giáo viên chủ nhiệm là cầu nối giữa tập thể học
CĐSP”. Trường CĐSP có chức năng “dạy chữ, dạy nghề, dạy người”, như
vậy đào tạo nghề là một trong ba chức năng không thể thiếu nhằm khẳng
định sự tồn tại của trường CĐSP.
b. Tổ chức thực hiện:
Trường CĐSP Thái Bình thực hiện kế hoạch RLNVSP thông qua việc tổ
chức cho sinh viên đi kiến tập sư phạm ở trường phổ thông tạo điều kiện
để sinh viên tiếp xúc với thực tiễn giáo dục phổ thông.
1.2.6- Biện pháp 6: Xây dựng môi trường nhà trường CĐSP Thái Bình
thành môi trường giáo dục lành mạnh nhằm nâng cao chất lượng giáo
dục đạo đức nghề nghiệp cho sinh viên.
a. Định hướng:
Nếu hoàn cảnh môi trường tốt, lành mạnh sẽ góp phần tích cực đến quá
trình giáo dục đạo đức, ngược lại môi trường không tốt sẽ có ảnh hưởng
tiêu cực làm phản tác dụng giáo dục.
b. Tổ chức thực hiện:
Bằng các hoạt động thiết thực như tổ chức học nhóm, đôi bạn học tập, các
phong trào của Đoàn, lớp được tiến hành thường xuyên dưới sự kiểm tra
giám sát của giáo viên chủ nhiệm. Bên cạnh đó xây dựng môi trường văn
hoá trong nhà trường bằng các hoạt động mang tính giáo dục, sinh hoạt
chính trị, nói chuyện thời sự, hội diễn, các cuộc thi đua…
1.2.7- Biện pháp 7: Thông qua việc thực hiện nội quy, quy chế sinh hoạt
học tập trong nhà trường để rèn luyện hành vi đạo đức cho sinh viên.
a. Định hướng:
Trước hết cần làm cho sinh viên hiểu sự cần thiết của các nội quy, quy chế
đối với việc rèn luyện của mỗi cá nhân để từ đó họ thực hiện tự giác.
b. Tổ chức thực hiện:
16
Đoàn thanh niên kết hợp với Ban quản lí kí túc xá có trách nhiệm thường
xuyên đôn đốc sinh viên thực hiện nội quy phòng ở, đảm bảo chỗ ở của cá
nhân gọn gàng, ngăn nắp.
quán triệt trong mọi hoạt động.
17
b. Tổ chức thực hiện:
Xây dựng tập thể sinh viên thành môi trường giáo dục là một yêu cầu, một
nguyên tắc giáo dục của nhà trường. Cần xây dựng tập thể đáp ứng 5 đặc
điểm sau: Có mục tiêu hoạt động thống nhất, có chương trình kế hoạch
hoạt động cụ thể, có đội ngũ tự quản đủ năng lực, có kỉ luật tập thể chặt
chẽ, có dư luận tập thể lành mạnh.
2- KHẢO NGHIỆM CÁC BIỆN PHÁP.
Bảng (11) : Kết quả khảo nghiệm biện pháp theo ý kiến đánh giá của
chuyên gia.
S
T
T
Các biện pháp
Ý kiến đánh giá
Rất
ĐY
%
Đ
Y
%
Phâ
n
vân
%
K
ĐY
%
1 Nâng cao nhận thức cho
11,
6
10
16,
6
5 Giáo dục đạo đức nghề
nghiệp cho sinh viên thông
qua hoạt động RLNVSP.
55
91,
6
5 8,3 0 0
6 Xây dựng môi trường giáo
dục lành mạnh
46
76,
6
10
16,
6
4 6,6
18
7 Thông qua việc thực hiện
nội qui, qui chế học tập
trong nhà trường .
48 80 9 15 3 5
8 Tổ chức các hoạt động văn
hoá, văn nghệ với các chủ đề
giáo dục đạo đức nghề
nghiệp cho sinh viên
rất đồng ý. Có 16,6% sè ý kiến cho rằng biện pháp 4 và biện pháp 10 hiệu
quả chưa cao. Biện pháp 5 được đánh giá cao nhất ( rất đồng ý: 91,6% ;
đồng ý 8,3%). Qua điều tra thực trạng về đạo đức nghề nghiệp của sinh
viên trường CĐSP Thái Bình cũng như qua kết quả khảo nghiệm các biện
pháp chúng tôi thấy rằng các biện pháp trên nếu có đủ thời gian, điều kiện
để thực nghiệm với sinh viên trong một khoá học, chắc chắn sẽ đem lại
hiệu quả giáo dục cao hơn khi chưa có sự tác động đồng bộ của các biện
pháp.
19
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
1- KẾT LUẬN.
Giáo dục là nhiệm vụ cách mạng và là nhiệm vụ lâu dài của toàn
Đảng, toàn dân trong sự nghiệp phát triển đất nước. Cùng với sự nghiệp
phát triển giáo dục nói chung, giáo dục đạo đức nói riêng có vai trò rất
quan trọng trong đời sống xã hội. Không thể có sự tồn tại xã hội mà không
có đạo đức, nhất là trong điều kiện hiện nay, vấn đề đạo đức không chỉ là
vấn đề của một đất nước mà là vấn đề “mang tính toàn cầu của thời đại, là
điều kiện quan trọng để bảo vệ sự sống còn và tương lai của loài người”
(Aurello Peuei). Có thể nói, nhân cách sinh viên thể hiện trước hết ở bộ
mặt đạo đức. Vì thế giáo dục đạo đức cho sinh viên là một bộ phận cực kì
quan trọng của quá trình sư phạm. Để giáo dục những nét phẩm chất đạo
đức, cần giải quyết đồng bộ nhiều vấn đề nhằm giúp sinh viên có ý thức về
phẩm chất đó, có thái độ tích cực và có thói quen hành vi tương ứng.
Việc giáo dục đạo đức đòi hỏi sinh viên không những biết và thừa
nhận sự cần thiết, tính tất yếu của các phẩm chất đạo đức, mà còn phải
thực hiện hành vi đạo đức đó, làm mọi việc theo sự hiểu biết của mình
cùng với động cơ và tình cảm tích cực. Việc tổ chức quản lý giáo dục đạo
đức và đạo đức nghề nghiệp cho sinh viên nói chung và sinh viên trường
CĐSP Thái Bình nói riêng là nhiệm vụ trọng tâm của ngành học trước mắt
cũng như lâu dài. Trong quá trình đó muốn công tác giáo dục đạo đức
người thầy giáo còn có khoảng cách cần vươn tới.
Từ thực tế giáo dục của nhà trường chúng tôi đề xuất một số biện pháp
giáo dục đạo đức nghề nghiệp, đó là các biện pháp :
- Nâng cao nhận thức cho giáo viên, sinh viên về vị trí của giáo dục
đạo đức nghề nghiệp trong trường CĐSP Thái Bình.
- Chuyên môn hoá đội ngũ giáo viên.
- Nâng cao yêu cầu về phẩm chất đạo đức đối với người giáo viên và
thể hiện nó trong chương trình đào tạo, rèn luyện cho sinh viên ở trường
CĐSP Thái Bình.
- Xây dựng chương trình đào tạo giáo viên phải phù hợp với tình hình
thực tế của nhà trường.
- Trên cơ sở chương trình của Bộ dành nhiều quỹ thời gian cho thực
hành rèn luyện tay nghề tại chỗ và thực hành sư phạm.
- Xác định đúng đắn vai trò của công tác Đảng, Đoàn trong việc giáo
dục tư tưởng, chính trị, lối sống cho sinh viên.
21
- Tăng cường hơn nữa vai trò của giáo viên chủ nhiệm lớp trong việc
phối kết hợp với các lực lượng giáo dục khác để thực hiện mục tiêu giáo
dục đạo đức nghề nghiệp cho sinh viên.
- Kết hợp việc giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho sinh viên thông qua
giảng dạy các môn văn hóa trong nhà trường.
- Tổ chức tốt các hoạt động RLNVSP thường xuyên, các hoạt động
giáo dục NGLL nhằm nâng cao hiệu quả giữa lí luận với thực hành.
- Phát huy vai trò chủ thể của sinh viên và năng lực tự quản của tập
thể sinh viên, cũng như chú ý đến việc tổ chức các câu lạc bộ, văn hoá, văn
nghệ, hội thảo khoa học.
Các biện pháp giáo dục nêu trên có mối liên hệ qua lại và thống nhất
với nhau, thực hiện biện pháp này tốt sẽ thúc đẩy hỗ trợ việc thực hiện các
biện pháp khác tạo thành sức mạnh chung.
Qua kết quả nghiên cứu bước đầu cho phép chúng tôi khẳng định:
cực kết hợp nội dung giáo dục đạo đức với nội dung bài giảng chuyên
môn, coi đây là nhiệm vụ không thể thiếu trong mỗi bài giảng. Đặc biệt coi
trọng vị trí của một số bộ môn đặc trưng có ảnh hưởng trực tiếp đến công
tác giáo dục tư tưởng, chính trị đạo đức cho sinh viên như môn chính trị,
tâm lí học, giáo dục học, đạo đức học
- Trong việc xây dựng nội dung kiến tập, thực tập sư phạm cần tăng
cường nội dung RLNVSP, hướng vào việc nâng cao chất lượng dạy nghề
sư phạm cho sinh viên. Rèn luyện những kĩ năng hoạt động giáo dục và
giảng dạy cho sinh viên, đồng thời là dịp để sinh viên rèn luyện và thể hiện
những phẩm chất đạo đức người thầy giáo khi đi vào thực tế phổ thông.
- Tổ chức các hoạt động NGLL một cách đa dạng nhằm giúp sinh viên
được rèn luyện một cách thường xuyên, đảm bảo được từ lí thuyết đến
thực tế, từ thực tế trở lại bổ sung và hoàn thiện lí thuyết. Cần đảm bảo tính
toàn diện cân đối giữa nội dung chính khoá với ngoại khoá bởi những nội
dung này đóng góp một phần rât quan trọng vào việc giáo dục lí tưởng và
tình yêu nghề nghiệp cho sinh viên, đồng thời là những biện pháp giáo dục
nghề nghiệp rất tự nhiên, sinh viên sẽ cảm nhận một cách thoải mái nhẹ
nhàng mà không bị sự gò Ðp.
- Tổ chức hợp lí các hoạt động chính trị xã hội, giao lưu văn hoá, văn
nghệ hội thảo khoa học, ngoại khoá góp phần nâng cao nhận thức cho sinh
viên trong việc rèn luyện đạo đức.
- Nhà trường và khoa cần quan tâm tới việc phát huy tính tích cực, độc
lập sáng tạo trong học tập, rèn luyện, nghiên cứu khoa học của sinh viên.
Cần chú trọng tới việc phát huy vai trò giữa giáo dục với tự giáo dục, vai
23
trò chủ thể cũng như năng lực tự quản của sinh viên nhằm góp phần giáo
dục đạo đức cho các em ngày càng sâu sắc hơn.
- Hoàn thiện nội quy, quy chế, trong các hoạt động của nhà trường
nhằm đưa hoạt động của sinh viên vào nền nếp tạo điều kiện rèn luyện
hành vi thãi quen đạo đức cho sinh viên. Đồng thời với việc xây dựng