bài giảng tài chính công - Pdf 26

Bộ môn Tài chính – Ngân hàng
Chương 1
KHU VỰC CÔNG VÀ TÀI CHÍNH CÔNG
I. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
Cho đến thời điểm hiện tại, khu vực công nói chung và chính phủ nói riêng có vai trò như
thế nào trong nền kinh tế vẫn là một trong những chủ đề gây ra nhiều tranh luận nhất trong các
học thuyết kinh tế cổ điển và hiện đại. Chương này cung cấp một đánh giá tổng quan về lĩnh vực
công, tài chính công và giải thích tại sao nó là lĩnh vực nghiên cứu quan trọng. Cụ thể:
- Khu vực công là gì ? khái niệm, đặc điểm và lý do để khu vực công tồn tại.
- Tài chính công và vai trò của chính phủ.
- Sự phát triển của tài chính công.
- Bản chất và chức năng tài chính công.
II. NỘI DUNG CHƯƠNG 1
1.1 Khu vực công
1.1.1 Khái niệm khu vực công
Trong đời sống hàng ngày, mỗi chúng ta đều rất cần đến những loại hàng hoá do khu vực
công cung cấp như: y tế, giáo dục, an ninh quốc phòng,… Vậy, khu vực công là gì?
Từ khi nhà nước ra đời, nền kinh tế - xã hội được chia thành hai khu vực: khu vực tư nhân và
khu vực công ( khu vực nhà nước, khu vực chính phủ).
Sự khác biệt giữa hai khu vực ở đây là gì?
- KV công là khu vực phản ánh hoạt động kinh tế chính trị, xã hội do nhà nước quyết định.
- KV tư là khu vực phản ánh các hoạt động do tư nhân quyết định.
Như vậy, sự phân biệt giữa khu vực tư và khu vực công là hoàn toàn dựa vào tính chất sở
hữu và quyền lực chính trị.
* Hiện nay, có 2 khái niệm về khu vực công:
- Khái niệm 1: khu vực công = khu vực nhà nước: mọi thứ, mọi sự đều được quyết định bởi
nhà nước (gắn liền với Việt Nam).
Ví dụ: ở Việt Nam các đơn vị thuộc khu vực công như quỹ tín dụng nhân dân, kho bạc nhà
nước, ủy ban nhân dân, hội đồng nhân dân,
Tài chính công
1

Tài chính công
2
Bộ môn Tài chính – Ngân hàng
tự như vậy đối với các cá nhân, nước nào cũng có người giàu, kẻ nghèo. Tuy nhiên, tất cả các
quốc gia, các cá nhân đều "nghèo" trước nhu cầu của chính họ, đó chính là quy luật khan hiếm.
Quy luật khan hiếm là mâu thuẫn giữa nhu cầu vô hạn và nguồn lực hữu hạn của mỗi quốc
gia, mỗi cá nhân.
Mặc dù sự phát triển của khoa học kỹ thuật đã nâng cao tính hiệu quả của việc sử dụng
nguồn lực lên nhiều lần nhưng quy luật khan hiếm vẫn tồn tại vì nhu cầu mới luôn nảy sinh, hay
nói cách khác là nhu cầu không có giới hạn và không có điểm dừng.
Chính sự luôn tồn tại của quy luật khan hiếm ở mọi quốc gia, mọi chế độ chính trị mà kinh tế
học đã chỉ ra các vấn đề cơ bản mà nền kinh tế phải giải quyết để phân bổ tối ưu nguồn lực khan
hiếm của mình, đó là:
- Sản xuất cái gì ? Với số lượng bao nhiêu ?
- Sản xuất như thế nào ?
- Sản xuất cho ai ?
Như mọi lĩnh vực của kinh tế học, khu vực công cũng liên quan trực tiếp đến việc giải quyết
các vấn đề cơ bản trên trong quá trình phân bổ nguồn lực công. Phân bổ nguồn lực của khu vực
công liên quan đến sự lựa chọn công, vai trò của Chính phủ và cách thức can thiệp của Chính phủ
vào nền kinh tế. Trong khi đó, phân phối của khu vực tư hoàn toàn chịu sự chi phối của cơ chế thị
trường. Cơ chế thị trường với quy luật khan hiếm, quy luật cung cầu, quy luật giá trị,…yêu cầu sự
phân bổ nguồn lực tối ưu là phải: “ tối đa hoá lợi nhuận”. Dù là vậy, cơ chế thị trường cũng không
thể chi phối hết mọi hoạt động của nền kinh tế xã hội. Có những hoạt động không thể lấy sự tối đa
hoá lợi nhuận làm mục tiêu phân bổ, chẳng hạn như công bằng và ổn định nền kinh tế. Trong
trường hợp này cần phải áp dụng cơ chế phi thị trường để điều tiết cách thức phân bổ, khắc phục
những thất bại của thị trường.
Như vậy đối với khu vực công khi nghiên cứu giải quyết các vấn đề cơ bản của kinh tế học
trong phân bổ nguồn lực cần chú ý đến các vấn đề cơ bản sau:
- Xác định các hoạt động mà khu vực công có thể tham gia và cách thức tổ chức các hoạt
động đó.

cách khác, TCC cũng được hiểu như kinh tế học của khu vực công hay kinh tế công, chủ yếu đề
cập đến các hoạt động thu thuế và chi tiêu của chính phủ và những ảnh hưởng của nó trong việc
phân bổ các nguồn lực và phân phối thu nhập.
1.2.2 Vai trò của Chính phủ ( phạm vi ảnh hưởng của TCC)
Quá trình phát triển và hoàn thiện chức năng của nhà nước gắn liền với sự phát triển của xã
hội từ nền kinh tế hàng hoá giản đơn, tự do cạnh tranh đến thị trường hiện đại.
Trong nền kinh tế hàng hoá giản đơn và kinh tế thị trường tự do cạnh tranh thì nhà nước chỉ
có chức năng cai trị với những hoạt động cơ bản: quản lý hành chính, trật tự xã hội, an ninh quốc
phòng. Các hoạt động kinh tế nằm ngoài chức năng của nhà nước. Quy mô kinh tế lúc bấy giờ còn
Tài chính công
4
Bộ môn Tài chính – Ngân hàng
nhỏ bé và chịu sự chi phối hoàn toàn bởi cơ chế tự điều tiết của thị trường. (đại diện của tư tưởng
này là W Petty, F Quesnay, nổi bật là A. Smith với lý thuyết “bàn tay vô hình”).
Tuy nhiên, vào đầu thế kỷ XX tư tưởng tự do hoá kinh tế mất dần chỗ đứng và thay vào đó
là một quan điểm mới: nền kinh tế cần có sự can thiệp của nhà nước, nhà nước phải trở thành 1
chủ thể kinh tế và phải có vai trò tích cực hơn. Sở dĩ như vậy là do trong thực tiễn, hàng loạt sự
kiện cho thấy nền kinh tế tự do cạnh tranh mất dần tính ổn định tự thân của nó: khủng hoảng kinh
tế mang tính chu kỳ, thất nghiệp lạm phát đã trở thành nỗi ám ảnh thường trực đối với nền kinh tế
tư bản, đặc biệt cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới 1929-1933 là dấu hiệu rõ nét cho thấy kinh tế
thị trường tự do với cơ chế tự điều chỉnh của nó không còn đủ để duy trì sự phát triển ổn định nền
kinh tế. Theo Keynes, khủng hoảng kinh tế và thất nghiệp là do thiếu sự can thiệp của nhà nước.
Trong tác phẩm kinh tế học của mình, Samuelson cũng khẳng định nền kinh tế vận hành
theo cơ chế thị trường nếu không có sự can thiệp của nhà nước thì giống như chỉ vỗ tay bằng 1
bàn tay. Nhà nước trong giai đoạn hiện đại có nhiều chức năng với nhiều sứ mệnh khác nhau. Lúc
này nhà nước không chỉ là một hệ thống cai trị với các cơ quan quản lý hành chính và an ninh mà
còn là một hệ thống phục vụ, một hệ thống điều chỉnh chủ động và có quyền lực tồn tại bên cạnh
cơ chế thị trường để khắc phục những khiếm khuyết của thị trường. Đây là mô hình kinh tế hỗn
hợp: chính phủ - khu vực công và khu vực tư.
* Trong thực tiễn, tuy cùng là mô hình kinh tế hỗn hợp nhưng vai trò của chính phủ ở mỗi

vai trò của chính phủ đã có những thay đổi nhất định ở các nền kinh tế thị trường theo hướng:
giảm bớt sự can thiệp của chính phủ, thu hẹp khu vực công, đồng thời đẩy mạnh các chính sách
tự do hoá kinh tế và tài chính phù hợp với xu hướng hội nhập toàn cầu. Mô hình này có những
tác động nhất định trong việc khuyến khích khu vực tư phát triển, theo đó các nguồn lực trong nền
kinh tế được khai thác, sử dụng và phân bổ có hiệu quả hơn. Thế nhưng, chính sự thu hẹp khu vực
công đã làm giảm sút việc cung cấp các hàng hoá công thiết yếu cho người nghèo, kéo theo là gia
tăng bất bình đẳng trong xã hội về phân phối thu nhập.
- Giai đoạn từ 1990 đến nay
Trong bối cảnh toàn cầu hoá diễn ra với tốc độ nhanh, thêm vào đó là các cuộc khủng hoảng
tài chính- tiền tệ liên tiếp xảy ra ở những nền kinh tế mới nổi Châu Á trong các năm giữa thập kỷ
90 đã dấy lên làn sóng chỉ trích sự yếu kém về vai trò điều tiết vĩ mô của chính phủ. Nhiều nhà
kinh tế cho rằng sự tác động giữa lực lượng thị trường và chính phủ không chỉ đơn thuần là vấn
đề can thiệp và sự tự do của khu vực tư, mà cả 2 khu vực đều có vai trò quan trọng như nhau
trong quá trình phát triển kinh tế. Khu vực tư có tính năng động của nó trong cung cấp hàng hoá,
dịch vụ cho xã hội, thì chính phủ phải có vai trò khắc phục thất bại của thị trường, tạo điều kiện
cho hoạt động kinh doanh của khu vực tư phát triển, đảm bảo tái phân phối và cung cấp những
dịch vụ công cần thiết cho người nghèo.
1.2.3 Tài chính công - những vấn đề lớn
Liên quan đến vai trò của chính phủ, nghiên cứu TCC phải trả lời 4 câu hỏi lớn sau:
Tài chính công
6
Bộ môn Tài chính – Ngân hàng
- Khi nào chính phủ can thiệp vào nền kinh tế?
+ Khi thị trường thất bại. Ví dụ: hàng ngày bạn đi trên những con đường và không phải trả
tiền tư nhân sẽ không làm đường, có cầu và không có cung, thị trường thất bại chính phủ sẽ
làm đường.
+ Tái phân phối thu nhập: theo nguyên tắc phân bổ nguồn lực từ nhóm người mà xã hội cho
là "quá tốt" đến nhóm người mà xã hội cho là "không đủ tốt". Ví dụ: một người tạo ra thu nhập 20
triệu đồng/ tháng và một người tạo ra 500 ngàn đồng/ tháng, chẳng hạn chính phủ lấy đi của người
có thu nhập cao 1 triệu đồng/ tháng (bằng cách đánh thuế) và đem số tiền đó trợ cấp cho người có

công thành 2 giai đoạn:
1.3.1 Tài chính công cổ điển
Đây là thuật ngữ dùng để phản ánh hoạt động của tài chính công gắn liền với bối cảnh kinh
tế - xã hội cuối thế kỷ 19 trở về trước. Trong các nền kinh tế tự cung tự cấp, kinh tế hàng hoá giản
đơn và kinh tế thị trường tự do cạnh tranh, chức năng cơ bản của nhà nước là thực hiện các nhiệm
vụ truyền thống như: cảnh sát, tư pháp, quốc phòng và ngoại giao. Còn các hoạt động kinh tế thì
để mặc cho khu vực tư nhân quyết định, nhà nước không can thiệp hay nói khác đi là nhà nước
đứng ngoài các hoạt động kinh tế.
* Những đặc trưng cơ bản của tài chính công cổ điển:
- TCC có tính trung lập: thể hiện
+ TCC không can thiệp, không gây ảnh hưởng đối với các hoạt động kinh tế, không làm thay
đổi thực trạng kinh tế. Nói khác đi, mọi khoản thu chi của nhà nước không theo đuổi bất kỳ mục
đích kinh tế- xã hội nào.
Thuế và các khoản thu công chỉ thực hiện mục đích cơ bản là tạo nguồn thu cho nhà nước.
Khi đặt ra 1 sắc thuế thì mối quan tâm hàng đầu của nhà nước là hiệu quả của nó đối với quỹ ngân
sách. Thuế phải đơn giản, dễ thu để tập trung được nhiều nguồn lực nhất cho nhà nước. Chi tiêu
công chỉ có 1 đối tượng duy nhất là đáp ứng nhu cầu tài chính của nhà nước, không có mục đích
can thiệp vào đời sống kinh tế xã hội.
+ Tính độc lập của TCC. Thật ra thời bấy giờ, lý thuyết kế hoạch hoá nền kinh tế chưa được
hình thành do vậy các nhà hoạch định chính sách TCC không quan tâm đến việc gắn kết giữa kế
hoạch ngân sách với kế hoạch kinh tế; giữa kế hoạch ngân sách với chu kỳ kinh kế. Hiểu cách
khác, kế hoạch TCC được lập trong khuôn khổ ngắn hạn 1 năm và hoàn toàn chỉ chú trọng đến
khía cạnh tài chính chứ không bị chi phối bởi các yếu tố kinh tế - xã hội.
Nguyên tắc quan trọng nhất của tài chính cổ điển là phải thăng bằng thu chi. Nguyên tổng
thống Pháp, ông G. Doumergue, trong bài diễn văn đọc năm 1934 đã nói:" Người đàn bà nội trợ
đi chợ không được tiêu quá số tiền có trong túi. Nhà nước cũng trong tình trạng y hệt: không được
chi tiêu quá số thu". Điều này hàm ý: nhà nước chỉ được phép chi tiêu trong phạm vi số thu thuế
Tài chính công
8
Bộ môn Tài chính – Ngân hàng

dõi chi tiết và chặt chẽ các khoản chi tiêu công, tránh được sự phí phạm nguồn lực TCC để sao
Tài chính công
9
Bộ môn Tài chính – Ngân hàng
cho chi tiêu công của nhà nước được hợp pháp và có thể được tài trợ bằng những nguồn thu ổn
định.
1.3.2 Tài chính công hiện đại
TCC hiện đại phát triển gắn liền với bối cảnh kinh tế xã hội:
• Nền kinh tế thị trường vận hành theo cơ chế thị trường có sự can thiệp của nhà nước.
• Hệ thống tiền tệ không ổn định.
• Nền kinh tế phát triển theo xu hướng quốc tế hóa.
Trong bối cảnh đó, TCC hiện đại có những đặc trưng sau:
- Quy mô TCC có xu hướng ngày càng tăng so với GDP
Nếu như trước những năm 1914, tỷ lệ chi tiêu công ở hầu hết các nước tư bản là vào khoảng
10% so với GDP thì sau chiến tranh thế giới thứ 1 tỷ lệ này đã tăng nhanh. Ở Pháp, năm 1958 chi
tiêu công chiếm 33%GDP; Mỹ la 33%; Anh 32%,…
Sự gia tăng quy mô chi tiêu công làm cho chính phủ gặp nhiều khó khăn trong việc kiểm
soát thâm hụt ngân sách. Đây là lý do giải thích tại sao chính phủ phải đẩy mạnh chính sách phi
tập trung hoá tài chính giữa chính quyền trung ương và chính quyền địa phương nhằm giảm bớt
gánh nặng chi tiêu. Theo đó, quyền lực của chính quyền địa phương được lớn dần và có nhiều
quyền hơn trong quyết định ngân sách.
-Tính phi trung lập của TCC
Với những vấn đề kinh tế xã hội xảy ra sau cuộc chiến tranh thế giới thứ 1, nhà nước không
thể đứng ngoài các hoạt động kinh tế mà phải tham gia để khắc phục những khuyết tật của cơ chế
thị trường tự do cạnh tranh nhằm bằng phẳng hoá chu kỳ kinh tế, đảm bảo nền kinh tế phát triển
ổn định. Sự can thiệp của nhà nước được thực hiện thông qua hệ thống luật pháp và các công cụ
kinh tế.
Trong bối cảnh đó, TCC không những là công cụ để nhà nước huy động các nguồn lực của
xã hội để tài trợ cho nhu cầu chi tiêu của nhà nước mà còn là công cụ để nhà nước can thiệp vào
các hoạt động kinh tế xã hội.

TCC phản ánh tổng thể mối quan hệ kinh tế giữa nhà nước và xã hội trong quá trình phân
phối các nguồn lực tài chính. Bản chất kinh tế của TCC bắt nguồn từ sự quan tâm của chính phủ
đến quy mô chiếc bánh kinh tế. Hoạt động thu, chi của chính phủ phải hướng đến sao cho tối đa
hoá hiệu quả của nền kinh tế.
Xét về hiện tượng, TCC phản ánh hoạt động thu chi bằng tiền của nhà nước. Nhưng đằng
sau hiện tượng đó là ẩn dấu mâu thuẫn về lợi ích kinh tế giữa nhà nước với xã hội trong quan hệ
phân phối nguồn lực tài chính, biểu hiện là : mâu thuẫn giữa khả năng đóng góp nguồn lực tài
chính của xã hội với nhu cầu chi tiêu của nhà nước. Trong 1 nền kinh tế, nguồn lực tài chính luôn
có sự giới hạn nhất định về quy mô và khả năng tạo lập. Điều này có nghĩa là, khu vực tư cũng
Tài chính công
11
Bộ môn Tài chính – Ngân hàng
không có nhiều khả năng để cung cấp nguồn lực tài chính dồi dào cho nhà nước. Bản thân khu
vực này luôn cần có nguồn lực tài chính ở quy mô nhất định để trang trải cho các nhu cầu thường
xuyên và đầu tư. Vả lại, đây là những nhu cầu rất cần thiết để tạo ra sự tăng trưởng kinh tế. Chính
vì vậy, trong chính sách huy động nguồn lực của mình, nhà nước cần chú trọng sử dụng các công
cụ tài chính công ở chừng mực sao cho tạo lập nguồn lực tài chính với quy mô thích hợp trong sự
cân bằng về lợi ích kinh tế với khu vực tư để nhằm tạo ra động lực thúc đẩy kinh tế phát triển.
Nếu vì nhu cầu chi tiêu công ngày càng tăng, nhà nước lại thực hiện chính sách tập trung cao độ
nguồn lực tài chính của xã hội, thì điều này không những làm triệt tiêu động lực kinh tế của khu
vực tư mà còn tăng thêm gánh nặng cho xã hội. Cũng cần thấy rằng, việc khu vực tư đóng nộp
thuế cho nhà nước thể hiện 1 sự hy sinh 1 phần thu nhập của họ trong tiêu dùng hay đầu tư. Vì
vậy, chi tiêu công và sự can thiệp của nhà nước vào nền kinh tế cần phải tạo ra những lợi ích nhất
định hay ít ra là phải đủ bù đắp lại sự hy sinh của khu vực này.

Bản chất chính trị
Nguồn gốc xa xưa của TCC đã gắn bó chặt chẽ với quyền lực chính trị của nhà nước. Thực
tiễn hệ thống chính trị là yếu tố cơ bản và chi phối toàn bộ hoạt động của TCC. TCC không thể
vận hành bên ngoài khuôn khổ chính trị, vì không có chính trị thì không thể nào thoã mãn được
các mục tiêu có tính xã hội. Nói khác đi, với quyền lực chính trị của mình giúp cho chính phủ có

chỉ có thể tăng khi GDP tăng, ngược lại nếu GDP không tăng thuế tăng sẽ làm giảm tăng trưởng,
tác động làm lấn áp đầu tư tư nhân.
1.4.2.2 Chức năng phân bổ nguồn lực tài chính
Chức năng phân bổ nguồn lực của TCC thể hiện qua việc sắp xếp, lựa chọn và đánh đổi giữa
các nhu cầu chi tiêu công của nhà nước trong sự giới hạn của nguồn lực TCC để hướng vào thực
hiện theo những ưu tiên chiến lược phát triển kinh tế- xã hội đã được hoạch định.
Về mặt kỹ thuật, chức năng phân bổ nguồn lực của TCC thể hiện qua việc lập kế hoạch và
chiến lược chi tiêu. Kế hoạch này gồm 2 phần:
+ Quyết định phân bổ cơ bản ( mục tiêu cơ bản).
+ Xác lập các khoản mục theo thứ tự ưu tiên trong sự so sánh với các nguồn lực sẵn có.
Tài chính công
13
Bộ môn Tài chính – Ngân hàng
1.4.2.3 Chức năng tái phân phối thu nhập
Chức năng này của TCC được hiểu như sau:
Tái phân phối = phân phối lại thông qua:
(i) thu thuế từ các chủ thể trong xã hội;
(ii) thực hiện phân bổ và chuyển giao nguồn thu này trở lại cho xã hội.
Cơ chế chuyển giao:
- Cung cấp hàng hoá, dịch vụ công cho mọi đối tượng trong xã hội. Cơ chế này không phân
biệt đối tượng là có nộp hay không nộp thuế mà mọi đối tượng trong xã hội đều có cơ hội như
nhau trong việc thụ hưởng những lợi ích từ hàng hoá công do nhà nước cung cấp.
- Hỗ trợ để ổn định giá cả của những mặt hàng thiết yếu trong đời sống kinh tế - xã hội.
- Hỗ trợ trực tiếp cho 1 số đối tượng được sàng lọc qua các chương trình chi tiêu. Ví dụ: các
chương trình tín dụng chỉ định của nhà nước, khám chữa bệnh miễn phí cho trẻ em,…
Tài chính công
Nguồn lực tài
chính công
Nguồn lực tài
chính của khu

Tài chính công
Nhóm người có thu nhập
trung bình
Nhóm người có thu nhập thấp và
nghèo
Thu thuế
Quỹ ngân
sách
Nhóm người có thu nhập cao
15
Tái phân
phối thu
nhập
thông qua
các khoản
chi
chuyển
giao
Bộ môn Tài chính – Ngân hàng
- Cung cấp thông tin cho người quản lý để đưa ra các giải pháp điều chỉnh hoạt động của
TCC.
- Đo lường hành vi phản ứng của thị trường đối với các chính sách can thiệp và tái phân phối
của chính phủ.
Chú ý: - Mọi thứ đều phải quy ra tiền.
- Người chi tiêu và người giám sát là 2 người khác nhau.
- Các chương trình chi tiêu của chính phủ đều phải có thời gian.
Kết luận: Việc thực hiện các chức năng cơ bản của TCC giúp cho cơ chế quản lý tài chính
đáp ứng đúng mục tiêu và nhiệm vụ của Chính phủ đối với nền kinh tế. Đảm bảo được cơ chế
minh bạch, chống được sự lãng phí và tham nhũng.
Tài chính công

17
Bộ môn Tài chính – Ngân hàng
Giả sử trong 1 xã hội gồm có 2 hàng hoá X (lương thực) và Y (quần áo) thì người tiêu dùng
sẽ tiêu dùng 2 hàng hóa X và Y. Họ sẽ cho điểm các giỏ hàng hóa gồm X, Y khác nhau phụ thuộc
vào mức độ thỏa mãn mà họ cảm nhận được (điểm càng lớn thì độ thỏa mãn càng cao). Lúc này,
hàm thỏa dụng của người tiêu dùng sẽ có dạng:
TU = f ( X, Y )
( Hàm thoả dụng (TU): là 1 hàm số toán học phản ánh tập hợp sở thích của cá nhân; cá
nhân thích nhiều hơn thích ít: X, Y tăng thì TU tăng)
Hàm số này có đặc điểm sau: giả sử đây là hàm liên tục thì có đạo hàm riêng
dTU/dX > 0 và dTU/dY > 0
* Nếu, tất cả các giá trị X và Y làm cho hàm TU const ta có đường bàng quan. Hay đường
bàng quan ( IC: indifference curve ) phản ánh tập hợp tất cả các nhóm tiêu dùng hàng hoá mà cá
nhân có cùng mức thoả dụng. ( bàng quan: sao cũng được)
Đường bàng quan có các tính chất sau:
+ Đây là các đường dốc xuống
+ Lồi về góc toạ độ
+ Đường bàng quan càng xa gốc toạ độ thì mức thoả dụng đạt được càng lớn.
+ Các đường bàng quan không cắt nhau
* Thoả dụng biên: (MU: marginal utility) là mức độ thoả mãn tăng thêm khi người ta tăng
sử dụng 1 đơn vị hàng hoá.
MU = TU/Q
MU
X
= TU/X = dTU/dX > 0 ; MU
Y
= TU/Y = dTU/dY > 0.
Tuy nhiên, khi tiêu dùng càng nhiều một loại sản phẩm nào đó thì thoả dụng biên của sản
phẩm về sau sẽ nhỏ hơn thoả dụng biên của các sản phẩm trước. Điều này là vì nhu cầu của con
người đã được thoả mãn 1 phần do vậy mức độ thoả mãn thêm sẽ không còn như lúc đầu. Đây

Y
TU/MU
X

tgα =
- MU
X
MU
Y
Đặt - MU
X
/ MU
Y
là tỷ lệ thay thế biên (MRS)
Về mặt đại số thì độ dốc của đường bàng quan chính là tỷ lệ thay thế biên giữa 2 hàng hoá,
đây chính là tỷ lệ đánh đổi giữa 2 hàng hóa trong điều kiện duy trì mức thoả dụng không đổi.
* Giới hạn ngân sách
Giả định: 1, TU = f (X,Y )  max
2, Người tiêu dùng đó có thu nhập là I đồng.
Giá cả của hàng hoá X là P
X
và giá cả của hàng hoá Y là P
Y
.
Ông ta dùng hết thu nhập của mình chi tiêu cho hàng hoá X và Y.
Ta có: I = X. P
X
+ Y. P
Y
(Phương trình của đường ngân sách)
O I/P
X
X
* Kết hợp giữa đường bàng quan và đường ngân sách
Khi kết hợp giữa đường bàng quan và đường giới hạn ngân sách trên 1 hệ trục toạ độ sẽ hình
thành nên cơ chế lựa chọn sở thích trong điều kiện nguồn lực bị giới hạn. Nguồn lực là có hạn nên
câu hỏi đặt ra là : lựa chọn nhóm hàng hoá nào là tối ưu hoá mức thoả dụng? Sở thích nói lên cái
gì chúng ta muốn, còn giới hạn ngân sách nói lên cái mà người tiêu dùng thực tế có thể mua.
Y
M
IC
3

IC
2 N IC
1

O
X
Trường hợp 1: đường bàng quan cắt đường ngân sách tại hai điểm. Với thu nhập cho trước
người tiêu dùng có khả năng đạt được mức thoả dụng này, tuy nhiên đây là trường hợp người tiêu
dùng sử dụng thu nhập chưa hiệu quả bởi vẫn có khả năng đạt được IC
2
.
Trường hợp 3: đường bàng quan và đường ngân sách không có điểm chung. Trường hợp này

1
lớn

hơn độ dốc của đường ngân sách. MRS lớn hơn tỷ
lệ giá cả. Hay nói cách khác, mức thoả dụng biên của hàng hoá X so với hàng hoá Y cao hơn tỷ lệ
giá cả của 2 loại hàng hoá X so với hàng hoá Y. Điều này có nghĩa là cá nhân đã từ bỏ Y để đổi
lấy X nhiều hơn mức mà thị trường yêu cầu. Điểm N, ngược lại cá nhân đã từ bỏ Y để đổi lấy X ít
hơn mức thị trường yêu cầu.  không hiệu quả.
Ứng dụng vào bài tập: I = X.P
X
+ Y.P
Y


X, Y ? (Đây là phương án hiệu quả)
MU
X
/ P
X
= MU
Y
/P
Y
* Tác động của thu nhập.
Thu nhập tăng (I tăng)  I/ P
X
và I/P
Y
tăng  đường ngân sách dịch chuyển song song ra xa
gốc toạ độ, độ dốc không đổi. Người tiêu dùng có cơ hội đạt được điểm tiếp xúc với đường bàng

TU
1
TU
2
A B
O Hàng xa xỉ
Lúc này: Khu vực công (hay Chính phủ ) sẽ điều chỉnh sao cho làm cho giá các loại hàng xa
xỉ giảm xuống. Theo cơ chế tác động của giá cả thì người tiêu dùng sẽ có cơ hội đạt được độ thoả
dụng lớn hơn (điểm B: điểm tiếp xúc giữa đường bàng quan TU
2
và đường ngân sách mới), người
tiêu dùng có thể sử dụng nhiều hàng xa xỉ hơn trong cuộc sống của mình.
2.2 Các định lý về hiệu quả xã hội của kinh tế học phúc lợi
2.2.1 Hiệu quả Pareto (Wilfredo Pareto (1848-1923) là một nhà toán học người Ý)
Hiệu quả và công bằng là 2 mặt thuộc đối tượng nghiên cứu của kinh tế học phúc lợi và là
tiêu chí chuẩn tắc.
Ở đây chúng ta phân biệt 2 thuật ngữ: thực chứng và chuẩn tắc.
+ Thực chứng hiểu nôm na là kiểm chứng các vấn đề lý luận vào thực tiễn. Ví dụ: Dự án cải
tạo 1 con đường đất nâng cấp thành đường nhựa thì cư dân trong vùng sẽ được lợi như thế nào khi
thời gian và chi phí lưu thông giảm đi. Tất cả các giả thuyết đều có thể kiểm định lại bằng thực
tiễn.
+ Chuẩn tắc là gì? tiêu chí được đưa ra dựa trên nhận định chủ quan cơ bản về điều gì đáng
có hoặc cần làm để đạt được kết quả mong muốn, ví dụ: với dự án mở đường trên thì liệu có còn
Tài chính công
22
Bộ môn Tài chính – Ngân hàng
phương án nào khác có hiệu quả hơn hay không). Mục đích trọng tâm của kinh tế học phúc lợi là
đưa ra 1 khuôn khổ đánh giá các nhận định mang tính chuẩn tắc về phúc lợi kinh tế. Thực tế cho
thấy, không có 1 chính sách nào được coi là hoàn hảo. Điều quan trọng là người hoạch định chính
sách cần phải biết lựa chọn những chuẩn mực rõ ràng để làm cơ sở cho việc ra quyết định chính

O’
A
3
z E
A
1
A
2
Quần áo/ năm
v w
x E
1
E
2
y E
3
O A Lương thực/ năm s
Do nhu cầu của mỗi người là khác nhau nên người A và người E có một tập hợp các đường
đẳng dụng biểu thị những sở thích của họ đối với lương thực và quần áo. Hình trên đây thể hiện
tập hợp những đường đẳng dụng của cả 2 người cùng đặt trong hộp Edgeworth. Tập hợp các
đường đẳng dụng của A gọi là A
i
; tập hợp các đường đẳng dụng của E là E
j
. Các đường đẳng
dụng có chỉ số càng lớn biểu thị độ thoả dụng càng cao. Độ thoả dụng của người A trên đường A
3
cao hơn đường A
2
, A

tổn hại đến lợi ích của người E? Dễ dàng nhận thấy, nếu như người A di chuyển đường đẳng dụng
thêm nữa theo hướng ra xa gốc toạ độ (đông bắc) mà vẫn còn cắt đường E
g
thì điều này có thể xảy
ra. Cứ lập lại tiến trình này cho đến khi đường đẳng dụng của người A tiếp cận đường đẳng dụng
E
g
của người E tại điểm p. Cách này sẽ đặt cho người A trên đường đẳng dụng cao hơn và không
Tài chính công
24
Bộ môn Tài chính – Ngân hàng
di chuyển người E xuống đường đẳng dụng thấp hơn. Điểm p chính là điểm đạt hiệu quả Pareto.
Đó là điểm duy nhất để làm cho một người nào đó trở nên có lợi hơn nhưng không làm cho người
khác bị thiệt đi. Cơ chế tái phân phối nguồn lực miêu tả sự dịch chuyển các điểm phân phối và
theo đó tạo ra sự cải thiện hiệu quả Pareto, cụ thể từ g →h→p. Cơ chế này được gọi là sự cải
thiện Pareto trong phân phối.
A
h
O’
E
g
Phân phối đạt hiệu
quần áo/ p quả Pareto
năm A
p
A
g
O
lương thực/ năm
- Đường liên kết

A
g
O O
Lương thực/ năm Lương thực/ năm
Ở trên, chúng ta chỉ xem xét những sự di chuyển đường đẳng dụng sao cho một người nào
đó trở nên tốt hơn nhưng vẫn giữ nguyên mức thoả dụng của người khác. Còn trong hình trên (bên
Tài chính công
25

Trích đoạn Quan điểm về lý thuyết thuế chuẩn tắc Những tiêu chuẩn của một hệ thống thuế tốt Thuế gián thu Thuế thu nhập công ty (pháp nhân) Lợi nhuận = doanh thu chi phí Tác động của thuế đến đường giới hạn ngân sách và tiêu dùng
Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status