.
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
ĐỀ TÀI:
" MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM TẠO HỨNG THÚ HỌC VĂN CHO
HỌC SINH THCS"
1
.
A. ĐẶT VẤN ĐỀ
I. CƠ SỞ KHOA HỌC.
1. Cơ sở lí luận.
Người giáo viên được vinh danh là những “kĩ sư tâm hồn”, nghĩa là những người xây
dựng, làm giàu, làm mới và làm đẹp cho tâm hồn người học. Để đảm nhận được vai trò kĩ
sư ấy, thiết nghĩ người giáo viên phải biết vận dụng một cách sáng tạo, linh hoạt và phù
hợp các phương pháp dạy học, đem lại hiệu quả giáo dục cao nhất. Thời đại càng phát
triển, đòi hỏi càng phải đổi mới phương pháp dạy học, mà mục tiêu luôn luôn là hướng
vào người học, phát huy vai trò là “trung tâm” của các em, phát huy tính chủ động, tích
cực, sáng tạo và đem lại hứng thú thực sự cho các em trong mỗi giờ học. Luật Giáo dục,
Điều 28.2 đã ghi: “Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tích tích cực, tự giác,
chủ động, sáng tạo của học sinh; phù hợp với đặc điểm từng lớp học, môn học; bồi dưỡng
phương pháp tự học, khả năng làm việc theo nhóm, rèn kỹ năng vận dụng kiến thức vào
thực tiễn, tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh”. Như
vậy, hứng thú học tập của học sinh chính là đích đến đầu tiên của việc đổi mới phương
pháp dạy học. Có khơi được hứng thú học tập ở học sinh thì người giáo viên mới có thể
mở được cánh cửa tâm hồn để làm nhiệm vụ là một “kĩ sư” của mình.
Vậy thế nào là hứng thú?
Theo Từ điển Tiếng Việt – Nhà xuất bản Đà Nẵng, năm 2000, “ hứng thú là sự ham
thích”. Nói một cách rõ hơn thì hứng thú chính là sự “nổi lên, dấy lên, bộc lộ ra” cảm xúc
thích thú, phấn khích, say mê trước một đối tượng cụ thể nào đó. Hứng thú là một trạng
thái tinh thần khiến cho con người có thể giải toả được sự căng thẳng, mệt mỏi, giúp tập
trung vào công việc và trở thành động lực để làm việc.
Trong hoạt động dạy học, người giáo viên chỉ đóng vai trò tổ chức, hướng dẫn, điều
chương đòi hỏi khai thác trong tính chỉnh thể, tính hệ thống trong khi các em còn nặng về
tư duy trực quan, cảm tính. Và vì khó nên học sinh không dễ thấy hứng thú.
Đó thực sự là thử thách với người dạy Văn.
2. Cơ sở thực tiễn.
Xã hội ngày càng phát triển thì thị hiếu thẩm mĩ của con người cũng như việc lựa
chọn môn học yêu thích của học sinh ngày càng thay đổi. Sự phát triển của nền kinh tế thị
trường tạo ra lối sống thực dụng cho con người. Lối sống đó ảnh hưởng chi phối đến cả
việc học tập và lựa chọn môn học để chọn nghề của học sinh. Thực tế cho thấy, hứng thú
học Ngữ Văn nói chung và học Văn bản nói riêng của học sinh ngày một ít đi, môn Ngữ
Văn đang mất dần vị trí của mình. Mặc dù nó vẫn là môn học chính, nhưng học sinh có
thực sự yêu thích và lựa chọn nó cho hướng đi của mình hay không? Một thực tế ai cũng
phải công nhận là hiện nay, trong công tác bồi dưỡng học sinh giỏi, giáo viên rất bối rối,
khó khăn trong việc tạo đội tuyển học sinh thi Ngữ Văn. Vì đó là lựa chọn cuối cùng của
các em, khi các môn Toán, Tiếng Anh đã đủ số lượng. Số lượng hồ sơ khối C thi tuyển
sinh vào các trường Đại học, Cao đẳng, Trung cấp trong cả nước cũng ngày một giảm.
Với học sinh THCS việc chọn nghề, chọn khối đã bắt đầu định hình nên đó là lí do
các em “xa dần” với môn Văn. Bên cạnh đó, mặc dù là môn học chính nhưng với các em,
3
.
việc học Văn chưa xuất phát từ sự say mê, hứng thú thực sự. Các em chỉ học mang tính
thụ động, đối phó. Vì vậy mà những kiến thức nhận được từ bài học Văn ở các em chỉ hời
hợt, ít đọng, chóng quên. Như lời của Tiến sĩ Văn học Trịnh Thu Tuyết – giáo viên dạy
Văn ở Hà Nội đã nói: “Những năm gần đây, một trong những vấn đề khiến nhiều giáo
viên văn trăn trở, bối rối, thậm chí bất lực buông xuôi, đó là tình trạng học trò chán học
văn, chán văn chương, rút gọn việc học văn bằng các hoạt động nhàm chán, miễn cưỡng
với: nghe, ghi chép, trả bài - trong đó hoạt động nghe không còn hứng thú, hoạt động ghi
không có sáng tạo và việc trả bài phần nào đúng với ý nghĩa là trả lại bài thầy cô đã giảng
cho thầy cô, trả càng đủ, càng chính xác càng tốt!”.
Là một giáo viên dạy Văn, trước thực tế đó, bản thân tôi cũng cảm thấy chua xót và
đầy trăn trở. Liệu có lúc nào, người giáo viên dạy Văn lại trở thành những “ông đồ” của
Thực tế cho thấy học xong một giờ Đọc – Hiểu văn bản, học sinh thu nhận được cái
mà các em cần quá ít ỏi, thậm chí cá biệt có em không thu hoạch được gì. Chính điều đó
dẫn đến kiến thức thực tế về văn học của các em còn nghèo nàn, dùng từ ngữ trong giao
tiếp một cách thiếu chính xác, đặc biệt trong các bài Tập làm văn thường mắc lỗi chính
tả, câu văn viết chưa đúng ngữ pháp, cách diễn đạt vụng về, sáo mòn, lệ thuộc vào sách
tham khảo, nhất là các em chưa biết cách vận dụng kiến thức đã học vào bài văn. Nguyên
nhân dẫn đến tình trạng đó là do việc giảm hứng thú hoặc không cảm thấy hứng thú trong
giờ học Văn của các em. Qua thực tiễn điều tra một lần nữa khẳng định điều đó.
Năm học 2010 – 2011, tôi được phân công giảng dạy Ngữ Văn các lớp 7B, 7D. Trên
cơ sở đã bắt đầu nghiên cứu về vấn đề hứng thú học Văn của học sinh THCS từ năm
2009, nên tôi tiến hành thực nghiệm điều tra tại hai lớp 7B, 7D và kết quả thu được như
sau:
Lớp Số HS
được khảo
sát
Học sinh có hứng thú trong
giờ Đọc – Hiểu văn bản
Học sinh có điểm trung
bình học kì I loại Khá -
Giỏi
Số lượng Tỉ lệ Số lượng Tỉ lệ
7B 32 15 46,9% 9 28,1%
7D 34 16 47,1% 11 32,4%
Năm học 2011 – 2012, tôi được phân công giảng dạy các lớp 8A, 8B, 8C. Tiếp tục
điều tra, thu thập, tôi lại được kết quả như sau:
Lớp Số HS
được khảo
sát
Học sinh có hứng thú trong
thức chủ động tìm đến với tác phẩm văn chương để sống cùng thế giới nghệ thuật của
người nghệ sĩ. Điều này không phải bất kì đối tượng học sinh nào cũng có được. Bên
cạnh đó, các em lại quen với lối học thụ động, thích sao chép (sao chép từ lời giáo viên
đến tài liệu tham khảo). Vì vậy, đa phần các em đến với giờ học Văn với một tâm thế
miễn cưỡng, dựa dẫm, ỉ lại cho một số bạn học giỏi Văn và ít thấy hứng thú trong giờ
học.
Tuy nhiên, nguyên nhân chính vẫn là ở phía người dạy, người có nhiệm vụ làm
người chỉ đường, hướng dẫn cho học sinh đến với các tác phẩm văn chương nghệ thuật.
Người giáo viên đã thực sự đầu tư và tâm huyết trong mỗi giờ dạy Văn hay chưa? Họ đã
thực sự “yêu Văn” để duy trì và tiếp lửa cho học sinh trong suốt chặng đường dạy học
6
.
của mình hay chưa? Hay vì đặc thù của môn học và tâm thế của học sinh mà người dạy
chỉ chăm chăm vào việc dạy làm sao cho hết, cho xong, tránh tình trạng giáo án “cháy”,
“lụt”?
Sau khi điều tra thực nghiệm và tìm hiểu nguyên nhân, bản thân tôi xin phép được
đưa ra một số giải pháp nhằm tạo hứng thú học Văn cho học sinh THCS, góp phần giúp
các em gần Văn, yêu Văn và học Văn được hứng thú, có kết quả hơn.
II. MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM TẠO HỨNG THÚ HỌC VĂN CHO HỌC SINH
THCS.
1. Sử dụng kĩ năng minh hoạ trong giảng dạy tác phẩm thơ.
Để tăng tính trực quan sinh động cho giờ dạy, khơi gợi hứng thú ở học sinh, có rất
nhiều phương pháp như sử dụng tranh ảnh, ứng dụng công nghệ thông tin, đọc diễn cảm,
kể chuyện, đóng vai Ở đây tôi xin được trình bày thêm một giải pháp đó là sử dụng kĩ
năng minh hoạ trong giảng dạy tác phẩm thơ.
Kĩ năng minh hoạ là những thao tác, kĩ thuật, khả năng được người giáo viên vận dụng
vào để minh hoạ cho quá trình tổ chức, hướng dẫn hoạt động dạy học như vẽ, hát,
diễn Hứng thú học tập của học sinh phần lớn có được từ những điều mang tính trực
quan sinh động. Vì vậy việc vận dụng khéo léo những kĩ năng minh hoạ vào dạy học Văn,
đặc biệt là trong dạy học thơ trữ tình sẽ đem lại khả năng gây hứng thú lớn.
Ngữ Văn 9, tập 1), đến hai câu thơ:
“Cỏ non xanh tận chân trời
Cành lê trắng điểm một vài bông hoa”
giáo viên có thể đặt câu hỏi gợi tìm cho HS:
? Cảnh thiên nhiên được miêu tả qua những hình ảnh nào?
- HS: trả lời.
GV vừa đọc hai câu thơ vừa vẽ minh hoạ một đường thẳng chân trời, một nửa dùng phấn
màu xanh vẽ nền của cỏ non. Trên cái nền đó, vẽ minh hoạ một nhành cây điểm xuyết vài
bông hoa trắng. Sau đó đặt câu hỏi:
? Với việc sử dụng các hình ảnh “cỏ non”, “tận chân trời”, “điểm”, “hoa” và việc phối
màu “xanh – trắng”, tác giả đã dựng lên bức tranh thiên nhiên mùa xuân ntn?
- HS: trả lời.
- GV bình giảng: Cảnh thiên nhiên hiện lên thật trong trẻo, tươi mới và đầy sức sống. Cỏ
non xanh trải dài đến tận chân trời, hoa đua nở. Không gian cao rộng, thoáng đãng. Màu
sắc “xanh – trắng” phối hợp càng tạo vẻ tinh khôi, trong trẻo của trời xuân.
Khi dạy văn bản Đoàn thuyền đánh cá của Huy Cận (Ngữ Văn 9, tập 1), khai thác
đến cảnh đoàn thuyền ra khơi với hình ảnh:
“Thuyền ta lái gió với buồm trăng
8
.
Lướt giữa mây cao với biển bằng”
giáo viên đặt câu hỏi:
? Cảnh thiên nhiên được miêu tả qua những hình ảnh nào?
- HS: gió, trăng, mây cao, biển bằng.
? Những hình ảnh đó gợi tả không gian và cảnh sắc ra sao?
- HS: không gian cao rộng, cảnh sắc nên thơ.
Lúc này, giáo viên có thể vừa đọc hai câu thơ vừa vẽ một đường thẳng minh hoạ
cho ranh giới giữa trời và biển. Trên trời vẽ áng mây cao, vẽ vầng trăng bạc; dưới nước
vẽ làn sóng lặng và con thuyền nhẹ lướt ra khơi. GV kết hợp lời bình: “Trong không gian
trời biển mênh mông, giữa khung cảnh có gió, có trăng, có mây cao, sóng lặng, con
trường thiên nhiên?
- HS: trả lời.
- GV nhận xét, kết luận: môi trường thiên nhiên có ảnh hưởng lớn đến tâm hồn, trạng thái
tình cảm của con người. Môi trường thiên nhiên trong lành, thanh tĩnh khiến con người
được thư thái, nhẹ nhõm. Môi trường thiên nhiên hoang sơ, vắng lặng lại gây cho con
người cảm giác lạnh lẽo, cô đơn. Bởi vậy, cần giữ gìn một môi trường trong lành, tươi
đẹp để con người luôn có được sự sảng khoái, thoải mái cho tinh thần.
Dạy văn bản Bài thơ về tiểu đội xe không kính của nhà thơ Phạm Tiến Duật (Ngữ
Văn 9, tập 1), sau khi cho học sinh tìm hiểu về hiện thực chiến tranh khốc liệt do đế quốc
Mĩ gây ra, giáo viên có thể nêu câu hỏi:
? Dưới sự tàn phá ác liệt đó, môi trường thiên nhiên sẽ ntn?
- HS: bị huỷ hoại nghiêm trọng.
? Tích hợp với “Bài ca Côn Sơn” của Nguyễn Trãi ở chương trình Ngữ Văn 7, tập 1, em
thấy mối quan hệ giữa môi trường thiên nhiên với con người ở hai bài thơ có gì khác
nhau?
- HS: trả lời.
- GV rút ra nhận xét: Ở bài “Bài ca Côn Sơn”, môi trường thiên nhiên trong lành, thanh
tĩnh giúp con người thư thái. Còn ở “Bài thơ về tiểu đội xe không kính” lại cho thấy con
người (bọn đế quốc) quay trở lại huỷ diệt môi trường thiên nhiên, tàn phá chính sự trong
lành, thanh tĩnh đó.
Giải pháp này giúp học sinh không những thấy văn chương gần gũi với đời sống mà
còn nhận ra mối liên hệ giữa các tác phẩm, từ đó có hứng thú hơn khi phát hiện ra sự
“giống”, “khác” giữa các tác phẩm được tích hợp đối chiếu.
3. Giải pháp đặt mục tiêu để giải quyết câu hỏi “có vấn đề” trong giảng dạy tác
phẩm tự sự.
Câu hỏi “có vấn đề” là dạng câu hỏi đòi hỏi phát huy tính tư duy sáng tạo của học
sinh. Sử dụng câu hỏi “có vấn đề” trong tổ chức các hoạt động dạy học nói chung cũng
10
.
như dạy học tiết Đọc – Hiểu nói riêng có ý nghĩa rất quan trọng. Vì nó giúp mở rộng,
Kinh nghiệm cho thấy, khi sử dụng giải pháp này trong quá trình dạy học, giáo viên
đã khơi gợi được hứng thú và tính tích cực chủ động của học sinh. Nhưng một điều cần
lưu ý là người giáo viên nên để học sinh phát biểu hết ý kiến của mình, không phải vì sợ
11
.
hết giờ mà chỉ gọi một vài em đại diện còn nhiều em khác giơ tay nhưng giáo viên lại
không cho phát biểu. Vì như thế sẽ làm cho các em có suy nghĩ “giáo viên không công
bằng”. Tuy nhiên, giáo viên cần linh hoạt, nếu thấy nhiều ý kiến trùng hợp thì nên gợi ý:
“Có ai có ý kiến khác ngoài những ý kiến đã phát biểu không”. Đặc biệt nếu thấy học
sinh gặp khó khăn, giáo viên nên gợi ý dần để học sinh tiếp cận gần hơn với đáp án và đạt
được mục tiêu đặt ra. Điều đó sẽ giúp học sinh tự tin, phấn khích và hiểu rằng: “nếu cố
gắng thì sẽ đạt được điều mình muốn”.
4. Giải pháp hướng dẫn học sinh liên hệ, xử lí tình huống trong dạy học tác phẩm tự
sự.
Tác phẩm tự sự có rất nhiều tình huống xảy ra liên tiếp nhau, trong đó có những tình
huống đóng vai trò rất quan trọng trong việc “thắt nút” và “mở nút” cho câu chuyện. Việc
cho học sinh liên hệ bản thân để tự xử lí tình huống trong tác phẩm tự sự sẽ là một cách
gây hứng thú lớn cho học sinh trong dạy học Đọc – Hiểu văn bản. Giải pháp này giúp học
sinh được hoá thân vào nhân vật để đặt mình trước tình huống cần xử lí, đồng thời học
sinh có thể tự do bày tỏ ý kiến, quan điểm, lập trường của mình. Và trên cơ sở đó, học
sinh dễ dàng đối chiếu cách xử lí tình huống của nhân vật trong tác phẩm với cách xử lí
của chính bản thân mình để có thể nhận ra đâu là điều nên làm, vì sao nhân vật lại xử lí
tình huống như thế và ý nghĩa của việc xây dựng tình huống đó.
Ví dụ: khi dạy bài Cô bé bán diêm (Ngữ Văn 8, tập 1) giáo viên có thể cho học sinh
liên hệ bản thân, xử lí tình huống thông qua câu hỏi sau:
? Nếu em là người cha của em bé bán diêm hay một người khách qua đường sống trong
xã hội thời đó, chứng kiến cảnh em bé cô đơn, đói rét, không ai quan tâm trong đêm giao
thừa, em sẽ làm gì?
Chắc chắn sẽ có nhiều ý kiến khác nhau, nhưng phần lớn vẫn nghiêng về cách giải
quyết tích cực như: nếu là người cha, em sẽ đi tìm bằng được và đưa cô bé về nhà, chăm
? Nếu là Trương Sinh, khi nghe bé Đản nói về người đàn ông “đêm nào cũng đến, mẹ
Đản đi cũng đi, mẹ Đản ngồi cũng ngồi, nhưng chẳng bao giờ bế Đản cả”, em sẽ làm gì?
(Văn bản Chuyện người con gái Nam Xương, Ngữ Văn 9 - tập 1).
? Nếu là nhân vật Nhĩ, khi muốn con trai sang bên kia bờ sông để thực hiện tâm nguyện
của mình, em sẽ nói với Tuấn những gì?
(Văn bản Bến quê của Nguyễn Minh Châu, Ngữ Văn 9 – tập 2).
Việc liên hệ xử lí tình huống giúp học sinh thâm nhập một cách chủ động vào tác
phẩm, gắn tác phẩm với thực tế và với chính bản thân mình, từ đó đem lại hứng thú cho
học sinh. Tuy nhiên, giáo viên không nên sa đà để trở thành một cuộc tranh luận giữa các
cách xử lí tình huống của học sinh. Giáo viên cần khéo léo tổ chức để những cách xử lí
đó chỉ là ví dụ, giả thiết, còn nội dung chính vẫn là tình huống với cách xử lí của nhân vật
trong tác phẩm.
5. Giải pháp đa dạng hoá hình thức tổ chức dạy học kiểu văn bản thuyết minh hoặc
kiểu văn bản nghị luận trong loại văn bản nhật dụng.
13
.
Văn bản nhật dụng là loại văn bản có nội dung đề cập đến các vấn đề nóng bỏng, bức
thiết, có ý nghĩa đối với cuộc sống con người, đang đặt ra trước mắt và đòi hỏi được giải
quyết. Vì thế, văn bản nhật dụng mang tính cập nhật, sát với đời sống thực tế, bắt kịp với
những vấn đề đang đặt ra trong cuộc sống con người. Dạy văn bản nhật dụng chính là
muốn học sinh không xa rời thực tế, biết gắn văn chương với hiện thực cuộc sống thường
nhật. Tuy nhiên, vì tính chất nội dung của nó mà các văn bản nhật dụng thuộc kiểu văn
bản thuyết minh và nghị luận sẽ ít đi tính văn chương, nghệ thuật. Điều đó dễ gây cho
học sinh cảm giác nhàm chán, tẻ nhạt, khô khan khi đến với việc tìm hiểu loại văn bản
này. Chính vì vậy, trong quá trình dạy, người giáo viên cần chú ý và khéo léo tổ chức các
hoạt động để tránh cho học sinh tình trạng mất hứng thú. Ở đây, xin được đưa ra một giải
pháp nhằm tạo hứng thú cho học sinh khi học tiết Đọc – Hiểu văn bản nhật dụng thuộc
kiểu văn bản thuyết minh hoặc nghị luận, đó là: đa dạng hoá các hình thức tổ chức dạy
học.
Thông thường, chúng ta vẫn tổ chức dạy các tiết văn bản nhật dụng thuộc kiểu thuyết
tượng học sinh khá và giỏi. Bốn học sinh tham gia phần “hùng biện” sẽ thuộc đối tượng
học sinh học tốt Văn nhất lớp).
Để thực hiện tốt hình thức tổ chức dạy học này, đòi hỏi khâu chuẩn bị phải thật kĩ
càng. Giáo viên phải chuẩn bị được hệ thống câu hỏi phù hợp, các phương tiện dạy học
có liên quan, chuẩn bị về luật chơi, cách chơi, cách tính điểm, giao nhiệm vụ cụ thể và ra
nội dung đề tài cần hùng biện cho học sinh .Về phía học sinh, cần đọc thật kĩ văn bản, tìm
hiểu về nội dung của nó, cử đại diện tham gia đội thi, chuẩn bị phần hùng biện cùng với
người sẽ hùng biện, sắp xếp bàn ghế lấy địa điểm chuẩn bị cho cuộc thi.
Vào tiết học, sau khâu ổn định tổ chức, giáo viên có thể bắt đầu cuộc thi với vòng 1
của phần “trả lời nhanh”. Luật chơi là sẽ có 5 câu hỏi có nội dung khai thác kiến thức văn
bản. Hai đội tham gia (mỗi đội gồm 4 – 5 em) sẽ giành quyền trả lời trước bằng cách
người đội trưởng phất cờ ra hiệu. Mỗi câu trả lời đúng, đội sẽ được 10 điểm. Nội dung
của 5 câu hỏi của vòng 1 phần “trả lời nhanh” sẽ tập trung khai thác kiến thức phần “Đọc
– Tìm hiểu chung” của văn bản. Sau khi hai đội đã sẵn sàng, giáo viên sẽ đọc qua văn
bản một lần để học sinh liên tưởng lại. Sau đó là phần thi, có thể với các câu hỏi như:
? Tác giả của văn bản là ai?
? Văn bản ra đời trong hoàn cảnh nào?
? Thể loại văn học của văn bản là gì?
? Văn bản thuộc kiểu văn bản nào?
? Văn bản giới thiệu (hoặc bàn luận) về vấn đề gì?
Cũng có thể ra câu hỏi giải nghĩa một từ khó nào đó trong văn bản Chú ý, sau mỗi
câu trả lời chưa đầy đủ, giáo viên cần bổ sung, điều chỉnh, kết luận để học sinh khắc sâu
kiến thức.
Kết thúc vòng 1, sẽ là vòng 2 của phần “trả lời nhanh” với sự tham gia của hai đội thi
mới. Nội dung các câu hỏi hướng vào khai thác nội dung phần “Tìm hiểu chi tiết” của
văn bản. Phần thi này sẽ trải qua 10 câu hỏi (mỗi câu đúng đạt 5 điểm). Nội dung các câu
hỏi giống như những câu hỏi chúng ta vẫn thực hiện ở hình thức dạy học thông thường
(tất nhiên có cô đọng, trọng tâm hơn).
15
.
16
.
Tôi đã áp dụng các giải pháp trên vào giờ học Đọc – Hiểu văn bản trong học kì II
năm học 2010-2011 ở 2 lớp 7B, 7D, và đầu năm học 2011-2012 ở 8A, 8C, tôi thấy các
em đã có những tiến bộ rõ rệt. Trong mỗi giờ học, các em chú ý hăng say phát biểu hơn,
tích cực tham gia các hoạt động hơn, bài viết cũng khắc phục được nhiều nhược điểm
hơn và bắt đầu mạnh dạn đưa ra những thắc mắc về những điều chưa hiểu. Cuối năm học,
tôi lại làm khảo sát, kết quả thu được như sau:
Học kì II năm học: 2010 – 2011.
Lớp Số học sinh
được khảo sát
Số học sinh có hứng thú
với giờ Đọc–Hiểu văn
bản
Số học sinh có điểm trung
bình môn học kì II loại Khá-
Giỏi
Đầu HKII Cuối năm Cuối HKI Cuối năm
7B 32 15 23 9 11
7D 34 16 26 11 14
Năm học: 2011 – 2012.
Lớp Số học sinh
được khảo sát
Số học sinh có hứng thú
với giờ Đọc–Hiểu văn
bản
Số học sinh có điểm trung
bình môn học kì II loại Khá-
Giỏi
Đầu HKI Cuối năm Đầu năm HKI Cuối năm
và hiệu quả ứng dụng thực tiễn, đặc biệt là các SKKN cấp Huyện, cấp Tỉnh cho giáo viên
học hỏi, nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ.
- Tổ chức nhiều hơn các buổi gặp gỡ, nói chuyện giữa giáo viên với các nhà văn, nhà thơ,
nhà giáo ưu tú để giáo viên có cơ hội giao lưu, học hỏi, mở mang hiểu biết.
* Đối với nhà trường:
- Thường xuyên tổ chức học tập, trao đổi kinh nghiệm giảng dạy lẫn nhau, nhất là
phương pháp giảng dạy theo tinh thần đổi mới sách giáo khoa.
- Cần đầu tư thêm tài liệu tham khảo về môn Văn, máy tính, đầu chiếu để GV và HS dễ
dàng tiếp cận với tri thức mới.
- Nhà trường cũng cần tuyên truyền cho HS hiểu tầm quan trọng của tất cả các môn học,
tránh tình trạng học lệch. Có như vậy, HS mới chăm chỉ, cố gắng trong tất cả các môn, có
hứng thú học tập thật sự.
* Đối với tổ chuyên môn:
18
.
- Thay đổi hình thức họp chuyên môn, bên cạnh dự giờ, góp ý, rút kinh nghiệm, còn nên
tổ chức các hội thảo với những chuyên đề cụ thể, thiết thực.
- Phối hợp với Đoàn trường tổ chức các buổi sinh hoạt ngoại khóa sinh động, hấp dẫn, đa
dạng nhằm gây hứng thú cho HS đối với bộ môn Ngữ văn.
*
* *
Trên đây là ý kiến của bản thân tôi về một số giải pháp nhằm tạo hứng thú học Văn
cho học sinh THCS. Là một bài viết ghi lại những kinh nghiệm đã được đúc rút từ chính
thực tiễn dạy học của bản thân với mong muốn phần nào cải thiện tình trạng dạy Văn và
học Văn hiện nay, giúp học sinh ngày càng có hứng thú với môn Ngữ Văn và học Văn
được tốt hơn. Để thực hiện đề tài này, bản thân tôi đã dày công tìm tòi, nghiên cứu, khảo
sát. Tất nhiên, trong quá trình thực hiện không tránh khỏi những khó khăn, trở ngại. Được
sự tạo điều kiện của nhà trường, sự giúp đỡ hết mình của bạn bè, đồng nghiệp, đặc biệt là
của Tổ chuyên môn, tôi đã hoàn thành đề tài nghiên cứu. Tuy nhiên, bài viết vẫn không
tránh khỏi những bất cập, thiếu sót, vướng mắc. Vì vậy, bản thân tôi thành tâm mong mỏi